Tin tức sự kiện
Tạo động lực cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ

Nâng cao chất lượng, đổi mới công nghệ là yêu cầu đặt ra với nhiều doanh nghiệp (DN ) trong giai đoạn mới với các DN trong ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT), yêu cầu đó còn cấp thiết hơn, nhất là kh i những DN trong ngành này ch ủ yếu là DN vừa và nhỏ. Trước thực tế đó, Chính phủ đã có nhiều ch ính sách tạo động lực và điều kiện thuận lợi để phát triển ngành CNHT.


 

Hỗ trợ chuyển giao công nghệ

Xác định vai trò quan trọng của việc phát triển CNHT giúp đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cho các DN CNHT. Cụ thể, Nghị định số 111/2015/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành CNHT đã đưa ra một số chính sách như Nhà nước hỗ trợ tối đa 50% kinh phí đối với thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm các sản phẩm CNHT; tối đa 50% kinh phí đầu tư trang thiết bị nghiên cứu; 50% kinh phí chế tạo thử nghiệm các sản phẩm CNHT thuộc danh mục sản phẩm ưu tiên phát triển; 75% chi phí chuyển giao công nghệ đối với các dự án sản xuất vật liệu có sử dụng trên 85% nguyên liệu trong nước.

Tao dong luc cho Cn ho tro

Tiếp đó, Quyết định số 10/2017/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế quản lý và thực hiện chương trình phát triển CNHT cũng quy định hỗ trợ tối đa 100% cho hoạt động xây dựng và ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực CNHT, xây dựng và công bố tiêu chuẩn về nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng; hỗ trợ tối đa 50% cho hoạt động nghiên cứu ứng dụng, sản xuất thử nghiệm sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển, chuyển giao công nghệ cho các DN và các cơ sở nghiên cứu trong lĩnh vực CNHT.

Ngoài ra, ngành CNHT còn được ưu tiên xem xét hỗ trợ từ nguồn vốn của Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia đối với các chi phí chuyển giao công nghệ, mua bản quyền thiết kế, mua phần mềm, thuê chuyên gia nước ngoài. Bên cạnh đó, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia cũng thực hiện cho vay ưu đãi, bảo lãnh để vay vốn cho các tổ chức, DN nói chung, trong đó có DN CNHT phát triển công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, công nghệ cao…

Nâng cao tỷ lệ nội địa hóa

Đáng nói hơn, thông qua thực hiện các chương trình/đề án khoa học và công nghệ cấp quốc gia đã tạo ra nhiều chủng loại vật liệu, linh kiện, sản phẩm, quy trình công nghệ… phục vụ ngành CNHT có chất lượng cao, có khả năng thay thế các sản phẩm nhập khẩu cùng loại với giá thành thấp phục vụ nhu cầu của các DN trong nước.

Điển hình, các nhiệm vụ thuộc Chương trình nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ vật liệu mới đã tạo ra trên 90 loại vật liệu, máy móc và trên 100 quy trình công nghệ, trong đó bao gồm nhiều loại vật liệu thuộc lĩnh vực CNHT như bột huỳnh quang ba màu, màng bảo quản thực phẩm, cao su kỹ thuật, khuôn mẫu kim loại…

Hoặc, Chương trình nghiên cứu ứng dụng và phát triển cơ khí tự động hóa đã triển khai các đề tài với hầu hết các sản phẩm được chế tạo lần đầu ở trong nước có khả năng ứng dụng cao. Trong đó có nhiều sản phẩm thuộc lĩnh vực CNHT như hệ thống tự động mài và bôi keo đế giày, mũ giày trong sản xuất giày dép, sản xuất linh kiện nhựa có độ chính xác cao, hệ thống đổ sợi tự động, hệ thống khuôn ép phun…

Đặc biệt, các nhiệm vụ thuộc Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đã hỗ trợ một số DN sản xuất sản phẩm CNHT như đổi mới và hoàn thiện công nghệ chế tạo các chi tiết điển hình từ hợp kim kẽm, hợp kim nhôm nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, hướng tới thị trường quốc tế; thiết kế và chế tạo một số loại đồ gá hàn khung vỏ xe ô tô con; công nghệ chế tạo vật liệu tản nhiệt cho thiết bị điện, điện tử trên nền ống vật liệu nano carbon…

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, để thúc đẩy các DN CNHT phát triển cần có những chính sách thiết thực và hiệu quả, cùng với đó cần có các giải pháp hỗ trợ cụ thể để các DN có thêm nhiều điều kiện thuận lợi và động lực để phát triển ngành CNHT.

Theo: congthuong.vn

 

 
Tạo sức bật cho công tác khuyến công

Mặc dù đã đạt được những hiệu quả đáng ghi nhận, tuy nhiên thời gian qua, công tác khuyến công trên địa bàn tỉnh vẫn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới hiệu quả đạt được của chương trình.


