Tin tức sự kiện
Sản xuất vôi sạch ở Hoành Bồ

Sạch - điều chúng tôi muốn nói ở đây không phải là chất lượng của sản phẩm mà muốn đề cập đến quy trình sản xuất, công nghệ áp dụng để đảm bảo các tác động đến môi trường được giảm thiểu trong việc sản xuất vôi. Đây cũng là điều mà các cơ sở lò nung vôi thủ công khó có thể đáp ứng, nhưng lại đang được thực hiện tại Nhà máy Sản xuất vôi hóa Hương Hải (Hoành Bồ).


SX vôi sạch 2

Nhà máy sản xuất vôi hóa Hương Hải (xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ).

Dẫn chúng tôi tham quan mô hình sản xuất của Nhà máy, anh Lê Văn Phước, Trưởng Phòng Điều hành sản xuất, Nhà máy sản xuất vôi hóa Hương Hải, cho biết: “Hiện tại chúng tôi có trên 100 lao động, trong đó có hơn 20 lao động vận hành máy móc, còn lại đa phần các thiết bị vận hành theo cơ chế tự động. Nhà máy sử dụng công nghệ của Ý, đơn vị cung cấp thiết bị cũng là công ty hàng đầu trên thế giới trong lĩnh vực cung cấp công nghệ, thiết bị cho các nhà máy sản xuất vôi theo hướng công nghiệp. Hiện công suất nhà máy đạt 210 tấn/ngày/lò với các sản phẩm là vôi cục, vôi bột, vôi hydrat, cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước. Tổng vốn đầu tư của nhà máy đến thời điểm này là hơn 400 tỷ đồng”.

SX vôi sạch 3

Hệ thống tải đá vào lò khép kín giúp giảm bụi và tiếng ồn phát tán ra môi trường một cách tối đa.

Công nghệ dây truyền sản xuất của Nhà máy được phân thành các công đoạn chính như: Tiếp nhận, vận chuyển nguyên liệu; tồn trữ và rút nguyên liệu; định lượng và nung vôi; chứa, đóng bao và xuất vôi. Máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất như hệ thống xử lý đá vôi, lò nung vôi, trạm sàng và ướp lạnh vôi… đều được nhập mới 100%.

Các biện pháp giảm thiểu và xử lý bụi, khí thải được thực hiện một cách chặt chẽ. Cụ thể, nguồn nhiên liệu than hiện Nhà máy nhập khẩu từ Indonesia có lượng tro thấp dưới 10%, lượng bụi phát tán ra môi trường sau khi trải qua hệ thống lọc bụi hầu như không còn. Dây truyền công nghệ sản xuất của Nhà máy hiện có 2 lò nung (kiểu lò đứng 2 nhánh song song), khi vận hành nhiệt độ nung luôn được duy trì ở mức 1.1000C và không vượt quá 1.2000C, nên ở mức nhiệt độ này không phát thải khí NOx (các oxit nitơ là khí độc, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, thậm chí có thể gây tử vong trong điều kiện thích hợp).

Mặt khác, quá trình cháy nhiên liệu được thực hiện triệt để nhờ lượng gió nóng được cấp bổ sung từ vùng làm nguội, do đó không phát thải khí CO. Lượng khí SO2 sinh ra do quá trình đốt than lại được hấp thụ ngược lại vôi, do vậy lượng SO2 này được khử toàn bộ trong lò. Như vậy, lượng khí thải phát sinh khu vực lò nung chỉ còn CO2 và bụi. Lượng khí thải này tiếp tục được đưa qua lọc bụi, sau đó được thải ra ngoài không khí, đảm bảo nồng độ bụi trong khí thải luôn nhỏ hơn 25mg/m3 khí thải chuẩn.

Đối với chất thải rắn công nghiệp như xỉ than sẽ được tập trung thu gom, có mái che tránh nước mưa rửa trôi gây ảnh hưởng đến môi trường nước mặt, sau đó dùng cung cấp cho các đơn vị sản xuất gạch chịu lửa, gạch không nung. Bụi lắng từ hệ thống xử lý khí thải được nạo vét định kỳ và thuê Công ty Môi trường đô thị TP Hạ Long vận chuyển đến nơi quy định.

Ngoài ra, việc xử lý chống ồn cũng được đề ra từ khâu thiết kế, chế tạo và lựa chọn thiết bị đảm bảo hạn chế tiếng ồn, ở những bộ phận cần thiết lắp đặt giảm thanh. Tiếng ồn khu vực nhà máy chủ yếu phát sinh tại khu vực nhà nghiền vôi và máy nén khí. Do đó, 2 khu vực này đều được khống chế bằng tường bao che, thiết bị đảm bảo khống chế phát sinh tiếng ồn quá quy định...

SX vôi sạch 1

Khu điều hành trung tâm của Nhà máy sản xuất vôi hóa Hương Hải (xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ)

Công tác bảo vệ cảnh quan môi trường ở dự án còn gắn liền với các giải pháp xử lý và quản lý chất thải khoa học, hợp lý như tập trung quản lý chất thải rắn, nước thải sinh hoạt trước khi thải ra môi trường, xây dựng hệ thống thoát nước mưa, định hướng dòng chảy, làm hệ thống kênh mương, hố thu cặn quanh mặt bằng sân công nghiệp…

Trò chuyện với chúng tôi, ông Đinh Khắc Say, Trưởng thôn Yên Mỹ, xã Lê Lợi (Hoành Bồ), cho biết: “Nhà máy hoạt động từ năm 2015, cách nhà dân khoảng 700-1.000m. Sau khi đi vào hoạt động ổn định, bằng trực quan, tôi thấy các tác động đến môi trường đã được Nhà máy đảm bảo, hoàn toàn có thể chấp nhận được. Không khí, cảnh quan môi trường khu vực xung quanh Nhà máy khá đảm bảo, không như tại khu vực sản xuất của các lò thủ công”.

Trước những hệ lụy liên quan đến môi trường và an toàn lao động trong việc sản xuất vôi bằng lò thủ công, thực hiện quy hoạch phát triển công nghiệp vôi đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 của Bộ Xây dựng, UBND tỉnh đã xây dựng Kế hoạch 1460/KH-UBND ngày 22/3/2016 xác định lộ trình giảm dần và đến hết năm 2018 chấm dứt hoàn toàn việc sản xuất vôi bằng lò thủ công trên địa bàn tỉnh. Bởi vậy, Nhà máy sản xuất vôi hóa Hương Hải là mô hình tốt cần nhân rộng./.

Theo: baoquangninh.com.vn

 

 
Tìm hướng đi cho ngành công nghiệp hỗ trợ

Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc phát triển ngành công nghiệp nói chung và công nghiệp hỗ trợ nói riêng. Tuy nhiên, đến nay các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào lĩnh vực này còn rất thấp, thậm chí còn thấp hơn so với một số nước trong khối ASEAN.

Sản xuất khay nhựa, hộp nhựa đựng linh kiện điện tử tại Khu công nghiệp Đình Trám (Bắc Giang). Ảnh: Danh Lam/TTXVN
Sản xuất khay nhựa, hộp nhựa đựng linh kiện điện tử tại Khu công nghiệp Đình Trám (Bắc Giang). Ảnh: Danh Lam/TTXVN

Theo các chuyên gia kinh tế nhận định, nguyên nhân ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển là do cơ chế, chính sách, mục tiêu phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ chưa rõ ràng, chưa có trọng tâm, trọng điểm… nên đã kìm hãm sự tăng trưởng của ngành này ở Hà Nội nói riêng, cả nước nói chung. Để ngành công nghiệp hỗ trợ Hà Nội đủ sức tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, Hà Nội cần tập trung triển khai nhiều giải pháp theo hướng sát thực tế hơn. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư... 

