Tin tức sự kiện
Vai trò và chính sách về sử dụng tiết kiệm năng lượng và hiệu quả của Quảng Ninh

Thực hiện Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả số 50/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010; Nghị định số 21/2011/NĐ- CP ngày 29/3/2011 của Chính phủ Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Chỉ thị số 30/CT- TTg ngày 27/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường kiểm soát dự án đầu tư sử dụng nhiều năng lượng, tài nguyên gây ô nhiễm môi trường,

Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 708/QĐ-UBND ngày 15/3/2016 Phê duyệt chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên đại bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016- 2020.

Theo đó, toàn tỉnh phấn đấu giai đoạn 2016- 2020, tiết kiệm từ 8 - 10% tổng điện năng tiêu thụ so với dự báo nhu cầu năng lượng; ứng dụng rộng rãi trang thiết bị hiệu suất cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ tiết kiệm năng lượng, thay thế dần các trang thiết bị có hiệu suất thấp, tiến tới loại bỏ các trang thiết bị công nghệ lạc hậu. 

Bên cạnh đó, phấn đấu giảm mức tiêu hao năng lượng ít nhất 10% đối với một số nhóm ngành sử dụng nhiều năng lượng; áp dụng quy trình quản lý, vận hành tiên tiến đảm bảo sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất, đặc biệt đối với cơ sở sử dụng nhiều năng lượng. 

Đồng thời, đẩy mạnh việc thực hiện tiết kiệm trong các khâu truyền tải, phân phối, kinh doanh và sử dụng điện, phấn đấu giảm tổn thất điện năng xuống từ 5,0- 5,2% vào năm 2020; tổn thất điện năng lưới điện hạ áp khu vực nông thôn xuống 7- 8% (năm 2015 là 10%); 100% các công trình xây dựng mới hoặc cải tạo lại tuân thủ các quy định Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia các công trình xây dựng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Ứng dụng các giải pháp, thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao, tiết kiệm điện nhằm giảm từ 30- 40% tổng mức tiêu thụ điện năng so với dự báo. Đến năm 2020 hoàn thành việc thay thế đèn chiếu sáng công cộng công suất lớn bằng đèn tiết kiệm điện hiện đại tại các tuyến phố trên địa bàn thành phố Hạ Long và một số tuyến phố chính tại trung tâm các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh; đầu tư ứng dụng, lắp đặt thiết bị điều khiển hiện đại, tiết kiệm cho hệ thống chiếu sáng công cộng.

Ngoài ra, phát triển hệ thống giao thông vận tải đáp ứng nhu cầu vận tải với chất lượng ngày càng cao, tiết kiệm nhiên liệu, hạn chế gây ô nhiễm môi trường. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới, sử dụng năng lượng tái tạo thay thế nhiên liệu truyền thống trong giao thông vận tải; triển khai dịch vụ hoạt động vận tải khách du lịch bằng xe ô tô điện tại các địa phương: Cô Tô, Vân Đồn, Hạ Long, Móng Cái, Uông Bí, Đông Triều.

Kế hoạch đã đưa ra các nội dung nhằm thực hiện các mục tiêu nói chung, bao gồm: Nâng cao vai trò quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức cộng đồng, thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường dự kiến thực hiện 17 phóng sự, 110 bài viết, 20 hội nghị, hội thảo và 10 hoạt hoạt động ngoại khoá.

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, các công trình tòa nhà và cơ quan, công sở, trong hoạt động giao thông vận tải, trong chiếu sáng công cộng, trong sản xuất nông nghiệp, trong gia đình, trong quản lý và kinh doanh điện.

Là cơ quan thường trực của Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của tỉnh, thời gian qua Sở Công Thương Quảng Ninh đã tổ chức nhiều hoạt động để triển khai chương trình.

 

Sau đây mời quý vị cùng theo dõi Phóng sự  Vai trò và chính sách về sử dụng tiết kiệm năng lượng và hiệu quả của Quảng Ninh - Tập 1, Tập 2, Tập 3

 

TTKC&TVPTCN Quảng Ninh

 

 
Phát triển bền vững ngành Công Thương theo hướng tăng trưởng xanh, phát thải carbon thấp ứng phó với biến đổi khí hậu

Phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo là nhiệm vụ quan trọng góp phần xanh hóa nền kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng có nguồn gốc nhiên liệu hóa thạch hướng đến mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và góp phần giảm phát thải khí nhà kính ứng phó với biến đổi khí hậu.


bao-ve-moi-truong

Cơ chế, chính sách quốc gia về phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu ngành Công Thương giai đoạn 2011-2020

Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 432/TTg ngày 12 tháng 4 năm 2012 với các quan điểm, mục tiêu rõ ràng về phát triển bền vững đất nước, phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường. Khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo. Phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học. Hạn chế tác hại của thiên tai, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng. Trong đó, ngành Công Thương đóng vai trò then quan trọng góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế bền vững với các nhiệm vụ cụ thể:

- Xây dựng và thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh, đảm bảo phát triển nền kinh tế theo hướng các bon thấp. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Từng bước thị trường hóa giá năng lượng, nâng dần tỷ trọng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng ở Việt Nam. Xây dựng hệ thống hạch toán kinh tế môi trường và đưa thêm môi trường và các khía cạnh xã hội vào khuôn khổ hạch toán tài khoản quốc gia (SNA).

- Phát triển bền vững công nghiệp với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm công nghiệp, xây dựng nền “công nghiệp xanh”, ưu tiên phát triển các ngành, các công nghệ, sản phẩm thân thiện với môi trường, đẩy mạnh phát triển công nghệ cao tại các đô thị lớn. Từng bước phát triển ngành công nghiệp môi trường.

- Đẩy mạnh áp dụng rộng rãi sản xuất sạch hơn để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên vật liệu, năng lượng, nước, đồng thời giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, bảo vệ chất lượng môi trường, sức khỏe con người, đảm bảo phát triển bền vững.

- Xây dựng văn hóa tiêu dùng văn minh, hài hòa và thân thiện với thiên nhiên. Từng bước thực hiện dán nhãn sinh thái, mua sắm xanh. Phát triển thị trường sản phẩm sinh thái và sáng kiến cộng đồng về sản xuất và tiêu dùng bền vững. Áp dụng những chính sách điều chỉnh những hành vi tiêu dùng không hợp lý.

Triển khai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và tổ chức thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp tổng thể và chi tiết cho từng lĩnh vực quan trọng nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững theo hướng tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính, thân thiện với môi trường ngành Công Thương giai đoạn 2011-2020, cụ thể:

-Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035 (Quyết định số 879/QĐ-TTg ngày 09 tháng 6 năm 2014), Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 (Quyết định số 2146/QĐ-TTg ngày 01 tháng 12 năm 2014);

- Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (Quyết định số 76/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2016), Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến 2020 (Quyết định số 1419/QĐ-TTg ngày 07 tháng 9 năm 2009);

- Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả qua các giai đoạn từ 2006-2015;

- Và gần đây nhất là Kế hoạch cơ cấu lại ngành Công Thương giai đoạn 2018-2020, xét đến 2025 phê duyệt tại Quyết định số 598/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó các nhiệm vụ trọng tâm chuyển dịch theo hướng tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu được đề cập như sau:

+ Tăng cường áp dụng hệ thống tổ chức sản xuất tiên tiến và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong sản xuất công nghiệp, gắn sản xuất công nghiệp với bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; sử dụng tài nguyên và năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong sản xuất công nghiệp; xây dựng danh mục các dự án, nhà máy sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao và triển khai theo lộ trình thay thế và loại bỏ dần các thiết bị lạc hậu trong các nhà máy và đóng cửa các nhà máy gây ô nhiễm;

+ Bổ sung và hoàn thiện các chính sách về bảo vệ môi trường đối với một số ngành công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; xây dựng, điều chỉnh và thực hiện hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật trong ngành công nghiệp, môi trường phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam;

+ Thu hút đầu tư phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và năng lượng mới nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đảm bảo thực hiện các mục tiêu về tăng trưởng xanh, giảm thiểu biến đổi khí hậu và cung cấp đầy đủ năng lượng với giá hợp lý, làm động lực phát triển cho các ngành công nghiệp khác.

Một số kết quả phát triển ngành Công Thương theo hướng tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu

Thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ xanh hóa sản xuất, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả tài nguyên, nguyên, nhiên vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, giảm phát thải các chất gây ô nhiễm môi trường, tạo ra các sản phẩm thân thiện với môi trường. Cụ thể:

Trong giai đoạn 2010 đến nay, các hoạt động sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đã phát hành 86 bản tin và tờ rơi phục vụ công tác tuyên truyền đến các đối tượng có liên quan, công bố 44 tài liệu phục vụ công tác đào tạo, tập huấn về sản xuất sạch hơn cho các chuyên gia, các nhà sản xuất và các nhà quản lý, ban hành 22 Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật cho các ngành/lĩnh vực sản xuất công nghiệp,…các tài liệu này được cập nhật và xây dựng mới thường xuyên và có khả năng ứng dụng thực tế tại các doanh nghiệp, giúp các đơn vị nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm và đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng giai đoạn 2011-2015 được đánh giá đã đạt mục tiêu đề ra, tiết kiệm được 11,262 triệu tấn dầu quy đổi, góp phần quan trọng trong việc giảm tiêu thụ các dạng nhiên liệu hóa thạch, giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực năng lượng trên phạm vi cả nước. Nhận thức của cộng đồng, các doanh nghiệp và toàn xã hội đạt nhiều kết quả quan trọng, thái độ và hành vi của người tiêu dùng cũng như các nhà sản xuất có nhiều chuyển biến rõ rệt, thể hiện rõ trên thị trường các sản phẩm tiết kiệm năng lượng ngày càng được khách hàng tin tưởng, lựa chọn.

Triển khai Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững, Bộ Công Thương đã và đang từng bước xây dựng hệ thống phân phối xanh thông qua hệ thống các trung tâm thương mại, siêu thị lớn trên phạm vi cả nước nhằm thúc đẩy hoạt động quảng bá và phát triển thị trường các sản phẩm thân thiện với môi trường, phát thải carbon thấp. Điều này vừa đáp ứng nhu cầu của thị trường và thỏa mãn sự quan tâm của khách hàng đối với các sản phẩm mới, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.

Đối với các hoạt động sản xuất công nghiệp, Bộ Công Thương đã ban hành các thông tư quy định về định mức tiêu hao năng lượng, mức hiệu suất năng lượng tối thiểu cho các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng như thép, hóa chất, bia, nước giải khát, công nghiệp sản xuất giấy, nhựa và sẽ tiếp tục hoàn thiện và ban hành các văn bản áp dụng đối với các ngành công nghiệp khác.

Phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo là nhiệm vụ quan trọng góp phần xanh hóa nền kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng có nguồn gốc nhiên liệu hóa thạch hướng đến mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và góp phần giảm phát thải khí nhà kính ứng phó với biến đổi khí hậu. Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ Công Thương đã trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành các văn bản pháp luật và thúc đẩy và tổ chức thực hiện hoạt động phát triển năng lượng tái tạo như Chiến lược quốc gia về phát triển năng lượng tái tạo đến năm 2030, tầm nhìn 2050, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển các dạng năng lượng tái tạo như phát điện từ rác thải, điện sinh khối, điện gió, điện mặt trời, đã ban hành nhiều quy định cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp phát triển các dự án điện tái tạo ở Việt Nam như Hợp đồng mẫu, trình tự, thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch phát triển và sử dụng điện sinh khối,…

Một số thuận lợi, khó khăn và nhiệm vụ, giải pháp phát triển bền vững ngành Công Thương theo hướng tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu

Thuận lợi

Chuyển dịch nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh và phát thải carbon thấp đang là xu thế chung của toàn thế giới. Do đó, các cơ chế, chính sách về phát triển công nghiệp, thương mại ở nhiều quốc gia ngày càng hoàn thiện theo hướng sử dụng hiệu quả năng lượng, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, giảm phát thải khí nhà kính.

Định hướng lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo xuyên suốt của Chính phủ về phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu đã giúp cho quá trình hoàn thiện các cơ chế chính sách, chiến phát triển các ngành/lĩnh vực, đặc biệt là quá trình tái cơ cấu, cơ cấu lại ngành công nghiệp ngày càng đi vào chiều sâu và chất lượng, hiệu quả.

Những thành tựu đạt được trong Chương tình nghị sự Agenda 21 của Việt Nam đã tạo đà cho sự phát triển kinh tế và các ngành, lĩnh vực và có điều kiện kế thừa, phát huy những bài học kinh nghiệm tốt trong giai đoạn phát triển mới.

Sự hỗ trợ có hiệu quả của các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu, đề xuất các cơ chế chính sách về phát triển bền vững đối với lĩnh vực năng lượng và công nghiệp, đồng thời nâng cao năng lực triển khai các nhiệm vụ mới như tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính, xanh hóa sản xuất.

Nhận thức của cộng đồng, doanh nghiệp về những cơ hội, lợi ích của việc triển khai các giải pháp tiết kiệm năng lượng, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững ngày càng nâng cao. Thái độ, hành vi của người tiêu dùng về các sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng đã và đang chiếm ưu thế trên thị trường, góp phần định hướng phát triển các nhà sản xuất theo hướng tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính giúp cho quá trình xanh hóa sản xuất thuận lợi hơn.

Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, quá trình xanh hóa sản xuất, giảm phát thải khí nhà kính và hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững, ngành Công Thương còn nhiều khó khăn, thách thức như:

Biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, khó lường, đe dọa nghiêm trọng những thành quả phát triển và sự ổn định, bền vững của ngành. Tác động của thiên tai, lũ lụt ở Việt Nam trong những năm gần đây đã gây thiệt hại nặng nề đối với sự phát triển bền vững của ngành Công Thương như cơ sở hạ tầng năng lượng, công nghiệp và thương mại.

Nhận thức của nhiều doanh nghiệp và người dân đối với tầm quan trọng của chiến lược phát triển lâu dài theo hướng phát thải carbon thấp còn hạn chế. Do đó, sự quan tâm, đầu tư công nghệ sạch, phát thải carbon thấp chưa tương xứng với yêu cầu phát triển một cách lâu dài và bền vững của ngành Công Thương.

Nhu cầu về tài chính để thực hiện tăng trưởng xanh vô cùng lớn, trong khi nguồn lực dài hạn cho việc này lại đang rất hạn chế. Các Dự án về tăng trưởng xanh được đánh giá đem lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Tuy nhiên, nhận thức về vấn đề này vẫn còn hạn chế cả ở lĩnh vực tài chính, ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp. Do đó, việc phát triển các dự án về tăng trưởng xanh vẫn chưa đạt như mong muốn.

Việc giảm phát thải khí nhà kính bắt buộc chưa có quy định của pháp luật, các hướng dẫn kỹ thuật của quốc tế và trong nước vẫn chưa được hoàn thiện. Do đó, đây vẫn còn là vấn đề rất mới đối với Việt Nam nói chung và lĩnh vực công nghiệp nói riêng. Do đó, nguồn lực về con người và chuyển giao công nghệ về tăng trưởng xanh chưa được xã hội quan tâm và đầu tư tương xứng.

Những cơ hội và thách thức trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay vẫn là bài toán mở cho các doanh nghiệp Việt Nam quyết định trong việc chuyển dịch sang nền kinh tế carbon thấp, tăng trưởng xanh.

Các cơ chế, chính sách mới về biến đổi khí hậu sẽ tác động không nhỏ đến chiến lược phát triển lâu dài đối với ngành công nghiệp như cơ chế mua bán phát thải carbon, chính sách về dấu vết carbon trong sản xuất và lưu thông hàng hóa trên thị trường, chính sách tài chính toàn cầu về hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch,…

Các nhiệm vụ, giải pháp phát triển ngành Công Thương theo hướng tăng trưởng xanh, phát thải carbon thấp, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu

Để khắc phục những khó khăn, thách thức nêu trên, tranh thủ các cơ hội mới trong quá trình chuyển dịch nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, ngành Công Thương cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài, cụ thể:

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các cơ chế chính sách của quốc gia, những vấn đề mới như các rào cản kỹ thuật, xu thế phát triển theo hướng phát thải thấp, tăng trưởng xanh của các quốc gia trên thế giới và khu vực, đặc biệt là ở các thị trường lớn có tính dẫn dắt nền kinh tế toàn cầu như Trung Quốc, Mỹ, EU,…

- Nhà nước cần triển khai các cơ chế, chính sách vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính khuyến khích trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính.

- Mở rộng cơ hội tiếp cận các nguồn lực tài chính, chuyển giao công nghệ phát thải thấp, tăng trưởng xanh cho các doanh nghiệp.

- Xây dựng cơ chế chính sách và hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện các nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính thông qua các cơ chế mới về biến đổi khí hậu như mua bán carbon, trao đổi tín chỉ carbon.

- Tổ chức và triển khai có hiệu quả Quyết định số 598/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại ngành công nghiệp giai đoạn 2018-2020, xét đến 2025, trong đó một số nhiệm vụ liên quan đến tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường sẽ được triển khai bao gồm:

Tăng cường áp dụng hệ thống tổ chức sản xuất tiên tiến và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong sản xuất công nghiệp, gắn sản xuất công nghiệp với bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; sử dụng tài nguyên và năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong sản xuất công nghiệp; xây dựng danh mục các dự án, nhà máy sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao và triển khai theo lộ trình thay thế và loại bỏ dần các thiết bị lạc hậu trong các nhà máy và đóng cửa các nhà máy gây ô nhiễm.

Bổ sung và hoàn thiện các chính sách về bảo vệ môi trường đối với một số ngành công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; xây dựng, điều chỉnh và thực hiện hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật trong ngành công nghiệp, môi trường phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam.

Thu hút đầu tư phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và năng lượng mới nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đảm bảo thực hiện các mục tiêu về tăng trưởng xanh, giảm thiểu biến đổi khí hậu và cung cấp đầy đủ năng lượng với giá hợp lý, làm động lực phát triển cho các ngành công nghiệp khác./.

Theo: http://www.moit.gov.vn/

 
HỘI NGHỊ TẬP HUẤN KHUYẾN CÔNG TẠI TỈNH HÒA BÌNH

Ngày 26/10/2018, Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Hòa Bình tổ chức Hội nghị Tập huấn công tác khuyến công năm 2018.


Hội nghị đã phổ biến những điểm mới, tinh thần mới của các văn bản về khuyến công vừa được Bộ Công Thương và Bộ Tài Chính ban hành, thu hút sự quan tâm của nhiều cán bộ Sở Công Thương, các doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành khu vực phía Bắc.

Trong diễn đàn Hội nghị, cán bộ khuyến công, các doanh nghiệp các tỉnh thành đã được nghe và thảo luận các điểm mới tại một số Thông tư của Bộ Công Thương, Bộ Tài Chính về quy trình xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện các đề án Khuyến công Quốc gia (KCQG); cách thức quản lý kinh phí (tạm ứng, thanh quyết toán) đối với các đề án KCQG; tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, hướng dẫn truy cập, cập nhật cơ sở dữ liệu về công nghiệp địa phương.

Tap huan Hoa Binh

Toàn cảnh hội nghị tập huấn

Phát biểu tại hội nghị ông Ngô Quang Trung - Cục trưởng Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) nhận định: Hoạt động khuyến công là hoạt động hỗ trợ sản xuất, ứng dụng kỹ thuật vào cuộc sống.

Các thông tư sửa đổi là những văn bản pháp lý quan trọng trên cơ sở tiếp tục và kế thừa những nội dung tích cực đã đạt được và khắc phục những bất cập, tồn tại của các văn bản trước đó; đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong hoạt động khuyến công với các điểm mới và nội dung được mở rộng.

Ông Trung cũng cho rằng: “Để công tác khuyến công được triển khai hiệu quả, các doanh nghiệp cần chủ động trong việc tiếp thu nguồn thông tin và đề xuất các chính sách phù hợp”.

Thông qua buổi tập huấn các địa phương, các đơn vị sẽ nắm bắt rõ hơn về cách thức xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, lập, sử dụng và quản lý kinh phí khuyến công; tăng cường năng lực trong việc khảo sát, xây dựng, thẩm định, nghiệm thu, thanh quyết toán các đề án, tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu; nâng cao nhận thức về ý nghĩa vai trò của hoạt động khuyến công. Qua đó, công tác khuyến công sẽ được chuẩn hóa đi vào nề nếp; quy trình triển khai các hoạt động khuyến công được tuân thủ tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương, đơn vị thực hiện nhiệm vụ để hỗ trợ khuyến khích các cơ sở công nghiêp nông thôn đầu tư, phát triển sản xuất có hiệu quả; góp phần đưa chính sách khuyến công tiến thêm những bước dài, đi vào cuộc sống./.

Lê Sỹ Trình

 
Đẩy mạnh đổi mới công tác khuyến công để hội nhập kinh tế quốc tế

Để các hoạt động khuyến công được thực hiện phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa, các cơ sở công nghiệp nông thôn bắt kịp với sự chuyển dịch của nền kinh tế, ngày 25/10, tại Hòa Bình, Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Hòa Bình tổ chức Hội thảo Công tác Khuyến công và các vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế.