Quảng Ninh đang thực hiện Đề án “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; tinh giản bộ máy, biên chế”. Theo đó, các đơn vị sự nghiệp phải dần tự chủ kinh phí hoạt động và thực hiện cơ chế đặt hàng với UBND tỉnh. Năm 2015 và 2016, Quảng Ninh cấp 50% kinh phí chi thường xuyên cho Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh. Từ năm 2017, tỉnh không cấp kinh phí chi thường xuyên, trung tâm phải tự chủ 100% chi phí. Do vậy, việc đặt hàng với UBND tỉnh để tạo việc làm và thu nhập ổn định cho cán bộ, nhân viên trung tâm là rất khó khăn.

Tao suc bat cho CT KC

Cán bộ Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh khảo sát tại xưởng sản xuất hương của HTX Phú Hải, TX Đông Triều.

Đơn cử như năm 2018, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp được giao tự chủ 100% kinh phí hoạt động theo Quyết định 5303/QĐ-UBND và đặt hàng, giao nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo Công văn số 3297/UBND, với tổng số kinh phí là 2 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ cho 17 đề án thực hiện các hoạt động khuyến công địa phương với kinh phí trên 1,5 tỷ đồng; kinh phí hoạt động tiết kiệm năng lượng là 438,4 triệu đồng... Nguồn kinh phí được phê duyệt thấp hơn nhiều so với nhu cầu của địa phương đã đăng ký nên không hấp dẫn được các doanh nghiệp, cơ sở đầu tư mở rộng sản xuất..

Để tháo gỡ những vướng mắc trên, đồng thời giúp trung tâm thực hiện và hoàn thành đầy đủ các nội dung của hoạt động khuyến công, Sở Công Thương đã chủ động xây dựng nhiều giải pháp khắc phục khó khăn, hoàn thành hiệu quả chương trình khuyến công của tỉnh.

Trong đó tập trung hỗ trợ đào tạo nghề; xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật; các sản phẩm chủ lực; nắm bắt thông tin về công nghệ, sản phẩm, thị trường, thiết bị sản xuất để cung cấp; tăng cường bám sát cơ sở, tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai đầu tư sản xuất, từ đó có những biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời.

Sở cũng phối hợp cùng các cơ quan liên quan xây dựng chương trình, đề án khuyến công cụ thể, phù hợp với điều kiện của địa phương và gắn với Chương trình mỗi xã, phường một sản phẩm; kết nối tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của tỉnh vào hệ thống các siêu thị, trung tâm thương mại và doanh nghiệp sản xuất lớn trên địa bàn tỉnh; giảm thiểu việc xây dựng chương trình, đề án dàn trải, nhỏ lẻ; tăng cường xây dựng những đề án mang tính liên kết; nhân rộng các đề án khuyến công điển hình, hiệu quả.

Tao suc bat cho CT KC1

Chi nhánh Công ty TNHH Gốm sứ Quang Vinh là một trong những đơn vị được Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh hỗ trợ kinh phí đầu tư máy móc sản xuất công nghệ cao.

Với nhiều giải pháp cụ thể, phù hợp, mặc dù còn gặp không ít khó khăn nhưng năm 2018, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh đã triển khai hoàn thiện các nội dung hỗ trợ theo yêu cầu của UBND tỉnh và nguồn kinh phí cấp. Cùng với đó, hoạt động tiết kiệm năng lượng cũng được triển khai đồng bộ và hiệu quả với việc tuyên truyền tiết kiệm năng lượng trên các trang thông tin đại chúng, tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức về tiết kiệm năng lượng trên địa bàn tỉnh, tuyên truyền phổ biến ứng dụng công nghệ mới, năng lượng tái tạo xăng E5 trong giao thông vận tải…

Ông Nguyễn Duy Tuấn, Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh, cho biết: Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Trung tâm đã thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí khuyến công đúng mục đích, đúng quy định và có hiệu quả. Các đề án khuyến công được thực hiện đúng quy định của cơ quan quản lý có thẩm quyền về công tác khuyến công như: Xây dựng đề án khuyến công bảo đảm đúng quy định về nội dung, lập hồ sơ, thủ tục và các yêu cầu theo quy định; thực hiện tốt công tác nghiệm thu cơ sở, công tác thanh quyết toán đảm bảo thời gian và nội dung đầy đủ…Tuy nhiên, dù cho công tác khuyến công đã được đầu tư nguồn lực lớn trong thời gian qua, nhưng trong quá trình triển khai, đơn vị vẫn gặp phải những khó khăn nhất định và cần sự hỗ trợ hơn nữa để bảo đảm thực hiện hiệu quả chương trình.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 

 
HỘI THẢO GIỚI THIỆU CÁC DỰ ÁN TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG CHO NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Sáng ngày 04/04/2019, tại thành phố Hải Phòng, Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững, Bộ Công Thương phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) đã tổ chức Hội thảo Giới thiệu các Dự án tiết kiệm năng lượng cho ngành công nghiệp Việt Nam.

Sau 5 năm thực hiện dự án này, dự kiến số tiền tiết kiệm được hàng năm lên tới 11 nghìn tỷ đồng. Mục tiêu của dự án là nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp Việt Nam thông qua huy động tài chính thương mại, góp phần đạt mục tiêu quốc gia về tiết kiệm năng lượng (TKNL), hỗ trợ thực hiện triển khai các nhiệm vụ giảm phát thải nhà kính (GHG), ứng phó với biến đổi khí hậu.