Mặc dù, UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2017-2020, định hướng 2025. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2020, sẽ có 900 doanh nghiệp chuyên sâu trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ; trong đó, 40% doanh nghiệp có hệ thống sản xuất và sản phẩm đạt chuẩn quốc tế, đủ năng lực cung ứng tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia.

UBND thành phố Hà Nội sẽ tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp, kết nối doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nước ngoài. Đồng thời, thu hút, kêu gọi doanh nghiệp quốc tế đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trong việc quản lý, quản trị, phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ. Đồng thời, Hà Nội tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư để tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. UBND thành phố Hà Nội cũng sẽ kiến nghị với Chính phủ cho phép ban hành những chính sách đặc thù phù hợp, tận dụng được tiềm năng phát triển của Thủ đô.

Trong thời gian qua, đã có hàng trăm doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Hà Nội được thụ hưởng các dịch vụ trợ giúp khi tham gia Chương trình về phát triển công nghiệp hỗ trợ. Nhưng số doanh nghiệp được nhận sự trợ giúp vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn. Các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Hà Nội chưa nhận được các trợ giúp trực tiếp từ thành phố còn rất lớn. Các hoạt động trợ giúp chuyên sâu, mang lại hiệu quả cao và thiết thực chưa nhiều. Sự chuyển biến mạnh mẽ, mang tính đột phá, thay đổi về chất trong các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước còn rất ít.... 

Khi nhận định về sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ Hà Nội, ông Nguyễn Thành Minh, Giám đốc Công ty cổ phần xuất nhập khẩu dệt may Minh Thanh (quận Thanh Xuân- Hà Nội) cho biết, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng điện tử, máy móc, thiết bị, phụ tùng, phụ kiện, hàng dệt may... hàng năm đem về cả trăm tỷ USD, nhưng giá trị gia tăng rất thấp do công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển. Có thể thấy, nguyên nhân quan trọng nhất là chính sách, mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng để cung cấp cho sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh chưa rõ ràng, chưa có trọng tâm, trọng điểm.

Đồng quan điểm này, chị Lê Minh Ánh, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại da giày Minh Ánh chia sẻ, hiện nay Nhà nước đã có nhiều chính sách cởi mở tháo gỡ khó khăn trong việc hỗ trợ tiền thuê đất, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn... Nhưng những quy định tạo sự gắn kết giữa doanh nghiệp và cơ quan nhà nước vẫn còn thiếu.

Ông Nguyễn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ Hà Nội cho rằng, để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp trong nước cần chú trọng đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, tìm hướng tiếp cận các doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia để tìm hiểu yêu cầu của đối tác và “đầu ra” cho sản phẩm. Để làm được việc này, rất cần có các chương trình xúc tiến, trong đó chính quyền vừa là cầu nối, vừa là cơ quan giám sát việc thực hiện quá trình kết nối...

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ Hà Nội, Việt Nam hiện chỉ có khoảng 0,3% trong tổng số gần 500.000 doanh nghiệp tham gia vào sản xuất chế tạo cho ngành công nghiệp hỗ trợ và cũng chỉ dừng ở gia công chế tạo các sản phẩm đơn giản, giá trị gia tăng thấp... Đến nay, tỷ lệ nội địa hóa của ngành chế tạo ô tô chỉ đạt 5-20%; ngành điện tử 5-10%; ngành da giày khoảng 30%... 

Trong khi đó, phát triển sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được xem là chìa khóa để phát triển sản xuất công nghiệp cho nên Hà Nội cần đưa ra các cơ chế chính sách sát với thực tiễn, có trọng tâm, trọng điểm và cụ thể rõ ràng hơn trong thời gian tới để trợ giúp nhiều hơn cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nói riêng và ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung phát triển. Bên cạnh đó, để có thể nâng tầm doanh nghiệp cũng như ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, thì việc hỗ trợ tài chính trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ là yếu tố vô cùng quan trọng.

Về phía các doanh nghiệp phụ trợ muốn trở thành nhà cung ứng cho các doanh nghiệp nước ngoài thì các doanh nghiệp Việt Nam phải bảo đảm sự đầu tư về công nghệ, cũng như chất lượng nguồn nhân lực. Để đáp ứng được yêu cầu của phía đối tác nước ngoài, Nhà nước, các hiệp hội và bản thân doanh nghiệp cần chú ý nhiều hơn nữa đến vấn đề này. Doanh nghiệp “nội” cần chú trọng đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, tìm hướng tiếp cận các doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia để tìm hiểu yêu cầu của đối tác và “đầu ra” cho sản phẩm...

Nguồn: Báo Quảng Ninh

 

 
Sở Công Thương Quảng Ninh thẩm định chương trình, đề án khuyến công địa phương năm 2018

Sáng ngày 30/5/2018, Hội đồng thẩm định đề án khuyến công - Sở Công Thươngđã phối hợp với TT Khuyến công và Tư vấn PTCN tổ chức họp thẩm định các đề án khuyến công địa phương năm 2018. Cuộc họp do ông Phạm Quang Thái – Phó Giám đốc Sở Công thương, Chủ tịch HĐTĐ chủ trì. Tham gia cuộc họp có đại diện Sở Tài chính, các thành viên trong HĐTĐ và chủ các đề án đăng ký hỗ trợ khuyến công năm 2018.


Tại buổi làm việc, Hội đồng đã tiến hành thẩm định 18 đề án đề nghị được hỗ trợ kinh phí từ nguồn kinh phí khuyến công địa phương năm 2018. Sau khi nghe chủ đề án báo cáo nội dung đề án cùng ý kiến của đại diện các phòng Kinh tế, Kinh tế và Hạ tầng, Hội đồng thẩm định đã có ý kiến tham gia trực tiếp với từng đề án và nhất trí đề xuất hỗ trợ kinh phí khuyến công cho 16 đề án . Trong đó, tập trung vào các nội dung: Nhóm 10 đề án do cơ sở công nghiệp nông thôn thực hiện, với mức đề xuất hỗ trợ là 880 triệu đồng và nhóm các đề án do Trung tâm Khuyến công và Tư vấn PTCN thực hiện,với mức đề xuất hỗ trợ là 557 triệu đồng.

Hội đồng thẩm định cũng yêu cầu các chủ đề án nhanh chóng hoàn chỉnh đề án trước khi Sở Công Thương trình Sở Tài chính xem xét, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phân khai chi tiết kinh phí thực hiện.

TTKC&TVPTCN

 
Lấy ý kiến đóng góp các văn bản quy phạm pháp luật về khuyến công

Đó là chủ đề và nội dung của buổi Hội thảo do Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) vừa phối hợp với Sở Công Thương và Trung tâm Khuyến công TP Đà Nẵng tổ chức vào ngày 04/5/2018. Tới dự và chủ trì Hội thảo có ông Ngô Quang Trung - Cục trưởng Cục Công Thương địa phương và đại diện lãnh đạo của hơn 30 Sở Công Thương, Trung tâm Khuyến công các tỉnh, thành phố trong cả nước.


Lay y kien VB Khuyen cong

Toàn cảnh buổi Hội thảo.

 Ông Ngô Quang Trung - Cục trưởng Cục Công Thương địa phương chủ trì Hội thảo đã thông báo về tình hình thực hiện chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Công Thương trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2018 và chương trình công tác của Cục Công Thương địa phương vừa qua. Đến nay, Cục Công Thương địa phương đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ban, ngành, địa phương hoàn thành Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 26/2014/TT-BCT ngày 28/8/2014 về quy định tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu và Thông tư số 36/2013/TT-BCT ngày 27/12/2013 quy định về việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiên và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia. 