Tại hội thảo, các đại biểu đã thảo luận những nội dung về công tác khuyến công tại địa phương, công tác chủ động phòng vệ thương mại của cơ sở công nghiệp nông thôn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, những cơ hội và thách thức với các cơ sở công nghiệp nông thôn trong Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Cơ hội và thách thức đối với cơ sở công nghiệp nông thôn

Trong bối cảnh hiện nay, hội nhập quốc tế toàn cầu diễn ra rất sâu rộng trên toàn thế giới, mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài cho các các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng. Thị trường nước ngoài rất tiềm năng, mang lại nguồn lợi nhuận lớn hơn rất nhiều so với thị trường trong nước. Tuy nhiên điều này dễ khiến cho một số doanh nghiệp Việt chỉ nhằm vào lợi ích kinh tế mà quên đi lợi ích tổng thể.

Hoi thao Hoa Binh

Thực tế cho thấy, đa phần các doanh nghiệp nhỏ và vừa có năng lực tài chính, hoạt động kinh doanh và trình độ khoa học kỹ thuật cũng như khả năng tiếp cận công nghệ còn hạn chế, vì vậy chưa xoay chuyển được mô hình sản xuất kinh doanh để bắt kịp xu thế.

Theo ông Phùng Gia Đức, Điều tra viên thuộc Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), nếu các doanh nghiệp Việt xuất khẩu mà không có chiến lược rõ ràng, xuất khẩu với số lượng quá lớn, xuất khẩu giá quá thấp so với giá thị trường thế giới… sẽ dẫn đến mâu thuẫn về lợi ích đối với các ngành sản xuất trong nước và nước ngoài, khiến chính phủ các nước điều tra và áp dụng thuế phòng vệ thương mại đối với doanh nghiệp Việt Nam.

“Việc này hoàn toàn có thể tránh nếu doanh nghiệp có chiến lược rõ ràng, hiểu về thị trường, có chính sách phù hợp về giá. Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà sản xuất trong nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp cần có sự phối hợp thông tin với cơ quan Chính phủ của Việt Nam, cơ quan đại diện và đối tác nước ngoài” – ông Phùng Gia Đức nhấn mạnh.

Thay đổi để hội nhập

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được kỳ vọng trở thành động lực cho sự phát triển vượt bậc của các doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, công tác khuyến công cần tập trung khai thác các tiềm năng, phát triển công nghiệp khu vực nông thôn nhằm hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn phát triển sản phẩm mới có giá trị kinh tế, thân thiện với môi trường, đồng thời cung cấp các kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế cho các cán bộ làm công tác khuyến công, các doanh nghiệp và cơ sở công nghiệp nông thôn.

Ông Vũ Xuân Khải, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Hòa Bình khẳng định: “Để hội nhập toàn cầu, doanh nghiệp cần nỗ lực thay đổi trình độ quản trị doanh nghiệp, sẵn sàng đón làn sóng công nghệ mới, biến thành động lực phát triển, đem lại lợi ích cho chính doanh nghiệp mình. Bên cạnh đó, đối với người lao động, cần phải nhanh chóng tiếp cận khoa học công nghệ, làm chủ được thiết bị, máy móc, nâng cao năng suất lao động”.

Đặc biệt, doanh nghiệp cần chú trọng đổi mới, cải tiến công nghệ, gia tăng giá trị sản phẩm. Từ đó, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn và các tổ chức cá nhân tham gia quản lý, thực hiện các công tác khuyến công tại các tỉnh, thành phố thuộc khu vực phía Bắc nhanh chóng tiếp cận các kiến thức, chính sách, bắt kịp Cách mạng công nghiệp 4.0.

Bổ sung ý kiến của ông Vũ Xuân Khải, ông Phùng Gia Đức, cho biết: “Các cơ quan quản lý nhà nước đã thường xuyên cập nhật thông tin từ thị trường trong và ngoài nước để cung cấp đến các doanh nghiệp Việt thông qua website của Bộ Công Thương. Bên cạnh đó, nguồn thông tin hữu ích cũng được cung cấp thông qua các buổi tập huấn, hội thảo của Bộ Công Thương, Cục Phòng vệ thương mại, Cục Công Thương địa phương và Sở Công Thương các tỉnh thành... Chính vì vậy, để tiếp cận với nguồn kiến thức, các doanh nghiệp cần chủ động tham khảo các nguồn thông tin chính thống đã được chắt lọc”.

Theo: congthuong.vn

 

 
Vĩnh Phúc: 30% doanh nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn

SXSH: Tiết kiệm chi phí, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Theo số liệu thống kê, tính đến hết tháng 9/2018, toàn tỉnh Vĩnh Phúc có hơn 9.700 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, trong đó có khoảng 30% doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp đã và đang đẩy mạnh áp dụng các bước sản xuất sạch hơn (SXSH). Việc áp dụng SXSH giúp doanh nghiệp tiết kiệm từ 10- 15% mức tiêu thụ năng lượng, đầu tư nguyên, vật liệu trên cùng một đơn vị sản phẩm. 


Không chỉ giúp cắt giảm tối đa chi phí sản xuất, thực hiện SXSH còn giúp hạn chế ô nhiễm môi trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Nhận thức được những lợi ích mà SXSH mang lại, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển theo hướng SXSH nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Vinh Phuc 1

Công ty cổ phần Prime Vĩnh Phúc tích cực cải tiến dây chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị.

Điển hình là Công ty cổ phần Prime Vĩnh Phúc. Nhằm giảm thiểu tối đa ô nhiễm môi trường, đồng thời vẫn đảm bảo được hiệu quả sản xuất kinh doanh, công ty luôn tích cực cải tiến dây chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt nhất; đặc biệt, là việc đầu tư dây chuyền in kỹ thuật số công nghệ tiên tiến nhất trong ngành công nghiệp gốm sứ để thay thế công nghệ in phẳng trước đây. 

Bên cạnh đó, công ty đã thành lập Hội đồng khoa học sáng kiến cải tiến kỹ thuật nhằm khuyến khích, đẩy mạnh phong trào nghiên cứu, cải tiến kỹ thuật của người lao động; thực hiện chế độ khen thưởng kịp thời cho người lao động có sáng kiến cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm làm lợi cho doanh nghiệp và nghiên cứu, phát triển thành công những sản phẩm mới.

Ngoài ra, công ty còn luôn chú trọng đến công tác bảo vệ môi trường để đảm bảo sức khỏe cho người lao động cũng như môi trường xung quanh khu vực sản xuất bằng việc đầu tư nhiều hạng mục, công trình; trong đó, đầu tiên phải kể đến việc đầu tư hệ thống làm mát không khí tại các dây chuyền sản xuất với tổng kinh phí hơn 750 triệu đồng. Ở những vị trí phát sinh ra bụi, công ty còn lắp đặt các máy hút bụi nhằm thu hồi lượng bụi phát sinh ra môi trường.  

Vinh Phuc 2

Công ty TNHH Vitto- VP đầu tư dây chuyền trang thiết bị hiện đại cung ứng ra thị trường hơn 1.000 mẫu sản phẩm gạch ốp tường, gạch lát và gạch trang trí đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng

Trong khi đó, tại Công ty TNHH Vitto-VP, phong trào “lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “sáng kiến, cải tiến kỹ thuật” cũng được đẩy mạnh. Công ty luôn tạo điều kiện về thời gian, hỗ trợ kinh phí để người lao động phát huy năng lực sở trường, qua đó có hàng trăm sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất, làm lợi và tiết kiệm hàng tỷ đồng cho công ty. 

Cụ thể, hưởng ứng phong trào "phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật"của công ty, anh Tạ Ngọc Bắc - Trưởng phòng An toàn môi trường và Quản lý hệ thống đã nghiên cứu, đề xuất với ban giám đốc cho lắp thêm hệ thống lọc bụi ướt sử dụng nước sau khi đã lọc bụi khô. Việc sử dụng nước này đã giảm tối đa hạt bụi nhỏ phát tán ra môi trường, đảm bảo môi trường làm việc luôn sạch sẽ, giảm được chi phí nhân công quét dọn bụi phát tán trong nhà xưởng, đảm bảo khí thải ra môi trường đúng quy chuẩn.

Tiếp tục đẩy mạnh áp dụng SXSH

Để việc áp dụng SXSH trong doanh nghiệp được triển khai rộng rãi, thời gian tới, Sở Công Thương tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng cách đa dạng hóa các hình thức tổ chức, thay đổi phương thức tiếp cận với doanh nghiệp, tổ chức tập huấn kết hợp tham quan thực tế các mô hình áp dụng thành công SXSH trong và ngoài tỉnh. 

Đồng thời, xây dựng cơ chế chính sách của tỉnh nhằm hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn áp dụng SXSH với mục tiêu đến năm 2020, toàn tỉnh có 100% các cơ sở sản xuất áp dụng công nghệ sạch, được trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải đạt quy chuẩn môi trường; 80% các khu đô thị, 100% các khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn; thu gom 100% lượng chất thải rắn công nghiệp, dịch vụ.

Nguồn: http://www.sxsh.vn/

 
Hội nghị tập huấn về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tại Tiên Yên

Trong hai ngày 18 và 19/10 vừa qua, tại Thị trấn Tiên Yên - huyện Tiên Yên, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh đã tổ chức thành công Chương trình Hội nghị Nâng cao nhận thức về tiết kiệm năng lượng và Tuyên truyền phổ biến ứng dụng công nghệ mới, năng lượng tái tạo, xăng E5 trong giao thông vận tải cho cán bộ các sở, ban, ngành, địa phương và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Hội nghị đã thu hút hơn 100 đại biểu tham gia tập huấn.