Đây là nỗ lực để thực hiện Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 280/QĐ-TTg ngày 13/03/2019. Theo đó, trong thời gian thực hiện dự án tiết kiệm năng lượng này từ năm 2018 đến năm 2022 dự tính lượng năng lượng tiết kiệm đạt 0,93 triệu TOE/ năm, trong đó: lượng điện năng tiết kiệm: 1,853 triệu MWh/năm; lượng than tiết kiệm 1,075 triệu tấn/năm.

Dự án này được chia thành 2 hợp phần, hợp phần thứ nhất là cho vay đầu tư về lĩnh vực TKNL với giá trị 156 triệu USD trong đó IBRD cho vay 100 triệu USD, 56 triệu USD còn lại do các ngân hàng tham gia (BIDV và VietcomBank) cùng các doanh nghiệp công nghiệp đầu tư. Hợp phần thứ 2 của dự án là hỗ trợ kỹ thuật với số vốn 1,7 triệu USD gồm: hỗ trợ công tác đánh giá, giám sát dự án; Kiểm toán các hoạt động của Ban quản lý dự án; Kiểm toán các ngân hàng tham gia dự án; Kiểm toán các tiểu dự án vay vốn đầu tư vào các giải pháp TKNL của doanh nghiệp; Tư vấn đánh giá thực hiện chính sách môi trường và xã hội của dự án.

Lượng khí thải nhà kính (CO2) dự kiến được giảm tới 4,835 triệu tấn/năm là một trong những nỗ lực để thực hiện cam kết của chính phủ về cắt giảm lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính.

Phát biểu tại buổi hội thảo, bà Nguyễn Thị Lâm Giang - Vụ trưởng Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững - Bộ Công Thương cho rằng, để đảm bảo đủ cung ứng năng lượng cho nền kinh tế quốc dân, Bộ Công Thương luôn quan tâm đến vấn đề năng lượng và an ninh năng lượng.

Dự tính nguồn điện lưới quốc gia tầm nhìn đến năm 2030 sẽ ngày càng hạn hẹp khi Chính phủ chủ trương dừng các dự án điện hạt nhân, ngoài ra đã khai thác gần như triệt để các nguồn hồ đập thuỷ điện lớn và trung bình do đó tiết kiệm năng lượng cho các ngành công nghiệp là vấn đề rất cấp thiết.

Trong bài phát biểu về Giới thiệu Dự án thúc đẩy tiết kiệm năng lượng cho ngành Công nghiệp Việt Nam, ông Chu Bá Thi, Chuyên gia cao cấp về Năng lượng, WB cho hay, Dự án này thiết lập quỹ để huy động vốn tài chính thương mại, nâng cao tiết kiệm năng lượng cho Việt Nam, 2 đối tượng hưởng lợi chính là doanh nghiệp công nghiệp và các đơn vị hỗ trợ thương mại. Dựa trên phân khúc thị trường cho thấy ở một số nước như Việt Nam cơ chế chính sách chưa đầy đủ và 2 hỗ trợ tài chính, tiếp cận nguồn vốn còn hạn chế.

Do đó, xây dựng năng lực cho các bên liên quan, đào tạo và tập huấn cho các bên liên quan ở chính phủ, ngân hàng và doanh nghiệp là nhiệm vụ chính của dự án này. Đồng thời, kiến tạo ra thị trường bền vững và đảm bảo các nguồn bảo lãnh là nhiệm vụ chính mà Ngân hàng thế giới đặt ra tại các dự án.

Hợp phần dự án “Thúc đẩy thị trường đầu tư tiết kiệm và hiệu quả năng lượng trong lĩnh vực công nghiệp Việt Nam” do Chính phủ Hàn Quốc và Chính phủ Việt Nam phối hợp thực hiện, 10 doanh nghiệp trọng điểm của Việt Nam đã được kiểm toán năng lượng và tư vấn áp dụng những giải pháp công nghệ tiên tiến nhất để tiết kiệm năng lượng một cách hiệu quả. Các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước đã đồng hành cùng dự án, đưa ra nhiều giải pháp hữu ích nhằm tiết kiệm năng lượng ở nhiều hạng mục khác nhau ứng dụng tại các nhà máy sản xuất công nghiệp và thương mại đồng thời có những cam kết thiết thực về tỷ lệ tiết kiệm năng lượng.

Ông Park Yong Soo, Phó chủ tịch Tập đoàn COSMOTOR Hàn Quốc, Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ, Chủ tịch CESS International Corporation (CESS) cùng các chuyên gia đại diện cho doanh nghiệp cung cấp Hệ thống tiết kiệm điện CESS tới từ Hàn Quốc đã có bài trình bày chi tiết về những công nghệ tiết kiệm điện mới nhất trên thế giới ứng dụng lý thuyết về sóng năng lượng hoạt hoá (sóng electron hoá trị - Electron Valence wave).