Tại Hội thảo, đã có nhiều ý kiến đóng góp rất thiết thực không chỉ góp phần hoàn thiện Dự thảo, mà còn chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, những điểm cần bổ sung trong hai Thông tư nêu trên cho phù hợp hơn với tình hình thực tế tại các địa phương. Nhiều ý kiến của các đại biểu cho rằng, tại Điều 3 của Thông tư 36 quy định về một số dạng đề án, nhiệm vụ khuyến công quốc gia và cách thức triển khai thực hiện trong việc hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp thì nên thực hiện theo Luật Đấu thầu hay xét chọn hồ sơ. Hay tại Thông tư số 26, nhiều đại biểu nhấn mạnh cần phải sửa đổi khoản 2, Điều 3 về khái niệm Bộ sản phẩm; Bổ sung khoản 3 và khoản 4 Điều 3 về “Hồ sơ điện tử” và “Lập hồ sơ điện tử”; Sửa đổi điểm a, b của khoản 4 Điều 12… 

Bà Phan Thị Khánh Duyên - Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Bình Dương cho rằng, đối với sửa đổi và bổ sung Thông tư 26 về việc tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu cần phải quy định rõ, cụ thể về thời gian nộp hồ sơ bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn cấp khu vực cũng như cấp Quốc gia theo định kỳ. Qua đó, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương lên kế hoạch tổ chức bình chọn ở cấp huyện và cấp tỉnh để thực hiện tốt việc bình chọn ở cấp khu vực và Quốc gia. Ngoài ra, Cục Công Thương địa phương cũng cần xem xét sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về khuyến công sao cho phù hợp với quy định của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. 

Kết luận tại Hội thảo, ông Ngô Quang Trung đã ghi nhận những ý kiến đóng góp của các đại biểu vào Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về khuyến công. Thông qua Hội thảo lần này, Ban soạn thảo, sửa đổi sẽ tiếp tục tổng hợp và nghiên cứu thêm các ý kiến của các đơn vị và trình Bộ trưởng Bộ Công Thương trong thời gian tới.

Nguồn: http://www.congnghieptieudung.vn/

 
Nhiều chính sách mới về hỗ trợ phát triển làng nghề

Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó, quy định một số nội dung, chính sách phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề.


 

Ho tro lang nghe

Nghề làm nhang ở Dĩ An, Bình Dương

 

Theo đó, các làng nghề, làng nghề truyền thống được hưởng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn quy định tại Nghị định này, ngoài ra còn được hưởng các chính sách từ ngân sách địa phương như hỗ trợ kinh phí trực tiếp quy định tại quyết định công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống; hình thức, định mức hỗ trợ cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định.

 

Hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các làng nghề như đầu tư, cải tạo, nâng cấp và hoàn thiện đường giao thông, điện, nước sạch; hệ thống tiêu, thoát nước; xây dựng trung tâm, điểm bán hàng và giới thiệu sản phẩm làng nghề. 

 

Ưu tiên hỗ trợ làng nghề có nguy cơ mai một, thất truyền; làng nghề của đồng bào dân tộc thiểu số; làng nghề có thị trường tiêu thụ tốt; làng nghề gắn với phát triển du lịch và xây dựng nông thôn mới; làng nghề tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương; làng nghề gắn với việc bảo tồn, phát triển giá trị văn hóa thông qua các nghề truyền thống. 

 

Ngoài các chính sách quy định tại Nghị định này, làng nghề được khuyến khích phát triển được hưởng các chính sách theo quy định tại Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường./.

Nguồn: http://www.congnghieptieudung.vn/

 

 
Hoạt động khuyến công: Hướng tới hỗ trợ trọng tâm, trọng điểm

Chương trình khuyến công quốc gia sẽ tăng cường hỗ trợ có trọng tâm trọng điểm, tập trung vào các lĩnh vực, ngành nghề có lợi thế ở địa phương nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt động, đồng thời góp sức cùng các địa phương hoàn thành kế hoạch kinh tế-xã hội giai đoạn đến năm 2020.


Hoạt động khuyến công trên cả nước luôn bám sát mục tiêu, kế hoạch của chương trình khuyến công từng giai đoạn. Việc triển khai các chương trình, đề án tại các địa phương đã hỗ trợ cho các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) đầu tư máy móc thiết bị tiên tiến để mở rộng sản xuất, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu và năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

HĐKC huong den trong tam

Ngành nghề được hỗ trợ đều gắn trực tiếp với nguồn nguyên liệu, lao động tại địa phương, nên góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng cao được năng lực cạnh tranh của sản phẩm; hoạt động đào tạo nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp không những giúp cho cơ sở CNNT chủ động về nguồn lao động có chất lượng mà còn tạo việc làm, thu nhập cho nhiều lao động nông thôn… Việc triển khai thực hiện hiệu quả các đề án khuyến công được đánh giá đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế - lao động ở nông thôn, phù hợp với hướng chuyển dịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất đối với việc triển khai các hoạt động khuyến công hiện nay là các đối tượng thụ hưởng hỗ trợ đa phần là cơ sở sản xuất và doanh nghiệp siêu nhỏ, hoạt động manh mún, tiềm lực tài chính hạn chế nên rất khó khăn trong việc đổi mới, ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến, hiện đại, công nghệ cao vào sản xuất. Có nhiều sản phẩm của các cơ sở CNNT làm ra chưa theo kịp với nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng; thị trường tiêu thụ chưa chủ động, nhất là xuất khẩu. Số lượng cơ sở CNNT nhiều, nguồn kinh phí hỗ trợ còn hạn chế nên cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác khuyến công. Bên cạnh đó, các văn bản chính sách trong lĩnh vực khuyến công mặc dù đã được bổ sung, sửa đổi vẫn chưa theo kịp với yêu cầu thực tế. Công tác khảo sát nhu cầu cũng như tiếp cận các cơ sở CNNT còn hạn chế do đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến công thiếu.

Thực hiện Nghị quyết số 35/2016/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, trong đó Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động khuyến công để tạo điều kiện, hỗ trợ cho các cơ sở CNNT mở rộng, phát triển sản xuất, kinh doanh hiệu quả. Theo đó, trên cơ sở các ngành nghề được hưởng hỗ trợ quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP về khuyến công, các địa phương xây dựng, đăng ký đề án khuyến công theo hướng hỗ trợ có trọng tâm trọng điểm nhằm tạo bước chuyển rõ rệt cho sự phát triển. Tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành phố và liên kết giữa các khu vực để trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động khuyến công nhằm phát huy được thế mạnh của mỗi địa phương và khai thác hiệu quả tiềm năng lợi thế của cả vùng.

Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động khuyến công, Cục Công Thương địa phương cùng với các địa phương đã, đang triển khai xây dựng và tổ chức thí điểm một số đề án khuyến công quốc gia mang tính trọng tâm, trọng điểm, có sự lan tỏa lớn. Cùng với tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành phố và liên kết giữa các khu vực, tận dụng tiềm năng, lợi thế của địa phương, vùng, nhằm tạo ra những phát triển đột phá mới, đóng góp hiệu quả vào việc hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Chính phủ đã đề ra.

Nguồn: http://arid.gov.vn/

 
Hướng dẫn mới về lập, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công

Ngày 28/3/2018, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hànhThông tư số 28/2018/TT-BTC hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công theo quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21/5/2012 của Chính phủ về khuyến công. 

 


Theo đó, đối tượng áp dụng của Thông tư bao gồm các tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại huyện, thị xã, thị trấn, xã và các phường thuộc thành phố loại 2, loại 3, các phường thuộc thành phố loại 1 được chuyển đổi từ xã chưa quá 05 năm, bao gồm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn. Tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia công tác quản lý, thực hiện các hoạt động dịch vụ khuyến công...