Tap huan Tien Yen1

Quang cảnh Hội nghị

Tại hội nghị Nâng cao nhận thức về tiết kiệm năng lượng, các đại biểu đã được nghe chuyên gia phân tích hiện trạng tình hình sử dụng năng lượng trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Từ đó thấy rằng, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là mối quan tâm hàng đầu của các đơn vị sản xuất kinh doanh nói riêng và của toàn xã hội nói chung vì nó có tác động rất lớn đến chi phí kinh doanh, an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường. Nhiều cơ quan quản lý thuộc Chính phủ của các quốc gia và các tổ chức quốc tế đã tham gia vào công cuộc tìm kiếm và lựa chọn các giải pháp hữu hiệu nhằm kiểm soát việc sử dụng năng lượng. Tại Việt Nam, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2011 được thông qua nhằm quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; chính sách và các biện pháp thúc đẩy năng lượng và hiệu quả; quyền và nghĩa vụ trách nhiệm của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả… Thông qua Hội nghị, Trung tâm hy vọng sẽ tạo ra sự chuyển biến tích cực trong nhận của doanh nghiệp về vấn đề sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Tap huan Tien Yen2

Chuyên gia trình bày ứng dụng công nghệ mới, năng lượng tái tạo, xăng E5 trong giao thông vận tải

Cũng tại Hội nghị Tuyên truyền phổ biến ứng dụng công nghệ mới, năng lượng tái tạo, xăng E5 trong giao thông vận tải, đại biểu được giới thiệu các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong giao thông vận tải thông qua công tác quản lý kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới, ứng dụng nhiên liệu sinh học làm nhiên liệu thay thế cho một số phương tiện giao thông. Đặc biệt, tại hội nghị, chuyên gia đã trình bày rất sâu về Xăng E5 – Năng lượng tái tạo trong GTVT. Đây là loại xăng sinh học, được tạo ra bằng cách pha trộn cồn sinh học ethanol khan với xăng thông thường theo một tỷ lệ nhất định. Trong đó xăng E5 có 5% ethanol và 95% xăng thông thường, còn xăng E10 có 10% ethanol. Xăng sinh học có các tỷ lệ từ E5 đến 85 - hỗn hợp ethanol cao. Còn E100 là ethanol nguyên chất sau khi sản xuất. Xăng E5 đang được nhiều nước trên thế giới sử dụng, có nước đã dùng tới xăng E10, thậm chí E85. Ở Việt Nam người tiêu dùng còn đang cân nhắc việc sử dụng xăng sinh học E5 khi loại xăng này sẽ thay thế hoàn toàn xăng A92 từ ngày 1/1/2018. Lợi ích vượt trội của việc sử dụng xăng E5 cho động cơ là giảm ô nhiễm môi trường, giảm sự lệ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch, bổ sung nguồn nhiên liệu thiếu hụt, đảm bảo an ninh năng lượng; giúp đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội.

Hội nghị tập huấn là một trong chuỗi các hoạt động tuyên truyền của Trung tâm nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cho cán bộ các sở, ban, ngành, địa phương và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, góp phần thực hiện tốt chương trình Mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả./.

TTKC&TVPTCN Quảng Ninh

 
Khuyến công Quảng Ninh: Tuyên truyền về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong trường học

Nhằm thực hiện Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, hôm qua ngày 18/10/2018, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn PTCN Quảng Ninh phối hợp với Công ty CP Kiểm toán năng lượng Việt Nam và Phòng Giáo dục thành phố Hạ Long tổ chức hoạt động ngoại khóa cho các em học sinh tại hai trường trên địa bàn thành phố Hạ Long.


Kim dong

Học sinh trường THCS Kim Đồng tham gia phần thi thuyết trình

Hoạt động ngoại khóa với chủ đề “Trường học chung tay sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả” được Trung tâm triển khai tại trường THCS Kim Đồng và trường Tiểu học Trần Hưng đạo, đã thu hút khoảng 1.500 học sinh tham gia.

Trần Hưng Đạo

Học sinh trường Tiểu học Trần Hưng đạo tích cực hưởng ứng buổi ngoại khóa

 

Tại buổi ngoại khóa, các em học sinh đã được tìm hiểu về tầm quan trọng của năng lượng đối với cuộc sống hàng ngày; các giải pháp tiết kiệm năng lượng như: Tắt đèn, tắt các thiết bị điện không cần thiết khi ra khỏi phòng; tắt hẳn nguồn điện khi không sử dụng thiết bị. Sử dụng các thiết bị tiêu thụ tốn nhiều điện như: tủ lạnh, điều hòa, bình nóng lạnh một cách hợp lý; sử dụng các loại thiết bị được chứng nhận tiết kiệm năng lượng; tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời và thông gió tự nhiên; dùng quạt hoặc mở cửa thoáng để thay thế điều hòa khi trời không quá nóng. Đặc biệt, các em còn được tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể hiện tài hiểu biết của mình thông qua các phần thi vẽ tranh, diễn kịch, hùng biện thuyết trình về tiết kiệm năng lượng. Ngoài ra, các em còn được tham gia giao lưu, trả lời các câu hỏi và nhận những phần quà thú vị về sử dụng tiết kiệm điện trong gia đình cũng như trong nhà trường.Với sự sáng tạo trong khâu tổ chức cùng sự hưởng ứng tích cực của các em học sinh, hoạt động ngoại khóa đã truyền tải những thông điệp tiết kiệm năng lượng hiệu quả thành hành động cụ thể. Từ đó, giúp các em học sinh – những chủ nhân tương lai của đất nước trở thành tuyên truyền viên tích cực tới gia đình, người thân và cả cộng đồng cùng chung tay tiết kiệm năng lượng.

 

Trung tâm Khuyến công và Tư vấn PTCN

 

 

 
Hội nghị tập huấn về tiết kiệm năng lượng

Thực hiện nhiệm vụ năm 2018, ngày 25/9/2018 vừa qua, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn PTCN Quảng Ninh phối hợp với Công ty CP Kiểm toán năng lượng Việt Nam tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao nhận thức về tiết kiệm năng lượng cho cán bộ các Sở, ngành, địa phương và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.


Tap huan TKNN2

Quang cảnh Hội nghị

Hội nghị tập huấn đã thu hút được 60 đại biểu đại diện cho 30 Sở, ngành, địa phương và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia. Tại Hội nghị, các đại biểu đã được chuyên gia tư vấn giới thiệu về các hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến năng lượng; quyền lợi và nghĩa vụ của các đơn vị sử dụng năng lượng trong việc sử dụng năng lượng hiệu quả, tiết kiệm; việc tiết kiệm năng lượng cho hệ thống chiếu sáng; giải pháp tiết kiệm chi phí năng lượng cho hệ thống điều hòa trung tâm bằng bể trữ lạnh. Đồng thời, hướng dẫn cách lập báo cáo năm dành cho các đơn vị sử dụng năng lượng trên địa bàn tỉnh...

Tap huan TKNN1

Chuyên gia người nước ngoài giới thiệu giải pháp tiết kiệm năng lượng

Mục đích của Hội nghị tập huấn nhằm: Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Nghị định số 21/2011/NĐ- CP ngày 29/3/2011 của chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, đưa chương trình tiết kiệm năng lượng thành hoạt động thường xuyên trong hoạt động đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế- xã hội bền vững; Tăng cường công tác kiểm soát, quản lý các dự án đầu tư sử dụng nhiều năng lượng, tài nguyên gây ô nhiễm môi trường; Thực hiện thắng lợi chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016- 2020; Phấn đấu giai đoạn 2016- 2020, tiết kiệm từ 8- 10% tổng điện năng tiêu thụ so với dự báo nhu cầu năng lượng theo; Ứng dụng rộng rãi trang thiết bị hiệu suất suất cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ tiết kiệm năng lượng, thay thế dần các trang thiết bị có hiệu suất thấp, tiến tới loại bỏ các trang thiết bị công nghệ lạc hậu; Áp dụng quy trình quản lý, vận hành tiên tiến đảm bảo sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất, đặc biệt đối với cơ sở sử dụng nhiều năng lượng; đưa chương trình sử dụng tiết kiệm năng lượng thành hoạt động thường xuyên trong hoạt động đời sống xã hội, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế - xã hội bền vững./.

TTKC&TVPTCN Quảng Ninh

 

 
Quảng Ninh hoàn thành kế hoạch khuyến công quốc gia năm 2018

Năm 2018, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn PTCN Quảng Ninh được phê duyệt 02 đề án khuyến công quốc gia với tổng kinh phí hỗ trợ là 400 triệu đồng, bao gồm: Đề án Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất hương nhang xuất khẩu; Đề án Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất các sản phẩm gia dụng từ kim loại.


Ngay sau khi được Bộ Công Thương phê duyệt và ký hợp đồng khuyến công quốc gia với Cục Công Thương địa phương, Trung tâm đã ký hợp đồng với các đơn vị thụ hưởng để kịp thời hỗ trợ cho các đơn vị đầu tư, ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất. Tính đến đầu tháng 8/2018, Trung tâm đã tiến hành nghiệm thu cả 02 đề án khuyến công quốc gia, đạt 100% kế hoạch được phê duyệt.

Nghiem thu KCQG 2018

KCQN năm 2018 hỗ trợ ứng dụng máy làm hương nhang tự động vào sản xuất hương nhang xuất khẩu

Đối với đề án Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất hương nhang xuất khẩu, Trung tâm đã phối hợp với Hợp tác xã sản xuất kinh doanh hương nhang Đức Phú để đầu tư máy làm hương nhang tự động vào sản xuất. Đối với đề án Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất các sản phẩm gia dụng từ kim loại, Trung tâm đã phối hợp với Công ty CP xây dựng và thương mại Hoàng Gia JSC đầu tư rất nhiều máy móc vào sản xuất đồ kim loại, như: Máy cắt nhôm, máy cắt – hàn inox, máy cắt – hàn sắt, máy phay…

Với việc ứng dụng máy móc, thiết bị này đã giúp doanh nghiệp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm thiểu chi phí sản xuất, an toàn hơn với người công nhân vận hành và gia tăng giá trị cạnh tranh tại địa phương.

Với kết quả thực hiện các đề án khuyến công nêu trên, Quảng Ninh là một trong các địa phương thực hiện và hoàn thành sớm kế hoạch khuyến công quốc gia năm 2018./.

TTKC&TVPTQN Quảng Ninh

 
Hoạt động khuyến công đã góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn

Trong những năm qua, bằng nguồn kinh phí khuyến công, nhiều hoạt động khuyến công đã được triển khai có hiệu quả, quy mô và chất lượng các đề án khuyến công ngày càng được nâng cao và có tác động rõ nét đến phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT). Trong đó, công tác hỗ trợ đào tạo nghề, truyền nghề và nâng cao tay nghề cho các cơ sở CNNT cũng đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển KT-XH, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội tại các địa phương.


KC gop phan chuyen dich co cau LD

Đào tạo nguồn lao động là hình thức hỗ trợ rất thiết thực đối với doanh nghiệp

Trong giai đoạn 2008 – 2017, tổng kinh phí từ ngân sách bố trí cho hoạt động khuyến công quốc gia và địa phương là 1.859,665 tỷ đồng, trong đó, kinh phí dành cho công tác hỗ trợ đào tạo nghề, truyền nghề và nâng cao tay nghề cho các doanh nghiệp (DN), cơ sở CNNT là 569,276 tỷ đồng, chiếm 30,6% tổng kinh phí khuyến công thực hiện được.

Chương trình đã hỗ trợ đào tạo nghề, truyền nghề, nâng cao tay nghề và nâng cao năng lực quản lý cho các DN, cơ sở CNNT có nhu cầu đổi mới sản phẩm, mở rộng sản xuất. Cụ thể, đã tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 451.000 lao động, với kinh phí thực hiện là 470,439 tỷ đồng; đào tạo về khởi sự và nâng cao năng lực quản lý cho 70.392 lượt cán bộ quản lý, điều hành tại các cơ sở CNNT, với kinh phí thực hiện là 98,837 tỷ đồng.