Đây là một công nghệ tiên tiến đã được CESS ứng dụng nhiều năm qua tại 45 quốc gia trên thế giới cho tỷ lệ tiết kiệm điện cam kết từ 6% tới 15% với nhiều quy mô nhà máy, toà nhà, cơ quan, khách sạn. Trong khuôn khổ dự án, Hệ thống tiết kiệm điện CESS đã được triển khai đo kiểm tại Nhà máy Giấy An Hoà, Nhà máy thức ăn chăn nuôi DABACO, Nhà máy may Việt Thắng cho kết quả tiết kiệm điện năng từ 8% tới 10%.

Các giải pháp tiết kiệm năng lượng đang được các chuyên gia nghiên cứu, đưa vào báo cáo của dự án và khuyến khích ứng dụng mang lại hiệu quả tiết kiệm đáng kể ở quy mô rộng như: lắp đặt hệ thống tiết kiệm điện CESS tại trạm biến áp hoặc tủ phân phối, cải thiện tỷ lệ không khí thừa, làm mát hệ thống máy nén khí bằng nước, lắp đặt biến tần tại các máy phù hợp, thay thế lò trung tần, thay thế lò đốt than bằng lò đốt sinh khối, thu hồi nước ngưng, điều chỉnh áp suất máy nén khí, cải tạp hệ thống chiếu sáng, cải tạo hệ thống hút thải khí,... Để hỗ trợ tài chính cho các dự án tiết kiệm năng lượng sử dụng nguồn quỹ tín dụng xanh, đại diện Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VietcomBank) và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm bổ ích. Với các dự án quy mô vừa và nhỏ, Công ty Cho thuê tài chính TNHH BIDV-SuMi TRUST (BSL) cam kết sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp Việt để thúc đẩy việc áp dụng các giải pháp công nghệ Tiết kiệm năng lượng, các Hệ thống tiết kiệm điện vào thực tế trong thời gian nhanh nhất. Sự phối hợp chặt chẽ và quyết liệt của Chính phủ Việt Nam thông qua Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững, Bộ Công thương và các nhà tài trợ cũng như các doanh nghiệp uy tín trong và ngoài nước đã mở ra một Kỷ nguyên mới về Tiết kiệm năng lượng./.

TTKC&TVPTCN

 
Gỡ khó cho ngành công nghiệp hỗ trợ

Mặc dù ngành công nghiệp hỗ trợ đã và đang là động lực trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, nhưng hiện nay, tại Quảng Ninh ngành này vẫn còn rất thiếu và yếu. Thực tế này đang đòi hỏi tỉnh phải có những giải pháp phát triển mạnh mẽ công nghiệp hỗ trợ, nếu không muốn chỉ là một công xưởng gia công, lắp ráp đơn thuần. 


Go kho cho CN ho tro

Sản xuất kinh doanh hàng may mặc tại Công ty TNHH May mặc Hoa Lợi Đạt Việt Nam (KCN Cảng biển Hải Hà).

Tính đến hết năm 2018, trên địa bàn Quảng Ninh có 78 doanh nghiệp hoạt động phát triển công nghiệp hỗ trợ. Trong đó có 15 doanh nghiệp dệt may, 3 doanh nghiệp da giầy, 3 doanh nghiệp điện - điện tử, 3 doanh nghiệp lắp ráp ô tô, 53 doanh nghiệp cơ khí chế tạo và 1 sản phẩm hỗ trợ cho công nghệ cao.

Theo kết quả khảo sát, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện nay còn ở mức thấp. Phần lớn sản phẩm công nghiệp hỗ trợ do các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng cho thị trường có chất lượng chưa cao, khả năng cạnh tranh hạn chế so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Vì thế, rất khó vươn ra xuất khẩu và vẫn chưa đủ đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, chủng loại, mẫu mã, số lượng cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước.

Điển hình như lĩnh vực dệt may, hiện công nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu ngành này trên địa bàn tỉnh ít phát triển. Năm 2018, toàn tỉnh mới có một số doanh nghiệp tham gia sản xuất, tuy nhiên, quy mô nhỏ, phân tán, hoạt động chủ yếu dưới dạng gia công. Tương tự như vậy, ở lĩnh vực da giầy, các doanh nghiệp sản xuất chỉ tập trung về lĩnh vực nguyên vật liệu và phụ liệu, chưa hình thành các cụm liên kết ngành trong sản xuất công nghiệp hỗ trợ ngành da giầy tại các vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh.

Theo báo cáo đánh giá khảo sát của Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp, tiềm năng phát triển công nghiệp hỗ trên địa bàn tỉnh mới chỉ ở giai đoạn tìm hướng đi, chưa đáp ứng được nhu cầu của các ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp; các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hỗ trợ còn rất ít, công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh yếu kém; sản phẩm hỗ trợ còn nghèo nàn về chủng loại, kiểu dáng, mẫu mã đơn điệu, giá thành cao hơn nhiều sản phẩm cùng loại nhập khẩu; nhân lực phục vụ công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng... Vì vậy, chưa thể tham gia chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa toàn cầu.