Nội dung chi hoạt động khuyến công bao gồm: Chi cho đào tạo nghề, truyền nghề ngắn hạn, gắn lý thuyết với thực hành theo nhu cầu của các cơ sở công nghiệp nông thôn; đào tạo thợ giỏi, nghệ nhân tiểu thủ công nghiệp; hỗ trợ hoạt động tư vấn, tập huấn, đào tạo, hội thảo, diễn đàn; đào tạo khởi sự doanh nghiệp; thành lập doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nông thôn; mở rộng thị trường tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nông thôn; chuyển giao công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp…

Mức chi chung của hoạt động biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo về khuyến công và giới thiệu, hướng dẫn kỹ thuật, phổ biến kiến thức, nâng cao năng lực áp dụng sản xuất sạch hơn áp dụng theo Thông tư số 123/2009/TT-BTC ngày 17/6/2009 của Bộ Tài chính; Chi tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề áp dụng theo Thông tư số 152/2016/TT-BTC ngày 17/10/2016 của Bộ Tài chính; Chi tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn và diễn đàn áp dụng theo Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 của Bộ Tài chính…

Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 11/5/2018 và thay thế Thông tư Liên tịch số 26/2014/TTLT-BTC-BCT ngày 18/02/2014 của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương hướng dẫn trình tự lập, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công quốc gia và kinh phí khuyến công địa phương.

TTKC&TVPTCN Quảng Ninh

 
Quảng Ninh- Tiếp sức cho doanh nghiệp công nghiệp nông thôn

Với định hướng ưu tiên nguồn vốn cho thực hiện nội dung đổi mới và ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất, Quảng Ninh đã và đang giúp doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn (CNNT) cải thiện đáng kể năng lực sản xuất và tạo thêm việc làm cho người lao động.

 

Ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất gạch không nung

Trong 14 đề án Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ninh (trung tâm) thực hiện năm 2017, có tới 10 đề án xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật và ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến vào sản xuất. Ghi nhận chung từ đối tượng thụ hưởng cho thấy, các đề án không chỉ hoàn thành đúng tiến độ, nội dung theo hợp đồng mà còn giúp cơ sở hoạt động hiệu quả hơn, doanh thu và lợi nhuận tăng.

Tiêu biểu, Đề án "Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất gạch không nung bằng bê tông xốp" được hỗ trợ triển khai tại Công ty CP liên doanh Hạ Long 135. Thực hiện đề án, doanh nghiệp đã đầu tư 5,5 tỷ đồng xây dựng mới các công trình nhà xưởng, nhà kho, mua sắm lắp đặt toàn bộ máy móc, thiết bị đồng bộ hiện đại cho dây chuyền sản xuất khép kín. Sau khi máy móc, thiết bị vận hành ổn định đã sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tốt, đạt tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam - TCXDVN 6477-2011 áp dụng cho gạch bê tông. 

Theo đại diện Công ty CP liên doanh Hạ Long 135, sau rất nhiều nỗ lực thực hiện, đề án đã hoàn thành đúng kế hoạch. Doanh nghiệp cũng đã đưa ra thị trường dòng sản phẩm gạch không nung với các tính năng tốt, giá thành cạnh tranh. Mặc dù nguồn kinh phí khuyến công hỗ trợ không lớn (400 triệu đồng), song đã khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới, ứng dụng khoa học - công nghệ trong quá trình sản xuất, phục vụ nhu cầu đa dạng của thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm.

Bên cạnh các đề án lớn, khuyến công Quảng Ninh đã triển khai các đề án có quy mô nhỏ, phù hợp với năng lực các cơ sở tại khu vực miền núi, hải đảo. Cụ thể, tại huyện đảo Cô Tô, trung tâm đã hỗ trợ hộ kinh doanh Bùi Văn Chiến thực hiện Đề án "Đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất đá lạnh công nghiệp phục vụ đánh bắt hải sản". Đề án có tổng kinh phí thực hiện 775 triệu đồng, kinh phí khuyến công địa phương hỗ trợ 100 triệu đồng cho hạng mục đầu tư cụm máy nén giàn ngưng. Với thiết bị này, cơ sở có thể chủ động trong việc sản xuất, có thời gian nghỉ bảo dưỡng, thay thế các chi tiết nhanh hỏng. Đề án "Đầu tư máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ sấy nông sản/dược liệu" thực hiện tại huyện miền núi Bình Liêu do Hợp tác xã Phát triển xanh thụ hưởng cũng là điểm nhấn của khuyến công Quảng Ninh năm vừa qua.

Có thể thấy, sự đồng hành của công tác khuyến công đã không chỉ giúp giảm gánh nặng kinh phí mà còn tiếp sức cho các doanh nghiệp, cơ sở trên địa bàn tỉnh đầu tư mở rộng sản xuất. Đồng thời góp sức thúc đẩy ngành CNNT của tỉnh phát triển.

Năm 2018, khuyến công Quảng Ninh tiếp tục ưu tiên nguồn vốn cho nội dung đổi mới và ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất. Trung tâm đã xây dựng kế hoạch kinh phí khuyến công năm 2018 với tổng kinh phí hỗ trợ dự kiến 2,8 tỷ đồng, trong đó nguồn kinh phí khuyến công quốc gia 800 triệu đồng hỗ trợ cho 4 đề án; kinh phí khuyến công địa phương 2 tỷ đồng hỗ trợ cho 10 - 15 đề án.

Năm 2017, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh được giao thực hiên 14 đề án, trong đó có 10 đề án xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật và ứng dụng máy móc, thiết bị hiện đại vào sản xuất với kinh phí thực hiện 1,52 tỷ đồng.

Sưu tầm

 
Khuyến công Hà Nội: Mục tiêu giá trị sản xuất CNNT 2018 tăng 10%

Năm 2017, Trung tâm khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Hà Nội (TTKC) là nhân tố góp phần tích cực trong việc truyền nghề, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nâng cao năng lực quản lý cho các doanh nghiệp, cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) trên địa bàn.


KC Ha Noi

Một gian hàng trưng bày sản phẩm tại Hội chợ quốc tế quà tặng hàng TCMN Hà Nội 2017

Cụ thể, số lao động CNNT năm 2017 tăng 4,09% (tương đương 417.163 người). Trong đó, lao động được tạo việc làm mới qua hoạt động khuyến công đạt khoảng 10.000 người, với thu nhập bình quân đạt 47,1 triệu đồng/năm (tăng 13,07%); hỗ trợ 500 doanh nghiệp, cơ sở CNNT tạo ra 250 mẫu sản phẩm mới.

 Trong năm, TTKC cũng đã tổ chức 40 lớp truyền nghề, đào tạo nghề cho 1.400 lao động khu vực nông thôn tập trung vào ngành nghề thủ công mỹ nghệ như: Mây tre đan, sơn mài, khảm trai, thêu ren, gốm sứ... Kết thúc khóa đào tạo, các học viên đã có tay nghề cơ bản, tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Đặc biệt, các lớp học nghề mây tre đan thực hiện tại huyện Chương Mỹ, Ba Vì, Thạch Thất… đạt trên 85% học viên có việc làm; dát vàng quỳ, sơn mài, khảm trai tại huyện Gia Lâm, Thường Tín, Phú Xuyên… đạt 60% - 80% học viên có việc làm với thu nhập ổn định. Cùng với đó, TTKC cũng dành nguồn lực hỗ trợ 12 cơ sở CNNT đầu tư ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất. Các dự án sau đầu tư đã phát huy tốt hiệu quả, giúp doanh nghiệp, cơ sở CNNT nâng cao năng suất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

 Công tác khuyến công 2017 cũng góp phần gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp Hà Nội 7,3% so với năm 2016. Trong đó, giá trị sản xuất CNNT tăng 11%; giá trị sản xuất làng nghề ước tăng 33,33%; kim ngạch xuất khẩu nhóm ngành thủ công mỹ nghệ tăng 5,5% so với năm 2016.