Hoạt động đào tạo nghề, truyền nghề chủ yếu bằng hình thức đào tạo tại chỗ, ngắn hạn (tối đa 3 tháng) gắn với DN, cơ sở CNNT. Các Sở Công Thương đã hướng dẫn xây dựng kế hoạch đào tạo nghề xuất phát từ nhu cầu của DN, cơ sở CNNT. Đồng thời, thực hiện đa dạng hóa các ngành nghề, chương trình đào tạo, lấy mục tiêu là trang bị cho người lao động (NLĐ) các kỹ năng, kỹ thuật phù hợp với thực tế đầu tư trang thiết bị, công nghệ của DN, đảm bảo NLĐ sau đào tạo có khả năng vào làm việc ngay được trên dây chuyền sản xuất của đơn vị. Do các đề án đào tạo nghề đều gắn với nhu cầu sử dụng lao động của DN, vì vậy, tỷ lệ NLĐ có việc làm sau đào tạo rất cao, đạt tới 95,54%.

Nói về hiệu quả mà hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề mang lại cho DN, bà Ngô Thị Diệu Linh, Giám đốc Công ty TNHH May Phù Yên, tỉnh Sơn La chia sẻ: “Là một DN chuyên may các sản phẩm áo jacket xuất khẩu gián tiếp sang thị trường các nước châu Á, châu Âu và châu Mỹ, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo, nâng cao tay nghề cho NLĐ. Bởi tay nghề của công nhân được nâng cao thì mới tăng năng suất lao động, đồng thời, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về chất lượng của các đơn hàng xuất khẩu. Năm 2017, việc phối hợp của Trung tâm Khuyến công Sơn La với Công ty trong đào tạo nguồn lao động là hình thức hỗ trợ rất phù hợp và thiết thực, giúp DN chúng tôi có được đội ngũ công nhân có tay nghề cao, giảm tối đa chi phí đào tạo đầu vào và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm”.

Có thể thấy, công tác đào tạo nghề đã mang lại hiệu quả thiết thực, giúp DN, cơ sở CNNT bổ sung lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu sản xuất, chủ động được nguồn lao động. Đồng thời, tạo điều kiện để NLĐ tiếp cận với nghề có thu nhập ổn định, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp./.

Nguồn: congnghieptieudung.vn

 
Khuyến công khu vực phía Bắc: Gánh nặng dồn về cuối năm

Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch khuyến công nửa đầu năm 2018 của các địa phương khu vực phía Bắc đạt thấp, trước tình hình trên, Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) đã đề nghị, các địa phương dồn sức triển khai thực hiện nhiều giải pháp, nhằm bảo đảm hoàn thành kế hoạch đúng tiến độ, mục tiêu đề ra.


 

KC phia Bac 1

Nâng cao năng lực quản lý và khởi sự DN là nội dung khuyến công được các tỉnh phía Bắc chú trọng

Tỷ lệ hoàn thành thấp

Theo số liệu từ Cục Công Thương địa phương, tổng kế hoạch kinh phí khuyến công năm 2018 được duyệt của 28 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc là 130 tỷ đồng. Tính đến hết quý II/2018, kinh phí toàn vùng đã thực hiện 46,022 tỷ đồng, đạt 35,4% kế hoạch năm.

Trong 6 tháng đầu năm, đào tạo nâng cao năng lực quản lý và khởi sự cho doanh nghiệp (DN) là nội dung được các địa phương trong khu vực thực hiện sát sao nhất, tỷ lệ giải ngân của nhóm nội dung này đạt tới 65% kế hoạch năm. Tiếp đến là nội dung hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất, có tổng kinh phí đạt trên 26,574 tỷ đồng, tuy nhiên chỉ đạt 38% kế hoạch năm.

Tỷ lệ thực hiện của các nội dung khác cũng khá thấp so với kế hoạch năm, như: Đào tạo nghề đạt 20,9%; hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn (CNNT) tiêu biểu, 29%; chương trình tư vấn, trợ giúp các cơ sở CNNT 26,54%; chương trình hỗ trợ liên doanh, liên kết hợp tác kinh tế và phát triển các cụm công nghiệp (CCN) 14,55% …

Như vậy có thể thấy, khối lượng công việc đã thực hiện của công tác khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc trong nửa đầu năm 2018 là khá thấp. Nguyên nhân được đại diện Cục Công Thương địa phương cho rằng, ở một số địa phương công tác khảo sát, xây dựng kế hoạch, đề xuất và chất lượng đề án còn hạn chế, ít các đề án mang tính điển hình và tính lan tỏa; việc đăng ký và triển khai thực hiện đề án chưa thực sự bám sát nhu cầu, tính khả thi chưa cao, do đó còn nhiều đề án phải điều chỉnh trong năm, cá biệt có một số đề án xin ngừng vì không triển khai được. Tổ chức thực hiện và tạm ứng, thanh toán kinh phí khuyến công chậm so với tiến độ và yêu cầu, làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện kế hoạch chung.

Công tác thẩm định cấp cơ sở đối với đề án đăng ký hỗ trợ từ kinh phí khuyến công quốc gia vẫn còn hạn chế; còn có đề án thẩm định mang tính thủ tục, không bám sát nội dung yêu cầu, không đúng nội dung chương trình, sai dự toán, hồ sơ thủ tục còn thiếu so với quy định, không xét giao kế hoạch được hoặc khi triển khai thực hiện còn gặp khó khăn, vướng mắc dẫn đến phải ngừng, điều chỉnh, gia hạn.

Cùng đó, Cục Công Thương địa phương đã có văn bản gửi các địa phương yêu cầu đổi mới hoạt động khuyến công quốc gia theo hướng hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm. Tuy nhiên cho đến nay, mới chỉ ghi nhận sự tham gia tích cực của một số địa phương, đặc biệt, vẫn chưa có nhiều tỉnh, thành phố mạnh dạn xây dựng đề án điểm có quy mô lớn, thời gian thực hiện dài hạn.

KC phia Bac 2

Cần đổi mới công tác khuyến công

Nỗ lực hoàn thành mục tiêu

Báo cáo Tình hình hoạt động khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc năm 2017, 6 tháng đầu năm 2018 và nhiệm vụ giải pháp hoàn thành kế hoạch năm 2018, các địa phương trong khu vực đã thống nhất mục tiêu những tháng cuối năm. Theo đó, các địa phương phấn đấu thực hiện hoàn thành 100% các đề án khuyến công đã được giao; xây dựng kế hoạch khuyến công năm 2019 đúng thời hạn, có chất lượng, trong đó có ít nhất 40% địa phương đã xây dựng được đề án điểm; 100% địa phương cử cán bộ chuyên trách về hoạt động khuyến công tham gia các chương trình đào tạo, tập huấn về kiến thức phát triển công nghiệp và chuyên môn nghiệp vụ về công tác khuyến công…

Để hoàn thành mục tiêu này, Cục Công Thương địa phương đề nghị Sở Công Thương các tỉnh, thành phố theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện đề án khuyến công, bảo đảm đúng tiến độ, quy định; tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai đề án khuyến công.

Thực hiện tốt công tác xây dựng kế hoạch khuyến công năm 2019, thực hiện mục tiêu đổi mới cách thức xây dựng kế hoạch các hoạt động khuyến công theo hướng có trọng tâm, trọng điểm; khắc phục và giảm mạnh việc khảo sát, lựa chọn các đề án dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp.

Sở Công Thương các địa phương cần tăng cường thực hiện chức năng tham mưu giúp UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác khuyến công trên địa bàn. Nâng cao năng lực và kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ lãnh đạo Trung tâm khuyến công và các phòng chuyên môn, chi nhánh cấp huyện, hệ thống khuyến công viên cấp huyện, xã đủ mạnh về số lượng và chất lượng. Mở rộng hoạt động thông tin tuyên truyền, phổ biến kịp thời, chính xác các thông tin về cơ chế, chính sách, các hoạt động khuyến công và công nghiệp địa phương tới các cơ sở CNNT.

Ngoài ra, các tỉnh, thành phố cần tăng cường liên kết giữa các địa phương với nhau và liên kết giữa các vùng để trao đổi kinh nghiệm trong phát triển ngành và hoạt động khuyến công, nhằm phát huy thế mạnh của mỗi địa phương, đồng thời khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của cả vùng, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương nói riêng và cả nước nói chung.

Theo: http://kinhtevn.com.vn



 
Sửa đổi, bổ sung quy định về việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia

Ngày 10/7/2018, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư số17/2018/TT-BCTsửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2013/TT-BCT ngày 27/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia. 


Theo đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung đáng chú ý như sau:

Sửa đổi khoản 3 và bổ sung khoản 5, khoản 6 vào Điều 2:

“3. Đề án khuyến công quốc gia điểm (sau đây gọi là đề án điểm) là đề án khuyến công quốc gia (sau đây gọi là đề án) được lập theo ngành nghề sản xuất các sản phẩm có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh của quốc gia, vùng, địa phương; có từ 02 nội dung hoạt động khuyến công và 02 đối tượng thụ hưởng trở lên; thời gian thực hiện từ 02 đến 03 năm; các nội dung hoạt động khuyến công trong đề án có sự liên kết nhằm khuyến khích, hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển công nghiệp nông thôn theo hướng có trọng tâm, trọng điểm.”

“5. Đề án khuyến công quốc gia theo nhóm (sau đây gọi là đề án nhóm) là đề án khuyến công quốc gia có từ 02 đối tượng thụ hưởng trở lên thực hiện cùng một nội dung hoạt động khuyến công.”

6. Đề án khuyến công quốc gia theo đối tượng cụ thể là đề án có một đối tượng thụ hưởng xác định cho một nội dung hoạt động khuyến công trên một địa bàn cụ thể.”.

Bổ sung Điều 3a vào sau Điều 3:

Điều 3a. Cách thức triển khai thực hiện đề án nhóm, đề án điểm

1. Đề án nhóm

a) Đề án nhóm gồm: Đề án đào tạo nghề, truyền nghề; nâng cao năng lực quản lý, khởi sự thành lập doanh nghiệp; tư vấn, trợ giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn; hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ, triển lãm; hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; hỗ trợ xây dựng, đăng ký nhãn hiệu;

b) Đề án nhóm không yêu cầu phải xác định địa điểm, đơn vị thụ hưởng, đơn vị phối hợp khi thẩm định cấp Bộ. Riêng đề án nhóm hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phải lập theo từng lĩnh vực, sản phẩm có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh của vùng, địa phương trên cơ sở danh mục ngành nghề được hưởng chính sách khuyến công quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 45/2012/NĐ-CP; phải xác định địa điểm, đơn vị thụ hưởng, chủng loại máy móc thiết bị khi thẩm định cấp Bộ và xác định đơn vị phối hợp, thông số kỹ thuật của máy móc thiết bị khi lập kế hoạch triển khai để làm cơ sở ký kết hợp đồng khuyến công quốc gia.