Go kho cho CN ho tro 1

Gia công giầy da ở Công ty TNHH Giầy da Sao Vàng (Uông Bí).Ảnh: Việt Hoa

Để gỡ khó cho ngành công nghiệp hỗ trợ, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 37/KH-UBND ngày 18/2/2019 về triển khai thực hiện chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Quảng Ninh giai đoạn 2019-2025. Theo đó, sẽ tập trung đẩy mạnh phát triển sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ phục vụ sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong nước và hướng tới xuất khẩu, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Phấn đấu đến năm 2020, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh đáp ứng khoảng 30%, và đến năm 2025 đáp ứng khoảng 50% nhu cầu sản xuất công nghiệp trong tỉnh.

Ông Nguyễn Duy Tuấn, Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh cho biết: Để đưa ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh đi đúng hướng và đạt được kết quả như mong đợi, trung tâm sẽ từng bước thực hiện kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, trở thành nhà cung ứng sản phẩm cho khách hàng trong và ngoài nước. Cùng với đó, trung tâm cũng thực hiện kêu gọi xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này và hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý đáp ứng yêu cầu của các chuỗi sản xuất toàn cầu trong quản trị doanh nghiệp, quản trị sản xuất.

Trước mắt, trung tâm sẽ tập trung hỗ trợ đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các ngành sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ; nghiên cứu phát triển, ứng dụng chuyển giao và đổi mới công nghệ trong sản xuất linh kiện, phụ tùng, nguyên liệu, vật liệu. Đồng thời, xây dựng và vận hành hiệu quả trang thông tin về công nghiệp hỗ trợ để các doanh nghiệp nắm bắt được thông tin, định hướng đúng đắn trong việc phát triển và hội nhập.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Phê duyệt Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030

Ngày 13/3/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 280/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030. Chương trình triển khai đồng bộ các hoạt động trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Chương trình được ban hành thể hiện sự cam kết của các cấp chính quyền, các cơ quan ban ngành từ trung ương đến địa phương, các hiệp hội, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và cộng đồng về tiết kiệm năng lượng nói riêng, về ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường nói chung. 


Phe duyet ctrinh QG TKNL

Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030 được thực hiện thành 2 giai đoạn từ 2019 - 2025 và 2026 – 2030 với các nhiệm vụ chủ yếu: Rà soát, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (SDNL TK&HQ); Hỗ trợ kỹ thuật và tài chính nhằm thúc đẩy các dự án đầu tư, sản xuất, kinh doanh về SDNL TK&HQ đối với các hoạt động như sản xuất, chế tạo, cải tạo, chuyển đổi thị trường phương tiện, trang thiết bị, máy móc, dây chuyền sản xuất,…; Xây dựng trung tâm dữ liệu năng lượng Việt Nam, các cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin về năng lượng và SDNL TK&HQ; Tăng cường năng lực về SDNL TK&HQ; Tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc, hướng dẫn thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện quy định của pháp luật về SDNL TK&HQ.

Bên cạnh đó, Chương trình cũng tập trung truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về SDNL TK&HQ; Tăng cường quan hệ, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực SDNL TK&HQ; Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về SDNL TK&HQ và Thành lập Quỹ thúc đẩy SDNL TK&HQ.

Chương trình nhằm huy động mọi nguồn lực trong nước và quốc tế cho thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thông qua việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp quản lý nhà nước, hỗ trợ kỹ thuật, nghiên cứu khoa học công nghệ và phát triển sản phẩm, chuyển đổi thị trường, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, tranh thủ kinh nghiệm và sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Bên cạnh đó, hình thành thói quen sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong mọi hoạt động của xã hội; giảm cường độ năng lượng trong các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế; tiết kiệm năng lượng trở thành hoạt động thường xuyên đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm và các ngành kinh tế trọng điểm tiêu thụ nhiều năng lượng; hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Chương trình đề ra mục tiêu đạt mức tiết kiệm năng lượng 5,0 đến 7,0% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2025 và từ 8 - 10% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc trong giai đoạn từ 2019 đến năm 2030. 

Chương trình quốc gia về SDNL TK&HQ giai đoạn 2019 – 2030 được triển khai trên phạm vi cả nước và áp dụng với mọi đối tượng bao gồm các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến hoạt động sử dụng và quản lý năng lượng tại Việt Nam. Tổng kinh phí dự kiến khoảng 4.400 tỷ đồng. Trong đó, kinh phí sự nghiệp kinh tế thuộc ngân sách Trung ương khoảng 600 tỷ đồng; nguồn viện trợ không hoàn lại khoảng 1.600 tỷ đồng; vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi khoảng 2.200 tỷ đồng.

Chương trình được xây dựng dựa trên sự kế thừa và phát huy những kết quả tích cực và khắc phục những hạn chế của Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả các giai đoạn trước, phối hợp và lồng ghép với các Chương trình khác đang được triển khai thực hiện.