Các hoạt động hỗ trợ cơ sở sản xuất làng nghề quảng bá giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường tiêu thụ được đặc biệt coi trọng. Nhờ biết tận dụng lợi thế, nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất ngành Thủ công mỹ nghệ trên địa bàn đã được hỗ trợ thuê tư vấn thiết kế mẫu sản phẩm mới, góp phần đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường. Xác định hoạt động xuất khẩu là hướng đi chủ đạo của ngành Thủ công mỹ nghệ Thành phố, nên TTKC đã hỗ trợ các DN tham gia nhiều hội chợ trong và ngoài nước nhằm đẩy mạnh xúc tiến thương mại như: Hội chợ quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội năm 2017, Hội chợ quốc tế tại Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc)… Tham gia hội chợ, các doanh nghiệp không chỉ có cơ hội quảng bá sản phẩm, tìm hiểu nhu cầu của thị trường để nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ mà nhiều doanh nghiệp còn ký kết được các biên bản ghi nhớ, thỏa thuận hợp tác và hợp đồng xuất khẩu trực tiếp.

 Nhằm tiếp tục thực hiện nghiêm túc và hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình khuyến công thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 – 2020, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành theo hướng công nghiệp - nông nghiệp -dịch vụ, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội cho khu vực nông thôn..., năm 2018, Hà Nội đã và đang triển khai đồng bộ các chương trình khuyến công với mục tiêu giá trị sản xuất CNNT tăng 10% so với năm 2017 (tương đương 98.000 tỷ đồng). Trong đó, giá trị sản xuất làng nghề tăng 10%-12% (đạt 22.000 tỷ đồng); kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng thủ công mỹ nghệ tăng 6,9% (đạt 200 triệu USD). Từ chương trình khuyến công, Hà Nội sẽ có 450 - 500 lượt cơ sở sản xuất CNNT, làng nghề được hỗ trợ; tạo thêm khoảng 10.000 việc làm cho lao động ở khu vực nông thôn với thu nhập bình quân khoảng 51 triệu đồng/năm. Đồng thời, tạo ra khoảng 300 mẫu sản phẩm có thiết kế mới trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ…

Nguồn: http://www.congnghieptieudung.vn/

 
Hoạt động Công Thương địa phương: Một năm nhìn lại

Năm 2017 là năm bản lề trong công tác thay đổi cơ cấu tổ chức của Cục Công Thương địa phương (CTĐP). Nhìn lại một năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, song, hoạt động Công Thương địa phương đã đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận.


 

 

Hoat dong cong thuong 1 nam nhin lai 1

Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng thăm gian hàng tại Hội chợ hàng CNNT 2017

Ổn định tổ chức

Triển khai nhiệm vụ của Chính phủ về tái cơ cấu, ngày 02/10/2017 Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 3768/QĐ-BCT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục CTĐP; theo đó, Cục CTĐP là đơn vị thực hiện chức năng tham mưu quản lý nhà nước đối với lĩnh vực: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN); khuyến công (KC); cụm công nghiệp (CCN); doanh nghiệp (DN) công nghiệp nhỏ và vừa; tổng hợp chung tình hình phát triển công nghiệp, thương mại tại các địa phương và trên phạm vi cả nước; tổ chức, quản lý hoạt động sự nghiệp dịch vụ công thuộc lĩnh vực, phạm vi quản lý của Cục. 

Mặc dù phạm vi các lĩnh vực quản lý rộng hơn, chức năng nhiệm vụ được giao nặng nề hơn hơn, trong khi biên chế nhân sự còn thiếu, nhưng được sự quan tâm của Chính phủ, sự chỉ đạo quyết liệt của Lãnh đạo Bộ Công Thương, bằng những giải pháp đồng bộ, mạnh mẽ nhằm tháo gỡ khó khăn, cùng với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, Cục CTĐP tiếp tục ổn định tổ chức với cơ cấu rút gọn còn 05 đơn vị hành chính và 01 đơn vị sự nghiệp trực thuộc, đồng thời, phối hợp chỉ đạo các đơn vị liên quan hoàn thành tốt nhiệm vụ trên các lĩnh vực được giao. Nhờ vậy, công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CN - TTCN, khuyến công, CCN, DN công nghiệp nhỏ và vừa của Cục vẫn được triển khai theo đúng định hướng, đóng góp không nhỏ vào thành tích chung trong năm 2017 của Bộ Công Thương. 

Những điểm sáng trong hoạt động Công Thương địa phương

“Điểm sáng” đầu tiên trong năm 2017 phải kể đến đó là công tác khuyến công. Trong năm qua, kinh phí khuyến công Quốc gia được giao là 111,350 tỷ đồng/278 đề án, kết thúc năm, Cục CTĐP đã triển khai ký hợp đồng và giao nhiệm vụ thực hiện 111,350 tỷ đồng cho 278 đề án, đạt 100% kinh phí đã giao. Các đề án khuyến công được triển khai thực hiện phù hợp với quy hoạch và chiến lược phát triển của ngành, lợi thế của từng địa phương; tổ chức thực hiện sử dụng nguồn kinh phí khuyến công quốc gia đúng mục đích, đúng chế độ và đạt hiệu quả cao đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế - lao động ở nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công tác khuyến công từ trung ương đến các địa phương đều bám sát các DN, cơ sở sản xuất CNNT để tháo gỡ kịp thời những khó khăn và triển khai các nội dung trương trình phù hợp với từng đơn vị. Vì vậy, tại các Hội nghị Khuyến công vùng diễn ra trong năm 2017, hầu hết các địa phương đều khẳng định: Cơ bản các đề án Khuyến công đã bám sát mục tiêu, kế hoạch của chương trình Khuyến công quốc gia, góp phần tích cực hỗ trợ và phát triển DN. Chương trình cũng ngày càng thu hút được nhiều sự quan tâm của các DN, cơ sở CNNT, đặc biệt là các cơ sở sản xuất nhỏ ở những vùng kinh tế còn khó khăn.

Hoat dong cong thuong 1 nam nhin lai 2

Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh thăm gian hàng tại Hội chợ sản phẩm CNNT tiêu biểu khu vực phía Bắc. 

Không chỉ sâu sát việc triển khai các đề án, Cục CTĐP còn phối hợp tổ chức thành công các Hội nghị Công Thương; Hội nghị công tác Khuyến công; Hội chợ - Triển lãm hàng CNNT tiêu biểu tại các tỉnh Thừa Thiên – Huế, TP. Hồ Chí Minh và Phú Thọ; Hội thảo “Phát triển sản phẩm CNNT tiêu biểu – cơ hội từ ASEAN”.... Đây được đánh giá là những hoạt động quan trọng, nhất là các Hội chợ - Triển lãm, bởi thông qua các Hội chợ, các tổ chức, cá nhân có cơ hội quảng bá các sản phẩm CNNT tiêu biểu, tạo mối liên kết, trao đổi hàng hóa, thúc đẩy đầu tư, đẩy mạnh tiêu thụ hàng Việt Nam. Đồng thời, tạo điều kiện tốt để phát huy điểm mạnh của mỗi DN, mỗi địa phương và cả khu vực trong phát triển CN - TTCN, thương mại và dịch vụ nhằm góp phần phát triển thương mại, dịch vụ của cả nước.