2. Đề án điểm

a) Khi thẩm định cấp Bộ, các nội dung hoạt động khuyến công trong năm đầu kế hoạch phải xác định cụ thể địa điểm, đơn vị thụ hưởng, đơn vị phối hợp (trừ các nội dung theo nhóm thực hiện như quy định tại điểm b khoản 1 Điều này);

b) Đối với việc xây dựng kế hoạch các năm tiếp theo: Các địa phương, đơn vị, Trung tâm Khuyến công quốc gia ở các vùng chịu trách nhiệm rà soát, điều chỉnh nội dung hoạt động khuyến công phù hợp với tình hình thực tế, lập thành kế hoạch khuyến công quốc gia cho năm dự toán ngân sách trên cơ sở đã xác định cụ thể các nội dung yêu cầu như đối với năm đầu kế hoạch để thẩm định theo quy định;

c) Đề án điểm sau khi được Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt kế hoạch kinh phí khuyến công quốc gia trong năm đầu kế hoạch, sẽ được ưu tiên bố trí kinh phí các năm tiếp theo để thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.”.

Sửa đổi, bổ sung Điều 7:

Điều 7. Tiêu chí chung và tiêu chí ưu tiên lựa chọn đề án, nhiệm vụ

1. Tiêu chí chung

a) Phù hợp với nguyên tắc lập đề án theo quy định tại Điều 4 Thông tư này;

b) Nội dung hoạt động khuyến công có tác động khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên phạm vi quốc gia, vùng, địa phương;

c) Phù hợp với mức hỗ trợ kinh phí khuyến công quốc gia theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công Thương;

 d) Đơn vị thực hiện đề án không vi phạm hợp đồng khuyến công quốc gia trong 02 năm gần nhất.

2. Tiêu chí ưu tiên

a) Ưu tiên lựa chọn các đề án điểm; đề án có ngành nghề, địa bàn ưu tiên theo quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn về khuyến công;

b) Trường hợp các đề án triển khai trên địa bàn có điều kiện như nhau, ngành nghề như nhau thì ưu tiên lựa chọn đề án của đơn vị có kinh nghiệm, năng lực tổ chức thực hiện tốt hơn.”.

Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 11:

“a) Cục Công Thương địa phương trình Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt đối với các đề nghị điều chỉnh: Tăng tổng mức kinh phí hỗ trợ; thay đổi nội dung hoạt động khuyến công; gia hạn thời gian thực hiện đề án sang năm tiếp theo; bổ sung hoặc ngừng thực hiện đề án để điều chỉnh kinh phí hỗ trợ giữa các đơn vị thực hiện trong năm ngân sách;”.

Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 11:

“4. Đối với các đề án nhóm do Sở Công Thương thẩm định, đăng ký (trừ đề án nhóm hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp), khi điều chỉnh thay đổi địa điểm, đơn vị phối hợp, đơn vị thụ hưởng, Sở Công Thương chịu trách nhiệm kiểm tra, thẩm định và điều chỉnh kế hoạch thực hiện, đồng thời gửi văn bản điều chỉnh về Cục Công Thương địa phương để theo dõi, tạm ứng, thanh quyết toán.”.

Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 6 Điều 12:

“1. Việc tạm ứng, thanh toán và quyết toán kinh phí khuyến công quốc gia áp dụng đối với các đơn vị thực hiện đề án, nhiệm vụ của một số nội dung hoạt động khuyến công quốc gia (bên B) thông qua hợp đồng ký với Cục Công Thương địa phương theo kế hoạch khuyến công quốc gia được Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt. Đối với các đề án, nhiệm vụ giao cho các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Công Thương, Vụ Tài chính và Đổi mới doanh nghiệp thực hiện thẩm định dự toán, xét duyệt quyết toán theo quy định hiện hành.”

“6. Đơn vị thực hiện đề án phải hoàn trả Cục Công Thương địa phương để nộp ngân sách nhà nước đối với phần kinh phí đã nhận nhưng không có khối lượng thanh toán, những khoản kinh phí đã sử dụng nhưng không được quyết toán theo chế độ quy định.”.

Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 và điểm b, điểm c, điểm d khoản 2 Điều 13:

“1. Tạm ứng 30% kinh phí hỗ trợ của đề án

a) Đối với các đề án hỗ trợ: Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp; sửa chữa, nâng cấp hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường tại cụm công nghiệp;”

“2. Tạm ứng 70% kinh phí hỗ trợ của đề án

b) Đối với các đề án hỗ trợ hoạt động: Tư vấn, đào tạo, tập huấn, hội nghị, hội thảo, diễn đàn; tham quan khảo sát; xây dựng, đăng ký nhãn hiệu; hỗ trợ các phòng trưng bày giới thiệu quảng bá sản phẩm tại các cơ sở công nghiệp nông thôn; thành lập các hiệp hội, hội ngành nghề; xây dựng các cụm liên kết doanh nghiệp công nghiệp; đánh giá sản xuất sạch hơn.

Hồ sơ tạm ứng: Hợp đồng thực hiện đề án; kế hoạch tổ chức thực hiện đề án của đơn vị thực hiện (đối với các hoạt động đào tạo, hội nghị, hội thảo, tham quan khảo sát; xây dựng, đăng ký nhãn hiệu);

c) Đối với các đề án hỗ trợ: Tổ chức hội chợ, triển lãm; hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ triển lãm; xây dựng các chương trình truyền hình, truyền thanh; xây dựng cơ sở dữ liệu, trang thông tin điện tử; in tờ rơi, tờ gấp; các hình thức thông tin đại chúng khác; lập quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp.

Hồ sơ tạm ứng: Hợp đồng thực hiện đề án; hợp đồng hỗ trợ giữa đơn vị thực hiện với chủ đầu tư (đối với đề án hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp);

d) Đối với các đề án hỗ trợ: Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, dây chuyền công nghệ vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; mô hình áp dụng sản xuất sạch hơn; sửa chữa, nâng cấp hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường tại các cơ sở công nghiệp nông thôn.

Hồ sơ tạm ứng: Hợp đồng thực hiện đề án, báo cáo tiến độ của đơn vị thực hiện xác định giá trị khối lượng công việc đã thực hiện tương ứng trên 70% tổng vốn đầu tư của dự án.”.

Sửa đổi khoản 13 và bổ sung khoản 16 vào Điều 14:

“13. Đề án hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp: Quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết của cơ quan có thẩm quyền; Hợp đồng, biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng tương ứng 100% số kinh phí thực hiện.”

“16. Đối với đề án hỗ trợ thành lập doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nông thôn: Thực hiện thanh toán 01 lần sau khi đề án hoàn thành; hồ sơ thanh toán gồm: Hợp đồng thực hiện đề án; biên bản nghiệm thu cơ sở theo Mẫu số 5b của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này; báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện đề án; báo cáo khối lượng hoàn thành và kinh phí thực hiện hợp đồng theo Mẫu số 3b của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này; bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do cơ quan có thẩm quyền cấp.”.

Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 23:

“a) Các đơn vị thực hiện đề án hàng tháng lập báo cáo tiến độ thực hiện các đề án theo Mẫu số 3a của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này gửi Cục Công Thương địa phương, Sở Công Thương trước ngày 25 hàng tháng. Đối với báo cáo tiến độ liên quan đến đề nghị tạm ứng kinh phí khuyến công phải có kiểm tra, xác nhận của Sở Công Thương nơi triển khai thực hiện đề án.”.

Thay thế, bổ sung, bãi bỏ một số mẫu biểu tại các Phụ lục:

a) Thay thế Mẫu số 2, Mẫu số 4a, Mẫu số 4b, Mẫu số 5b, Mẫu số 6, Mẫu số 10 của Phụ lục 1 và Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2013/TT-BCT bằng các mẫu và phụ lục tương ứng ban hành kèm theo Thông tư này;

b) Bổ sung Mẫu số 14, Mẫu số 15, Mẫu số 16, Mẫu số 17 vào Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2013/TT-BCT như tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này;

c) Bãi bỏ Mẫu số 9 của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2013/TT-BCT.

Thông tư số 17/2018/TT-BCT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 23/8/2018./.

TTKC&TVPTCN Quảng Ninh

 
Hoạt động khuyến công khu vực phía Bắc năm 2018: Cần tăng tốc để hoàn thành kế hoạch

Trong những năm gần đây, hoạt động khuyến công của cả nước nói chung và 28 tỉnh thành khu vức phía Bắc nói riêng đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận. Quy mô, chất lượng của các đề án ngày càng được nâng cao, đã có tác động rõ nét đến sự phát triển công nghiệp ở nông thôn.


Tổ chức Hội chợ hàng CNNTTB KV phía Bắc nằm trong chuỗi hoạt động KCQG năm 2018

Tổ chức Hội chợ hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực phía Bắc nằm trong chuỗi hoạt động Khuyến công quốc gia năm 2018

Cùng với đó, hoạt động khuyến công cũng nhận được sự quan tâm ngày càng nhiều từ phía lãnh đạo các ngành, các cấp tại mỗi địa phương, qua đó, đã góp phần tích cực trong triển khai các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ, giúp DN ổn định SXKD, tháo gỡ phần nào khó khăn về vốn đầu tư.

Kết quả đạt được         

Năm 2018, do Bộ Tài chính yêu cầu giải trình kế hoạch đối với các dạng đề án ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến thực hiện đơn lẻ nên việc giao và triển khai thực hiện các đề án chậm hơn so với năm 2017, do đó ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các chương trình, đề án trong 6 tháng đầu năm.