Nguồn: http://tietkiemnangluong.com.vn/

 
Tìm mọi giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến công

Trước hiện trạng công tác khuyến công của Tỉnh còn gặp nhiều khó khăn trong triển khai; tận dụng, khai thác triệt để mọi tiềm năng, điều kiện sẵn có, Sở Công Thương Hải Dương đã xây dựng nhiều giải pháp, tuy nhiên Tỉnh vẫn cần sự hỗ trợ hơn nữa từ các cấp có thẩm quyền nhằm nâng cao hiệu quả chương trình khuyến công của Tỉnh.


Thực trạng công tác khuyến công của Tỉnh còn nhiều khó khăn

Giai đoạn (2014 - 2018), Hải Dương đã nỗ lực triển khai công tác khuyến công. Thông qua các đề án hỗ trợ, công tác khuyến công phần nào đã giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) trên địa bàn Tỉnh cải thiện sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, theo đại diện Sở Công Thương tỉnh Hải Dương, triển khai chương trình khuyến công của Tỉnh còn gặp nhiều khó khăn.

Công tác xây dựng kế hoạch, đề xuất các dự án khuyến công và chất lượng hồ sơ đăng ký một số đề án còn hạn chế. Việc tổ chức thực hiện, thanh quyết toán kinh phí của một số đề án còn chậm so với tiến độ. Một số nội dung khuyến công chưa thực hiện được, như: Hỗ trợ liên doanh, liên kết, hợp tác phát triển kinh tế, phát triển cụm công nghiệp; hỗ trợ thành lập các hiệp hội ngành nghề; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp.

Tìm mọi cách

Cùng đó, công tác nắm bắt thông tin, tình hình hoạt động của các đơn vị nhận hỗ trợ từ khuyến công chưa thường xuyên, do vậy việc đánh giá hiệu quả sau hỗ trợ chưa sát. Số lượng các cơ sở sản xuất CNNT tham gia các chương trình khuyến công còn ít; đề án chưa đa dạng và mới chỉ tập trung vào một số nội dung như xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất.

Những khó khăn trên được xác định là do nguồn kinh phí cho chương trình khuyến công từ ngân sách Trung ương và địa phương còn hạn hẹp, mức hỗ trợ cho các đề án chưa cao đã phần nào hạn chế sự tham gia của các tổ chức và doanh nghiệp. Mạng lưới cán bộ chuyên trách làm công tác khuyến công ở cấp huyện, xã chưa có do đó việc khảo sát, tư vấn, hướng dẫn các cơ sở CNNT lập đề án và triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn.

Cùng đó, do đa phần các cơ sở CNNT là hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hoạt động manh mún, tiềm lực tài chính hạn chế nên rất khó đổi mới, ứng dụng công nghệ vào sản xuất… nên việc tham gia thực hiện các đề án khuyến công gặp nhiều khó khăn.

Các giải pháp đặt ra.

Với những khó khăn trên, đại diện Sở Công Thương tỉnh Hải Dương cho rằng, đây sẽ là trở ngại trong việc nâng cao chất lượng công tác khuyến công cũng như gia tăng sức đóng góp vào tăng trưởng ngành công nghiệp của Tỉnh. Theo đó, trong thời gian tới Tỉnh sẽ đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động thông tin, tuyên truyền cho công tác khuyến công nhằm phổ biến sâu rộng chính sách này tới các cơ sở, doanh nghiệp CNNT trên địa bàn tỉnh. Rà soát, xây dựng. sửa đổi và bổ sung hệ thống văn bản pháp luật của Tỉnh quy định về hoạt động khuyến công cho phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

Tăng cường sự chỉ đạo của các cấp trong việc triển khai công tác khuyến công. Nâng cao điều kiện cơ sở vật chất cho cán bộ làm công tác khuyến công. Phân công cán bộ phụ trách khuyến công tại các Phòng Kinh tế và Hạ tầng các huyện, thành phố nhằm tăng cường hiệu quả công tác khảo sát, lập và triển khai các đề án khuyến công. Phối hợp lồng ghép chương trình khuyến công với thực hiện các dự án, chương trình mục tiêu khác nhằm gia tăng nguồn lực thực hiện.

Tuy nhiên, để Hải Dương thuận lợi trong triển khai các giải pháp trên, đại diện Sở Công Thương Tỉnh cũng đề nghị: Bộ Công Thương xem xét tăng mức hỗ trợ kinh phí cho mỗi đề án khuyến công nhằm khuyến khích các cơ sở CNNT bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất. Hướng dẫn, quy định việc hình thành mạng lưới công tác viên khuyến công cấp huyện, xã để nắm bắt thông tin của các cơ sở sản xuất, nâng cao hiệu quả công tác khuyến công. Tổ chức các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, học tập kinh nghiệm, nâng cao trình độ đội ngũ làm công tác khuyến công qua đó gia tăng hiệu quả chương trình.