Cũng trong năm qua, bên cạnh các hoạt động sôi nổi của khuyến công thì công tác theo dõi về Công Thương địa phương; quản lý CCN; phát triển CN – TTCN và doanh nghiệp… cũng đạt được những kết quả tốt. Việc hướng dẫn, theo dõi, quản lý sự phát triển của các CCN đã được thực hiện đảm bảo chất lượng, tiến độ; xử lý kịp thời kiến nghị, vướng mắc của địa phương liên quan đến các đề án hỗ trợ CCN. Công tác theo dõi, thu thập, cập nhật thông tin, tổng hợp các báo cáo về tình hình CTĐP cũng được thực hiện kịp thời và duy trì tốt với chất lượng ngày càng được nâng cao. Qua đó, phát huy được vai trò là đơn vị đầu mối giúp Lãnh đạo Bộ triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Đáng chú ý là công tác phát triển CN-TTCN, làng nghề trên địa bàn nông thôn được triển khai hiệu quả, trong đó có việc tổ chức bình chọn và tôn vinh 102/171 sản phẩm, bộ sản phẩm CNNT tiêu biểu cấp quốc gia, đã góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa nông thôn. 

Để hoạt động Công Thương địa phương ngày càng hiệu quả

Hoat dong cong thuong 1 nam nhin lai 3

Công tác phát triển CN – TTCN, làng nghề triển khai có hiệu quả góp phần đẩy mạnh CNH nông thôn 

Phát huy thành quả đạt được, bước sang năm 2018, Cục CTĐP đã quán triệt các đơn vị phải bám sát chương trình công tác và kế hoạch, chủ động phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan để thực hiện tốt nhiệm vụ Cục được giao. Tiến độ công việc phải được rà soát thường xuyên để kịp thời giải quyết những khó khăn vướng mắc, không để công việc tồn đọng, chậm tiến độ. Đặc biệt, việc xây dựng kế hoạch KC năm 2018, phải hướng tới mục tiêu tạo sự lan tỏa lớn, tận dụng được tiềm năng, lợi thế của địa phương, vùng. Các đề án cần tập trung vào các nội dung như: Hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật; hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị, công nghệ tiên tiến; hỗ trợ các hoạt động tư vấn nhằm nâng cao năng lực quản lý sản xuất - tài chính - kế toán - nhân lực và năng lực quản lý DN; hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường tại các CCN… Cùng với đó, Cục đã yêu cầu các Trung tâm KC phải tập trung bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ làm công tác KC ở cấp tỉnh, huyện để đáp ứng được yêu cầu công việc.

Có thể thấy, hoạt động Công Thương tại các địa phương thời gian qua đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển KT-XH chung của mỗi tỉnh thành; Đặc biệt là hoạt động khuyến công, được đánh giá là một trong những chương trình kinh tế đạt hiệu quả cao, góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển CNNT. Với nền tảng đã xây dựng được, tin tưởng rằng các hoạt động Công Thương địa phương sẽ ngày càng đi vào chiều sâu, có sự lan tỏa rộng hơn, góp phần thúc đẩy nhanh hơn quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các địa phương theo hướng hiện đại hóa CNNT./.

Nguồn: http://www.congnghieptieudung.vn/

 

 
Khuyến công Quảng Ninh: Tích cực đồng hành cùng chương trình xây dựng nông thôn mới

Nhằm góp phần hỗ trợ các địa phương trên địa bàn tỉnh đạt chuẩn các tiêu chí nông thôn mới theo Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, những năm gần đây và đặc biệt trong năm 2017, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh đã từng bước giúp nhiều xã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động theo hướng hiện đại hóa công nghiệp, nông thôn.


Dao tao moc soi

Khuyến công Quảng Ninh tổ chức lớp dạy móc sợi

Quảng Ninh là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng trong bối cảnh kinh tế hội nhập và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một. Nhận thức được căn nguyên của vấn đề là do chất lượng các sản phẩm của làng nghề chưa cao, mẫu mã chưa đẹp và vấn sử dụng phương thức lao động thủ công là chính…, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh đã thực hiện một loạt những dự án để tháo gỡ những khó khăn đó. Trước hết, với quan điểm lấy con người là trọng tâm, Trung tâm đã ưu tiên thực hiện các đề án đào tạo nghề cho người lao động, du nhập nghề mới về địa phương nhằm tạo ra một đội ngũ lao động có tay nghề, có ý thức lao động chuyên nghiệp. Hơn thế nữa, để đảm bảo cho người lao động có việc làm sau khi đào tạo, Trung tâm đã tích cực khảo sát, nắm bắt nhu cầu và liên hệ tuyển dụng lao động tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong tỉnh. Qua đó, tỷ lệ lao động được qua đào tạo và có việc làm tăng lên, tỷ lệ lao động làm nông nghiệp giảm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm nghèo (đảm bảo các tiêu chí 10,11,12, 14 trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới).

Sau khi đội ngũ lao động đã có tay nghề và tính kỷ luật, Trung tâm đã thực hiện các đề án khôi phục làng nghề như: Liên kết với các doanh nghiệp để hỗ trợ về nguyên liệu và đầu ra cho sản phẩm của làng nghề; Đưa sản phẩm của làng nghề tới các hội chợ, triển lãm… Đặc biệt, Trung tâm đã thực hiện tốt chức năng định hướng trong việc lựa chọn khôi phục, phát triển ngành nghề có tiềm năng và phù hợp với đời sống hiện đại. Nhờ đó, nhiều làng nghề truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một đã được khôi phục và phát triển. Điển hình là làng nghề làm gốm sứ thủ công mỹ nghệ ở Trạo Hà (huyện Đông Triều), làng nghề đóng mới và sửa chữa tàu thuyền Hà An, làng nghề đan lưới và sản xuất ngư cụ phục vụ đánh bắt hải sản tại các xã Hoàng Tân, Nam Hòa (huyện Yên Hưng)…

Bên cạnh việc đào tạo nghề và khôi phục làng nghề trên địa bàn tỉnh, Trung tâm đã sử dụng một phần nguồn kinh phí khuyến công hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh khu vực nông thôn tại các huyện miền núi, hải đảo xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới, máy móc thiết bị hiện đại vào sản xuất. Qua đó, đã không chỉ tạo động lực cho các doanh nghiệp phát triển mà còn từng bước hiện đại hóa ngành công nghiệp nông thôn tỉnh nhà. Cụ thể, trong năm 2017, Trung tâm đã thực hiện được 08 đề án tại các huyện miền núi, hải đảo với tổng kinh phí hỗ trợ 720 triệu đồng. Trong đó, nổi bật tại huyện đảo Cô Tô có đề án “Đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất đá lạnh công nghiệp phục vụ đánh bắt hải sản” do Hộ kinh doanh Bùi Văn Chiến (xã Đồng Tiến) thực hiện. Đề án có tổng kinh phí đầu tư 775 triệu đồng, kinh phí khuyến công địa phương hỗ trợ 100 triệu đồng cho hạng mục đầu tư cụm máy nén giàn ngưng; Tại huyện Bình Liêu có đề án “Đầu tư máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ sấy nông sản/ dược liệu” do HTX Phát triển xanh thực hiện.

Đánh giá về tính hiệu quả của hoạt động khuyến công đối với quá trình xây dựng nông thôn mới, ông Nguyễn Mạnh Hà – Giám đốc Sở Công Thương Quảng Ninh nhận định: Công tác khuyến công của tỉnh trong những năm qua đã tạo được những kết quả rất tích cực. Theo đó, quy mô các doanh nghiệp, hộ sản xuất công nghiệp ở nhiều làng nghề, khu vực nông thôn ngày càng được cải thiện; Số lượng lao động đã qua đào tạo tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm… Điều đó đã góp phần tạo nên một diện mạo tươi sáng cho khu vực nông thôn tỉnh nhà.