Theo báo cáo của Cục Công Thương địa phương, tổng kinh phí khuyến công (KC) năm 2018 được duyệt của 28 tỉnh, thành khu vực phía Bắc là 130,005 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 6/2018, kinh phí toàn vùng đã thực hiện đạt 46,022 tỷ đồng, tăng 9,1% so với năm 2017, đạt 35,4% kế hoạch năm. Cụ thể, đối với công tác đào tạo, truyền nghề và nâng cao tay nghề đã thực hiện đào tạo nghề cho 745 lao động, với kinh phí thực hiện là 1,082 tỷ đồng, đạt 17,77% kế hoạch. Công tác nâng cao năng lực quản lý được triển khai nhanh nhất, với kinh phí thực hiện là 3,99 tỷ đồng, đạt 65% kế hoạch. Cũng trong 6 tháng qua, 8 mô hình trình diễn kỹ thuật đã được tổ chức thực hiện; hỗ trợ được 146 cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) ứng dụng máy móc thiết bị hiện đại vào dây chuyền sản xuất, hỗ trợ đánh giá sản xuất sạch hơn cho 2 cơ sở CNNT, với tổng kinh phí thưc hiện là 26,574 tỷ đồng, đạt 38% kế hoạch. Công tác phát triển sản phẩm CNNT tiêu biểu đã thực hiện được 5.896, đạt 29% kế hoạch, trong đó, đã tổ chức 01 hội chợ, hỗ trợ 95 cơ sở CNNT tham gia; hỗ trợ đăng ký và xây dựng thương hiệu cho 3 cơ sở CNNT. Hỗ trợ 13 dự án tư vấn lập dự án đầu tư, marketing, quản lý sản xuất – tài chính – kế toán – nhân lực, giải ngân được 560 triệu đồng, đạt 26,54% kế hoạch. Công tác cung cấp thông tin về các chính sách phát triển công nghiệp khuyến công đã giải ngân được 3,895 tỷ đồng, đạt 50% kế hoạch. Chương trình hỗ trợ liên doanh, liên kết hợp tác kinh tế và phát triển các cụm công nghiệp đã thực hiện được 1,36 tỷ đồng, đạt 14,55% kế hoạch. Cùng với đó, hoạt động tư vấn phát triển công nghiệp trong 6 tháng đầu năm đã tư vấn cho 115 dự án, với doanh thu đạt 4,301 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ và đạt 40% kế hoạch.

Mặc dù do yếu tố khách quan dẫn đến việc triển khai thực hiện các đề án bị chậm so với kế hoạch. Tuy nhiên, nhờ công tác quản lý nhà nước về KC ngày càng được củng cố; tổ chức hệ thống KC được quan tâm đầu tư, kết nối hoạt động ngày càng hiệu quả; công tác xây dựng, thẩm định, hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện và thanh quyết toán đề án có nhiều chuyển biến tích cực, nên các đề án KC triển khai thực hiện đạt kết quả tốt, đã hỗ trợ khuyến khích các cơ sở CNNT thúc đẩy sản xuất, đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị sản phẩm, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ. Mặt khác, còn khuyến khích các cơ sở CNNT khai thác tốt tiềm năng nguồn nguyên liệu hiện có trên địa bàn các tỉnh, thành phố, tạo ra giá trị sản xuất chung của ngành, sự chuyển dịch cơ cấu CNNT theo hướng công nghiệp hóa.

Giải pháp để hoàn thành nhiệm vụ

Từ kết quả thực hiện kế hoạch 6 tháng đầu năm, để hoàn thành kế hoạch KC năm 2018, Cục Công Thương địa phương đã đề ra những giải pháp chính cần thực hiện trong những tháng còn lại đó là: Tiếp tục triển khai đồng bộ Chương trình hành động của ngành Công Thương về thực hiện các Nghị quyết số 01 và 19 năm 2018; Nghị quyết 35 năm 2016 của Chính phủ. Sở Công Thương các tỉnh, thành phố cần theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện đề án khuyến công đảm bảo đúng tiến độ, quy định; tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và tháo gỡ kịp thời khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai các đề án khuyến công; kịp thời tạm ứng kinh phí thực hiện đề án thanh lý hợp đồng và quyết toán kinh phí theo quy định. Thực hiện tốt công tác xây dựng kế hoạch KC năm 2019 theo hướng xây dựng các hoạt động có trọng tâm, trong điểm; rà soát nhu cầu của đối tượng thụ hưởng, xây dựng đề án điểm, đề án nhóm, đề án hỗ trợ cơ sở CNNT có sản phẩm CNNT tiêu biểu cấp khu vực, cấp quốc gia, đảm bảo có sự liên kiết, tác động lan tỏa, tránh việc dàn trải, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp; chú trọng phát triển các ngành và sản phẩm công nghiệp ưu tiên làm nền tảng cho hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, hướng tới hình thành các cụm công nghiệp hỗ trợ theo cụm liên kết chuỗi, ngành, xây dựng mô hình các cơ sở CNNT đi đầu, dẫn dắt các cơ sở khác tại địa phương. Sở Công Thương các tỉnh, thành phố cần tăng cường thực hiện tốt chức năng tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác KC; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác KC; đầu tư cơ sở vật chất, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan, đồng thời quan tâm bố trí kế hoạch vốn cho hoạt động KC. Đẩy mạnh và mở rộng phương thức hoạt động thông tin tuyên truyền nhằm chuyển tải đầy đủ, kịp thời, chính xác những thông tin về cơ chế, chính sách, hoạt động KC và công nghiệp địa phương tới các cơ sở CNNT. Cùng với đó, đẩy mạnh hoạt động tư vấn phát triển công nghiệp, tạo nguồn thu và hỗ trợ thực hiện các hoạt động KC ngày càng hiệu quả hơn. Đặc biêt, cần tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành trong vùng và liên kết giữa các vùng để trao đổi kinh nghiệm, qua đó, vừa phát huy được thế mạnh của mỗi địa phương, vừa liên kết khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng, lợi thế của cả vùng…

Có thể thấy, mặc dù hoạt động KC trong 6 tháng đầu năm của các tỉnh, thành khu vực phía Bắc đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn chậm. Để hoàn thành được kế hoạch được giao thì nhiệm vụ trước mắt là khá nặng nề, đòi hỏi Sở Công Thương, Trung tâm KC, cùng chính quyền các cấp ở địa phương và các cơ sở CNNT phải tăng tốc, tập trung triển khai thực hiện các chương trình, đề án thì mới có thể hoàn thành tốt được kế hoạch được giao./.

Nguồn: congnghieptieudung.vn

 
Ngành Công Thương đồng hành cùng doanh nghiệp

7 tháng năm 2018, tất cả các chỉ số sản xuất công nghiệp, doanh thu dịch vụ, xuất nhập khẩu (XNK) của Quảng Ninh đều tăng cao và vượt kế hoạch. Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,13%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 19%, tổng kim ngạch XNK tăng 12,5%. Kết quả này là những nỗ lực của ngành Công Thương trong thực hiện các giải pháp đồng hành cùng doanh nghiệp.


Cong thuong QN dong hanh cung DN1

Ngành Công Thương tổ chức hội nghị phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Quản lý ngoại thương.

Để kịp thời tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp, ngành Công Thương thường xuyên đối thoại với các doanh nghiệp thông qua hội nghị, hòm thư điện tử, điện thoại, kiểm tra, giám sát... Ngay sau khi nhận được câu hỏi, lãnh đạo sở đã chỉ đạo phòng chuyên môn nghiên cứu văn bản, trả lời rõ ràng, minh bạch, công khai vấn đề doanh nghiệp đưa ra. Trong tháng 6 vừa qua, ngành đã phối hợp với đơn vị liên quan làm việc trực tiếp tại một số doanh nghiệp sản xuất điện, chế biến, vật liệu xây dựng để nắm bắt những khó khăn cụ thể, đổi mới cách thức tiếp xúc doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả của việc đồng hành.

Qua làm việc thực tế cho thấy, các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn từ thị trường, tiêu thụ, nguyên liệu đầu vào... như Công ty CP Nhiệt điện Cẩm Phả - TKV đang gặp vướng mắc về địa điểm xây dựng nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng từ tro xỉ thải do địa điểm nghiên cứu quy hoạch của nhà máy nằm trong ranh giới nghiên cứu quy hoạch của khu bến cảng Cẩm Phả. Hay như Công ty CP XNK Thủy sản II Quảng Ninh gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu đầu vào ngày càng khan hiếm, khiến công ty phải thu mua nguyên liệu tại các tỉnh, thành khác. Việc hoàn thiện, đầu tư cơ sở hạ tầng tại cơ sở mới để phục vụ di dời, chi phí đầu tư cho xử lý môi trường tăng, chưa thu hút được lao động... đã ảnh hưởng đến sản xuất của công ty.

Ngành Công Thương đã kịp thời kiến nghị với UBND tỉnh các giải pháp tháo gỡ vướng mắc, như: Hỗ trợ doanh nghiệp nguồn lao động đáp ứng yêu cầu sản xuất; tạo điều kiện thuận lợi trong việc trao đổi với các tổ chức nước ngoài về khoa học, công nghệ; hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận vốn vay ưu đãi từ ngân hàng và tỉnh; cung cấp nguồn điện ổn định; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiêu thụ, sản xuất, kinh doanh... Thông qua các buổi làm việc, ngành cũng tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng kế hoạch phát triển công nghiệp giai đoạn 2030, có xét đến 2045.

Thời gian qua, ngành Công Thương cũng thực hiện tốt công tác tham mưu cho tỉnh trong việc đề ra các chủ trương, chính sách, các biện pháp phù hợp, duy trì tăng trưởng đồng đều sản xuất công nghiệp. Điển hình, tham mưu cho UBND tỉnh về kế hoạch xuất khẩu than năm 2019; phối hợp cùng các sở, ban, ngành và địa phương triển khai tháo gỡ khó khăn cho ngành Than theo thông báo số 288/UBND-CN ngày 16/1/2018 của UBND tỉnh; tăng cường quản lý hoạt động vận chuyển, chế biến, tiêu thụ than. Qua đó, những khó khăn, vướng mắc của ngành Than đã cơ bản được giải quyết.

Bên cạnh đó, ngành đang phối hợp với các địa phương rà soát, tổng hợp, điều chỉnh quy hoạch phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn; hỗ trợ di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp; hướng dẫn các thủ tục thu hút đầu tư vào cụm công nghiệp...

Cong thuong QN dong hanh cung DN2

Sản xuất gạch không nung tại Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền (TX Đông Triều). 

Để hoàn thành mục tiêu kim ngạch XNK hàng hóa trên địa bàn tăng 10% so với cùng kỳ, ngay từ đầu năm, ngành Công Thương đã tham mưu các giải pháp đẩy mạnh XNK hàng hóa. Đồng thời, chủ động xây dựng, soạn thảo, ban hành quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo thương mại biên giới, quy chế phối hợp quản lý cửa khẩu của các lực lượng chuyên ngành, gia hạn thực hiện thí điểm tạm nhập tái xuất hàng hóa qua cửa khẩu Ka Long...

Trên cơ sở nắm bắt thường xuyên các vướng mắc phát sinh trong việc triển khai các chính sách liên quan đến XNK, ngành đã tham mưu tổ chức hội nghị đẩy mạnh hoạt động kinh tế cửa khẩu biên giới, ban hành quyết định cho phép thương nhân tham gia hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa qua các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới, làm thủ tục trực tiếp tại cơ quan hải quan; công bố thực hiện mua bán hàng hóa qua cửa khẩu, lối mở; công bố danh mục nhóm mặt hàng không thuộc danh mục các mặt hàng có điều kiện thì không cần thực hiện đăng ký với UBND tỉnh; công bố lối mở cầu phao Km3+4… Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện XNK hàng hóa.