Đề nghị UBND Tỉnh, bố trí tăng kinh phí cho hoạt động khuyến công của Tỉnh theo yêu cầu, nhiệm vụ thực tế hàng năm; hình thành mạng lưới cộng tác viên khuyến công cấp huyện, xã để nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến công…

Nguồn: http://arit.gov.vn/

 
Cơ hội lớn cho doanh nghiệp phát triển sản phẩm công nghiệp hỗ trợ

Với những chính sách ưu tiên, ưu đãi của Quảng Ninh, doanh nghiệp đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Không những vậy, nếu doanh nghiệp phát triển đúng theo định hướng và nhu cầu thị trường, thì “đầu ra” cho sản phẩm công nghiệp hỗ trợ rất rộng mở.


Co hoi lon

Nhu cầu sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may đang rất lớn.(Trong ảnh: Sản xuất sợi tại Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Texhong Ngân Hà, Khu công nghiệp Cảng biển Hải Hà).Ảnh: Thái Cảnh

Thực tế ở nước ta, dù năng lực sản xuất các sản phẩm hỗ trợ trong nước trong những năm vừa qua đã dần được cải thiện, nhưng khả năng cung ứng thực tế vẫn còn nhiều bất cập, nhập siêu linh kiện, phụ tùng còn rất lớn, tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành công nghiệp rất thấp. Số liệu thống kê của Bộ Công Thương công bố cho thấy, công nghiệp hỗ trợ ở các ngành dệt may mới đạt khoảng 40-45%. Hay như tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành điện tử tin học, viễn thông chỉ đạt 15%; điện tử chuyên dụng hay công nghiệp công nghệ cao là 5%. Tuy nhiên, hầu hết các linh kiện nội địa hóa lại đều do các công ty FDI cung cấp, còn doanh nghiệp trong nước chỉ chủ yếu cung cấp vật tư tiêu hao, bao bì, in ấn… với giá trị rất nhỏ so với nhu cầu của thị trường.

Đối với tỉnh Quảng Ninh, dù là tỉnh có thế mạnh về công nghiệp, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp nội tỉnh có thể cung ứng các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ vô cùng hạn chế. Do vậy, xác định vai trò quan trọng của ngành công nghiệp hỗ trợ đối với sự phát triển ngành công nghiệp nói chung và nền kinh tế nói riêng, trên cơ sở định hướng của Chính phủ, tỉnh đã xây dựng và triển khai Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2019-2025.

Kế hoạch xác định rõ mục tiêu là đẩy mạnh phát triển sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ phục vụ sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong nước và hướng tới xuất khẩu tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Phấn đấu đến năm 2020, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh đáp ứng khoảng 30% và đến năm 2025 đáp ứng khoảng 50% nhu cầu sản xuất công nghiệp trong tỉnh.

Được biết, 2 lĩnh vực sẽ được tỉnh ưu tiên giai đoạn 2019-2025 là: Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may và công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí, chế tạo. Cụ thể, đối với công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may, tỉnh tập trung phát triển các sản phẩm phục vụ nhu cầu nguyên vật liệu và phụ liệu đáp ứng đầu vào cho các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn trong tỉnh; phát triển Khu công nghiệp hỗ trợ dệt may tỉnh Quảng Ninh (trên cơ sở Khu công nghiệp Cảng biển Hải Hà) thành trung tâm công nghiệp hỗ trợ dệt may khu vực phía Bắc.

Co hoi lon1

Công ty TNHH Yazaki chi nhánh Quảng Ninh (Khu công nghiệp Đông Mai) được đầu tư trên địa bàn TX Quảng Yên đã thu hút hàng nghìn lao động.Ảnh: Thanh Hằng

Đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí, chế tạo, sẽ tập trung nâng cao năng lực sản xuất các sản phẩm ngành đúc, gia công kim loại, khuôn mẫu, nhiệt luyện, luyện kim... Đặc biệt ưu tiên thu hút đầu tư hình thành khu công nghiệp hỗ trợ chuyên sản xuất chế tạo ra những sản phẩm công nhiệp công nghệ cao công nghiệp hỗ trợ có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao trên thị trường (Khu công nghiệp Việt Hưng giai đoạn II); các lĩnh vực hỗ trợ công nghiệp đóng tàu gồm: Chế tạo động cơ, chế tạo xích neo, chế tạo thiết bị bơm, sản xuất hộp số và hệ thống truyền động tàu thủy, chế tạo thiết bị nội thất phương tiện vận tải, sản xuất cấu kiện thép và dây điện...

Với định hướng phát triển này, Quảng Ninh phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may trong và ngoài tỉnh đạt trên 30%, và đến năm 2025 đạt trên 50% nhu cầu sản xuất công nghiệp trong tỉnh. Đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí, chế tạo, phấn đấu đến năm 2025, cung ứng khoảng 50% nhu cầu trong tỉnh.

Để đạt tới mục tiêu này, từ nay đến năm 2020, tỉnh ưu tiên cho việc kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh trở thành nhà cung ứng sản phẩm cho khách hàng trong và ngoài nước; xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Đi cùng với đó là những hỗ trợ cho doanh nghiệp trong áp dụng hệ thống quản lý đáp ứng yêu cầu của các chuỗi sản xuất toàn cầu trong quản trị doanh nghiệp, quản trị sản xuất; đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của ngành sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ...