Để hoạt động khuyến công tỉnh Quảng Ninh ngày càng đóng góp nhiều hơn nữa cho các địa phương trong việc hoàn thành các chỉ tiêu trong xây dựng nông thôn mới, từ nay đến năm 2020, Sở Công Thương, Trung Tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh sẽ tiếp tục tập trung hỗ trợ vào lĩnh vực như: Truyền nghề, đào tạo nghề cho lao động địa phương tại các làng nghề; Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; Quảng bá, giới thiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề. Đặc biệt, Khuyến công Quảng Ninh sẽ lựa chọn các cơ sở công nghiệp nông thôn tiềm năng làm nòng cốt để phát triển sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; Đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp, đổi mới công nghệ thiết bị, xử lý ô nhiễm môi trường; Tạo việc làm cho khoảng 1.500 – 2.000 lao động nông thôn. 

Có thể khẳng định, nguồn kinh phí khuyến công đã thực sự mang lại nhiều lợi ích thiết thực và là nguồn cổ vũ, khích lệ, động viên các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất mở rộng quy mô, phát triển sản xuất, đóng góp tích cực vào công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh. Tin tưởng rằng, với sự quan tâm, hỗ trợ của Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương), UBND tỉnh Quảng Ninh, các sở, ban, ngành thì những đề án khuyến công trong năm 2018 và các năm tiếp theo sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả, góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ xây dựng nông thôn mới tại địa phương.

TTKC&TVPTCN

 
Quản lý, phát triển cụm công nghiệp hiệu quả - Thúc đẩy công nghiệp nông thôn phát triển

Tính đến hết năm 2016, cả nước đã thành lập 736 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích 22.317 ha, trong đó có 621 CCN (tổng diện tích trên 19.536 ha) đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, thu hút 10.680 dự án đầu tư sản xuất kinh doanh với tổng vốn đăng ký 137.568 tỷ đồng; giải quyết việc làm cho 537.172 lao động.


Cum CN


Thời gian qua, từ sau khi Quy chế quản lý CCN được ban hành (theo Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009), việc quản lý CCN đã được quy định thống nhất, từ công tác quy hoạch, thành lập, đầu tư xây dựng hạ tầng và quản lý hoạt động. Bên cạnh đó, mặc dù hỗ trợ của ngân sách trung ương cho các CCN chưa nhiều, nhưng bước đầu đã góp phần tích cực cùng ngân sách địa phương hỗ trợ các chủ đầu tư tháo gỡ khó khăn về vốn để đầu tư xây dựng hạ tầng CCN cũng như phát triển sản xuất kinh doanh; góp phần thu hút đầu tư, tăng tỷ lệ lấp đầy, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn cả nước.

Tuy nhiên, theo đánh giá chất lượng công tác quy hoạch CCN chưa cao, khả năng dự báo, tính toán nhu cầu quy hoạch và khả năng đáp ứng các nguồn lực để thực hiện quy hoạch chưa sát thực tế, phù hợp thực tiễn ở địa phương. Việc triển khai quy hoạch, đầu tư xây dựng hạ tầng CCN nhìn chung còn chậm, gặp nhiều khó khăn. Số CCN đi vào hoạt động, thu hút các dự án đầu tư mới đạt 42,3% so với trong quy hoạch (621/1.467 cụm). Vấn đề bảo vệ môi trường trong CCN chưa được các địa phương, chủ đầu tư quan tâm, chưa đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường; đa số các CCN chưa xây dựng khu vực tập trung rác thải, hệ thống xử lý nước thải. Cả nước chỉ có 98 CCN có công trình xử lý nước thải đi vào hoạt động (chiếm 15,7% số CCN đi vào hoạt động). Việc thu hút các nguồn vốn đầu tư kinh doanh hạ tầng CCN gặp nhiều khó khăn, do đa số các CCN nằm ở địa bàn nông thôn, vị trí không thuận lợi về giao thông, hạ tầng cơ sở xung quanh yếu kém...

Theo Quy hoạch phát triển CCN đến năm 2020 của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cả nước có 1.467 CCN với tổng diện tích 48.899 ha. Như vậy chỉ tính riêng từ nay đến năm 2020, sẽ tăng gấp đôi số CCN thành lập. Để tiếp tục tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các CCN, ngày 25/5/2017 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 68/2017/NĐ-CP về quản lý, phát triển CCN. Đây là cơ sở quan trọng để các địa phương triển khai rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển CCN cho phù hợp với thực tế trên địa bàn và thực hiện đúng quy định, từng bước đưa công tác quản lý CCN vào nề nếp. Nghị định cũng đã đưa ra các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cụ thể góp phần vào việc xây dựng và phát triển các CCN nhằm phục vụ nhu cầu di dời và mở rộng mặt bằng sản xuất của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh; khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường; giải quyết việc làm cho lao động địa phương; thúc chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội theo hướng công nghiệp hóa.

Việc quản lý, phát triển CCN hiệu quả sẽ góp phần khai thác được các lợi thế về tài nguyên, lao động và hạ tầng tại địa phương; đồng thời phát triển CCN gắn với bảo vệ môi trường; xây dựng được các mối liên kết kinh tế trong khu vực, vùng, cả nước sẽ tạo điều kiện thúc đẩy phát triển công nghiệp nông thôn nói riêng và kinh tế - xã hội nói chung cả nước phát triển bền vững.

Nguồn: http://www.sxsh.vn/

 
Hội nghị giới thiệu mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất gạch không nung bằng bê tông xốp

Ngày 24/11 tại xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Công ty cổ phần liên doanh Hạ Long 135 tổ chức Hội nghị giới thiệu mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất gạch không nung bằng bê tông xốp. 


anh chu thai

Đồng chí Phạm Quang Thái - Phó giám đốc Sở Công Thương dự chỉ đạo

và cắt bằng khánh thành

Tới dự và chỉ đạo Hội nghị có Ông Phạm Quang Thái - Phó Giám đốc Sở Công Thương; Lãnh đạo UBND huyện Hoành Bồ; Lãnh đạo Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp; Lãnh đạo UBND xã Lê Lợi; Ban giám đốc Công ty cổ phần liên doanh Hạ Long 135 cùng Đại diện các doanh nghiệp bạn, các phóng viên đài báo, truyền hình địa phương đã đến dự và đưa tin cho Hội nghị.

Do tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước ngày một cao, nhu cầu đầu tư xây dựng kéo theo nhu cầu về các loại vật liệu đảm bảo chất lượng, phù hợp quy chuẩn môi trường không chỉ trong công nghiệp mà còn trong cả các công trình dân dụng và nhà ở. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020, với mục tiêu “phát triển sản xuất và sử dụng vật liệu xây dựng không nung thay thế gạch đất sét nung đạt tỉ lệ: 15-20% vào năm 2015, 35-40% vào 2020”, trong đó gạch không nung xi măng cốt liệu được coi là sản phẩm chủ lực với tỉ lệ 70 -75% tổng số Vật liệu xây không nung.

Do đó Công ty cổ phần Liên doanh Hạ Long 135 đã quyết định đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất gạch không nung bằng bê tông xốp tại thôn Đồng Tâm, xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Dự án được triển khai với việc đầu tư xây dựng mới các công trình nhà xưởng, nhà kho, mua sắm lắp đặt toàn bộ máy móc thiết bị đồng bộ hiện đại công nghệ cao cho dây chuyền sản xuất khép kín. Sản phẩm sản xuất ra tối thiểu đạt tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam - TCXDVN 6477-2011 áp dụng cho gạch bê tông. Góp phần thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về tăng cường đầu tư sản xuất các sản phẩm VLXD không nung giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Góp phần tăng giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Quảng Ninh, tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp và góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương.

Với chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh dựa trên nhu cầu thực tế của thị trường, Công ty đã tích cực nghiên cứu để cho ra đời các dòng sản phẩm mới với tính năng ưu việt nhất, giá thành cạnh tranh nhất. Cụ thể năm 2017, Công ty đã đầu tư với tổng kinh phí trên 5,5 tỷ đồng để cho ra sản phẩm gạch không nung bằng bê tông xốp.