Cùng với đó, thường xuyên hỗ trợ, tổ chức, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia triển lãm, trưng bày tại các hội chợ trong và ngoài nước, giúp doanh nghiệp nắm bắt được thông tin để tiếp cận, khảo sát thị trường, tìm kiếm đối tác kinh doanh. Hiện ngành đang xây dựng dự thảo tiêu chí lựa chọn đơn vị tổ chức hội chợ nhằm nâng cao chất lượng hội chợ nói riêng và hoạt động xúc tiến thương mại nói chung.

Năm 2018, ngành Công Thương tiếp tục tập trung đơn giản hoá các thủ tục hành chính (TTHC), cắt giảm 50% thời gian giải quyết các TTHC theo quy định, nhất là TTHC liên quan tới doanh nghiệp trong việc thực hiện các thủ tục cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận... Từ đầu năm đến nay, ngành đã tham mưu UBND tỉnh sửa đổi phí và lệ phí của 21 TTHC, hủy bỏ hoàn toàn 9 TTHC, bãi bỏ 22 TTHC, ban hành mới 40 TTHC thuộc lĩnh vực quản lý cạnh tranh. Đồng thời, triển khai dịch vụ công trực tuyến 100% số TTHC ở mức độ 3; giải quyết, xử lý 100% văn bản, công việc trên môi trường mạng và số hoá; chuyển 100% TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết theo thẩm định, phê duyệt, tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp.

Theo: Baoquangninh.com.vn

 

 

 
Hội nghị khuyến công khu vực phía Bắc lần thứ XIII tại tỉnh Nghệ An: Tìm hướng đi phù hợp cho công tác khuyến công giai đoạn công nghiệp 4.0

Chiều ngày 1/8, Sở Công Thương tỉnh Nghệ An  phối hợp với Cục Công Thương địa phương (Cục CTĐP - Bộ Công Thương) đã tổ chức chương trình Hội nghị Khuyến công các tỉnh, Thành phố khu vực phía Bắc lần thứ XIII năm 2018. 


1907 Toan cYnh hYi nghi

Toàn cảnh hội nghị Khuyến công 28 tỉnh, thành phía Bắc

Theo báo cáo trình bày tại Hội nghị, năm 2017 tổng kế hoạch kinh phí khuyến công của 20 tỉnh, thành phố phía Bắc là 128.925 triệu đồng, đạt 95,6% so với kế hoạch năm, tăng 4,5% so với tổng kinh phí khuyến công thực hiện năm 2016. Trong năm 2018, nguồn kinh phí khuyến công phía Bắc là 130.005 triệu đồng, trong vòng 6 tháng đầu năm kinh phí toàn vùng đã thực hiện được 46.022 triệu đồng đạt 35,4% kế hoạch năm.

Công tác đào tạo nghề trong năm 2017 đã đào tạo cho 4.020 lao động với kinh phí thực hiện là 7.206 triệu đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2018 đã tào tạo nghề cho 745 lao động, đạt 20,79% kế hoạch, với kinh phí là 1.082 triệu đồng. Cũng trong vòng 6 tháng đã tổ chức trình diễn được 08 mô hình trình diễn kỹ thuật; Chương trình phát triển sản phẩm CNNT tiêu biểu đã tổ chức 01 hội chợ, hỗ trợ 95 cơ sở CNNT tham gia, với kinh phí thực hiện được 5.896 triệu đồng, đạt 29% kế hoạch năm…

Đánh giá về kết quả hoạt động khuyến công của 20 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc ông Nguyễn Hồng Phong- Phó cục Trưởng cục Công Thương Địa phương- cho rằng, công tác triển khai các nội dung hoạt động khuyến công của các tỉnh, thành phố phíaBắcđã ngày càng đa dạng và phong phú hơn; các hoạt động khuyến công đã bám sát mục tiêu, kế hoạch của Chương trình KCQG và KCĐP. Hoạt động khuyến công đã góp phần tích cực vào thực hiện kế hoạch sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở các địa phương và khu vực.

Các hoạt động quản lý Nhà nước về khuyến công cũng ngày càng được củng cố. Đa phần các tỉnh, thành phố đã đẩy mạnh các hoạt động khuyến công nhằm hỗ trợ các hoạt động phát triển công nghiệp tại các địa phương. Hoạt động khuyến công đã bám sát mục tiêu, kế hoạch của chương trình khuyến công quốc gia cụ thể hóa bằng các dự án, đề án. Qua đó, góp phần tích cực trong triển khai thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết 19/NQ-CP hay Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên, CTĐP cho rằng, các hoạt động khuyến công tại phía Bắc vẫn còn nhiều hạn chế như: công tác khảo sát xây dựng kế hoạch, đề xuất các đề án khuyến công và chất lượng đề án của một số địa phương còn hạn chế, chưa đa dạng, ít các đề án mang tính điển hình và tính lan tỏa chưa cao; Việc đăng kí và triển khai thực hiện các đề án chưa thực sự bám sát nhu cầu cơ sở CNNT, một số đề án tính khả thi chưa cao, tổ chức thực hiện và tạm ứng còn chậm so với tiến độ; Công tác thẩm định cấp cơ sở còn chưa tốt, mang tính thủ tục, không bám sát nội dung yêu cầu.

Một số tỉnh chưa xây dựng Quy chế về quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động khuyến công tại địa phương; cơ sở vật chất làm việc và phương tiện ở một số Trung tâm còn thiếu; Hoạt động tư vấn phát triển công nghiệp của một số địa phương còn chưa được đẩy mạnh, nguồn thu thấp, số lượng dự án và doanh thu từ hoạt động tư vấn chưa xứng với tiềm năng và thế mạnh của các Trung tâm khuyến công…

Cục CTĐP cũng đề ra 08 giải pháp chính để hoàn thành kế hoạch năm 2018, trong đó cần tập trung thực hiện: Triểnkhai đồng bộ Chương trình hành động của ngành Công Thương với việc thựchiệnNghị quyết 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ; Chương trình hành động của Bộ Công Thương triển khai thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP tại Quyết định số 19- 2018/NQCP;Nghị quyết số 35/NQ-CP…

Chủ động trong công tác tham mưu, đề xuất nhanh việc xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về hoạt động khuyên công đáp ứng kịp thời với yêu cầu thực tiễn; Tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai đề án khuyến công, đảm bảo hoàn thành các đề án khuyến công được giao đúng tiến độ, sử dụng kinh phí đúng mục đích; Tăng cường công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, phổ biến văn bản, quy định mới về công tác khuyến công để nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến công; Đổi mới đa dạng các hình thức thông tin tuyên truyển, cung cấp thông tin về công nghiệp, khuyến công…

Tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành phố trong vùng và liên kết giữa các vùng; Nâng cao năng lực và kiện toàn tổ chức của Trung tâm; Đẩy mạnh hoạt động tư vấn tạo nguồn thu và hỗ trợ thực hiện các hoạt động khuyến công; Việc xây dựng các chương trình, đề án khuyến công cần được tổ chức khảo sát, đánh giá nhu cầu thực tế, quan tâm theo hướng hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm…

Tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng phương thức hoạt động, chủ động tuyên truyền thông tin, đầy đủ kịp thời các cơ chế chính sách đến các cơ sở; tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành phố để trao đổi kinh nghiệm trong phát triển ngành và hoạt động khuyến công, phát huy lợi thế của cả vùng.

2752 cY

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An trao Bằng khen của Bộ Công Thương cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác khuyến công.

Thông qua báo cáo, tại hội nghị, các đại biểu đã nghe ý kiến và thảo luận của các tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thái Bình…đề ra các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác khuyến công những tháng cuối năm 2018 và những năm tiếp theo, nhấn mạnh những giải pháp trong triển khai thực hiện tốt các Nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; chủ động tham mưu, đề xuất nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách về hoạt động khuyến công phù hợp với mỗi địa phương; thực hiện có hiệu quả các kế hoạch, đề án khuyến công quốc gia và khuyến công địa phương, từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển.

Phát biểu kết luận tại Hội nghị, Thứ trưởng Đặng Hoàng An đã chỉ ra một số vấn đề vừa là tồn tại và cũng là khó khăn, hạn chế trong hoạt động khuyến công của khu vực, cụ thể: "khu vực phía Bắc, địa bàn nông thôn nhất là vùng có điều kiện khó khăn chưa hấp dẫn với các nhà đầu tư để tham gia đầu tư vào sản xuất CNNT và phát triển các dịch vụ khuyến công. Bên cạnh đó, cán bộ làm công tác khuyến công, nhất là cán bộ chủ chốt thường xuyên biến động, luân chuyển, vì vậy việc bám sát địa bàn để xây dựng đề án chưa hiệu quả; công tác thông tin tuyên truyền về chính sách khuyến công và các hoạt động khuyến công còn hạn chế, chưa được quan tâm.

Vai trò của khuyến công trong giai đoạn mới phải làm cái gì? trước thời đại 4.0 Trung tâm Khuyến công của các tỉnh đã chuẩn bị gì để đón đầu. Hình hài của Khuyến công thay đổi trong tương lai như thế nào? Toàn bộ tư duy, tập trung từ nguồn ngân sách, mới tìm cách để tiêu tiền, còn kiếm tiền chưa thấy đâu?

Khuyến công cũng tồn tại nhiều vấn đề, các sở ban ngành quan tâm, liên quan đến cụm công nghiệp, môi trường, tránh hệ luỵ lâu dài về tác hại của môi trường. Nhiệm vụ của các sở ở đâu trong vân đề môi trường? Vai trò của các sở Công Thương ở đâu? Hiện các doanh nghiệp đang rất thiếu thông tin trong khi công nghiệp nông thôn ở các tỉnh còn nhiều tiềm năng chưa khai phá. Cần phải lắng nghe ý kiến của các doanh nghiệp, phải có nhiều cách làm phù hợp với xu thế hiện nay..."- Thứ trưởng Đặng Hoàng An nhấn mạnh.

Nhân dịp này, Thứ trưởng Đặng Hoàng An đã thay mặt lãnh đạo Bộ Công Thương trao tặng bằng khen Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Công Thương cho 13 cánhân và tập thể đã có thành tích xuất sắc trong công tác khuyến công. Đồng thời, Ban tổ chức trao Cờ đơn vị đăng cai tổ chức hội nghị khuyến công các tỉnh, Thành phố khu vực phía Bắc năm 2019 cho Sở Công Thương tỉnh Hải phòng.

Theo congthuong.vn

 
« Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối »

Trang 4 trong tổng số 20

Hình ảnh hoạt động

  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Dành cho quảng cáo



Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay204
mod_vvisit_counterHôm qua433
mod_vvisit_counterTrong tuần3204
mod_vvisit_counterTuần trước2274
mod_vvisit_counterTrong tháng7065
mod_vvisit_counterTháng trước0
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ421682

Khách trực tuyến: 19
IP của bạn: 162.158.78.237
Hôm nay 25 tháng 08 năm 2019