Với mục tiêu khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất một cách bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời với mong muốn giới thiệu, nhân rộng mô hình sản xuất hiệu quả này tới các doanh nghiệp khác trên địa bàn, Chương trình khuyến công quốc gia năm 2017 đã hỗ trợ 400 triệu đồng để triển khai dự án. Sau rất nhiều nỗ lực để thực hiện, đến nay đề án đã hoàn thành, Công ty cổ phần liên doanh Hạ Long -135 đã tự tin đưa vào thị trường dòng phẩm mới là gạch không nung.

24133429 1626105040782046 1383350487 n

Đại biểu thăm quan mô hình trình diễn

sản xuất gạch không nung bằng bê tông xốp

Với mức kinh phí hỗ trợ là 400 triệu đồng/5.500 triệu đồng là tổng mức đầu tư của dự án, đây là mức không lớn so với tổng số vốn đầu tư của Công ty, song là nguồn hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp thực hiện đổi mới, ứng dụng Khoa học- công nghệ trong quá trình sản xuất và phục vụ nhu cầu đa dạng của thị trường, nâng cao giá trị của sản phẩm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện Hoành Bồ và là hành động thiết thực của các cấp, các ngành đã “Đồng hành cùng Doanh nghiệp” trong quá trình sản xuất và phát triển theo tinh thần Nghị Quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Đặc biệt, đã tạo điều kiện cho sản phẩm của địa phương ngày một vươn xa trên thị trường. Cái đáng quý, đáng ghi nhận ở đây là sự năng động, sự sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, tự khẳng định mình của Công ty trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường./.

Thu Thủy - TTKC&TVPTCN

 
Khuyến công Quảng Ninh hoàn thành kế hoạch khuyến công năm 2017

Năm 2017 Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ninh được UBND tỉnh giao kinh phí khuyến công địa phương là 1.000 triệu đồng phân bổ cho 12 đề án, kinh phí quốc gia được Bộ Công Thương giao là 800 triệu đồng cho 2 đề án, hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp.


lam san uong bi

 

Lãnh đạo Cục Công Thương địa phương kiểm tra đề án khuyến công tại Công ty cổ phần chế biến lâm sản Uông Bí

Nội dung hỗ trợ: 01 đề án trình diễn kỹ thuật sản xuất gạch không nung bằng bê tông xốp kinh phí hỗ trợ 400 triệu đồng; 01 đề án trình diễn kỹ thuật sản xuất ván gỗ ghép thanh cao cấp phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu kinh phí hỗ trợ 400 triệu đồng; 08 đề án đầu tư ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất kinh phí hỗ trợ 720 triệu đồng, bao gồm: sản xuất nước uống tinh khiết, sản xuất đồ mộc, sản xuất dầu sở, quế, hồi, sản xuất đá lạnh và 04 đề án do Trung tâm thực hiện gồm: Tham gia hội chợ - triển lãm hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu và Quản lý đề án; Các hoạt động tuyên truyền về công tác khuyến công, công nghiệp nông thôn Quảng Ninh trên trang thông tin điện tử, Đài phát thanh và truyền hình Quảng Ninh, xây dựng kế hoạch và kiểm tra giám sát các đề án khuyến công với số kinh phí hỗ trợ là 280 triệu đồng. Đến nay các đề án khuyến công đã được nghiệm thu và thanh quyết toán đạt 100% kế hoạch.

Các đề án khuyến công được triển khai, thực hiện và hoàn thành theo đúng tiến độ quy định, đảm bảo hỗ trợ kịp thời kinh phí khuyến công tới các đối tượng thụ hưởng, sau khi được thụ hưởng từ nguồn kinh phí khuyến công các cơ sở công nghiệp nông thôn đều phát triển, hoạt động hiệu quả và có chuyển biến tích cực về về nguồn nhân lực, tăng quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm, tăng doanh thu, nộp ngân sách theo quy định.

Song song với công việc triển khai thực hiện kế hoạch năm 2017. Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ninh đã tích cực triển khai xây dựng kế hoạch kinh phí khuyến công năm 2018 với tổng kinh phí hỗ trợ dự kiến 2.800 triệu đồng. Trong đó: nguồn kinh phí khuyến công quốc gia 800 triệu đồng hỗ trợ cho 04 đề án; nguồn kinh phí khuyến công địa phương 2.000 triệu đồng hỗ trợ cho 10 đến 15 đề án và các hoạt động khuyến công khác.

TTKC&TVPTCN

 

 
Khuyến công Quảng Ninh phấn đấu hoàn thành kế hoạch khuyến công năm 2017

Được sự quan tâm chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Công Thương Quảng Ninh. Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh đã sớm triển khai và đạt hiệu quả tốt nhiều chương trình, đề án khuyến công năm 2017.


ha long 135

Cơ sở sản xuất gạch không nung của Công ty CP liên doanh HạLong -135


Năm 2017, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh được giao thực hiện 14 đề án khuyến công, bao gồm cả khuyến công quốc gia và địa phương với tổng kinh phí thực hiện trên 1,8 tỷ đồng.

Hiện, trung tâm đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức tham gia các Hội chợ hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu năm 2017 do Cục Công Thương tổ chức nhằm quảng bá sản phẩm, phát triển thị trường; Trung tâm cũng đã hỗ trợ cho 8 cơ sở mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh …Riêng về nội dung xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật và chuyển giao công nghệ, Trung tâm đã hỗ trợ 2 đơn vị đầu tư, ứng dụng thiết bị tiên tiến vào sản xuất sản phẩm gạch không nung và ván ghép thanh cao cấp. Đến tháng mười Trung tâm đã cấp phát cho các cơ sở CNNT, đạt 90% kinh phí hỗ trợ.

Hiện, thiết bị hỗ trợ cho các đề án đã hoạt động ổn định, bắt đầu đem lại hiệu quả kinh tế cho đối tượng thụ hưởng. Tiêu biểu, Đề án “Đầu tư máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ sấy nông sản/dược liệu” được thực hiện tại Hợp tác xã phát triển xanh (xã Lục Hồn, huyện Bình Liêu). Sau khi đầu tư mở rộng và đưa thiết bị dây chuyền sấy nông sản, dược liệu vào sản xuất, sản lượng của Hợp tác xã đạt từ 3-5 tấn sản phẩm/năm (sản phẩm bao gồm: trà nụ vối, thuốc đau xương khớp, lá tắm ...) chất lượng sản phẩm cũng được kiểm soát tốt hơn, giúp HTX tăng uy tín với khách hàng và tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

Để hoàn thành kế hoạch năm, trung tâm đang tích cực thực hiện các đề án đã được phê duyệt, bảo đảm theo đúng tiến độ, nội dung. Đẩy mạnh hoạt động hướng dẫn, tư vấn cơ sở CNNT xây dựng các dự án khai thác tiềm năng, lợi thế ở địa phương, có tính khả thi cao để đề xuất hỗ trợ và xây dựng kế hoạch khuyến công năm 2018.

Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh bám sát các cơ sở đang triển khai đề án, tháo gỡ kịp thời vướng mắc phát sinh nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao./.

                                                                                                                                           Hoàng Khá

 
« Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối »

Trang 5 trong tổng số 20

Hình ảnh hoạt động

  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Dành cho quảng cáo



Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay275
mod_vvisit_counterHôm qua433
mod_vvisit_counterTrong tuần3275
mod_vvisit_counterTuần trước2274
mod_vvisit_counterTrong tháng7136
mod_vvisit_counterTháng trước0
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ421753

Khách trực tuyến: 23
IP của bạn: 162.158.79.118
Hôm nay 25 tháng 08 năm 2019