Nhìn từ nhu cầu thị trường cho sản phẩm công nghiệp hỗ trợ đang rất lớn, cùng với đó là những chính sách ưu đãi của tỉnh, thiết nghĩ, các doanh nghiệp nên nắm bắt cơ hội để đầu tư lĩnh vực tiềm năng này, sớm tạo ưu thế cạnh tranh trên thị trường.

Công nghiệp hỗ trợ được coi là ngành sản xuất nền tảng của ngành công nghiệp, thông qua việc cung cấp linh kiện, phụ tùng và các quy trình kỹ thuật. Theo các chuyên gia kinh tế, trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, công nghiệp quốc gia không thể tồn tại và phát triển được nếu không có ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển, bởi đây là yếu tố quan trọng quyết định giá thành sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm cuối cùng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Quảng Ninh: Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình phát triển Công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2019 - 2025

UBND tỉnh Quảng Ninh vừa ban hành Kế hoạch số 37/KH-UBND ngày 18/02/2019 về Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình phát triển Công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2019 - 2025.


Quang Ninh CN ho tro

Theo đó, mục tiêu của Chương trình là đẩy mạnh phát triển sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ phục vụ sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong nước và hướng tới xuất khẩu, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Phấn đấu đến năm 2020, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh đáp ứng khoảng 30% và đến năm 2025 đáp ứng khoảng 50% nhu cầu sản xuất công nghiệp trong tỉnh; Đối tượng tham gia: Các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh.

Về nội dung bao gồm: Kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh trở thành nhà cung ứng sản phẩm cho khách hàng trong và ngoài nước; xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ; Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý đáp ứng yêu cầu của các chuỗi sản xuất toàn cầu trong quản trị doanh nghiệp, quản trị sản xuất; Hỗ trợ đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các ngành sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ; Hỗ trợ nghiên cứu phát triển, ứng dụng chuyển giao và đổi mới công nghệ trong sản xuất linh kiện, phụ tùng, nguyên liệu và vật liệu; Xây dựng và vận hành trang thông tin về công nghiệp hỗ trợ.

Nguồn kinh phí thực hiện: Căn cứ nội dung của Kế hoạch và các chính sách liên quan; hàng năm Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan xây dựng nhiệm vụ, dự toán kinh phí thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh gửi Sở Tài chính thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt làm cơ sở triển khai thực hiện.

Chi tiết Kế hoạch số 37/KH-UBND: Tại đây

TTKC&TVPTCN Quảng Ninh

 
Quảng Ninh: Hoàn thiện mạng lưới khuyến công

Trước những hạn chế còn tồn tại, ảnh hưởng đến quá trình triển khai cũng như hiệu quả của chương trình khuyến công quốc gia, Sở Công Thương Quảng Ninh đã xây dựng nhiều giải pháp tháo gỡ, trong đó trọng tâm là cải thiện chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến công, khuyến khích doanh nghiệp lớn tham gia.


Những năm qua, công tác khuyến công đã từng bước ghi dấu ấn đậm nét trong sức phát triển ngành công nghiệp nông thôn của tỉnh Quảng Ninh. Theo đại diện Sở Công Thương Quảng Ninh, có được kết quả trên là nhờ sự hỗ trợ kịp thời và bố trí thường xuyên nguồn kinh phí từ chương trình khuyến công quốc gia.

quang-ninh-hoan-thien-mang-luoi-khuyen-cong

Khuyến công quốc gia đã hỗ trợ Quảng Ninh thực hiện nhiều đề án xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật

Chỉ tính riêng từ năm 2014-2018, từ nguồn vốn khuyến công quốc gia, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ninh đã hỗ trợ thực hiện 13 đề án xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao và ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất; đào tạo nghề cho 145 lao động…

Mặc dù đã đạt được những hiệu quả đáng ghi nhận, tuy nhiên đại diện Sở Công Thương Quảng Ninh cũng cho rằng, công tác khuyến công trên địa bàn tỉnh vẫn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới hiệu quả đạt được của chương trình. Trong đó, nguồn kinh phí được phê duyệt thấp hơn nhiều so với nhu cầu của địa phương đã đăng ký nên không hấp dẫn được các doanh nghiệp, cơ sở đầu tư mở rộng sản xuất. Quy trình lập, duyệt hồ sơ đề án và thủ tục thanh toán, quyết toán còn rườm rà, trong khi đó trình độ của một số chủ đề án ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế cũng gây tâm lý e ngại trong việc triển khai thực hiện…

Trước những hạn chế đã được chỉ rõ, Sở Công Thương Quảng Ninh đã xây dựng nhiều giải pháp gỡ khó cả trước mắt và trong dài hạn. Theo đó, đến năm 2020, các đơn vị chức năng thuộc sở sẽ đẩy mạnh hoạt động tìm hiểu về công nghệ, sản phẩm, thị trường, thiết bị sản xuất để cung cấp tư vấn cho các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn. Tăng cường bám sát cơ sở thông tin kịp thời, tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai đầu tư, sản xuất công nghiệp để từ đó có những biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ hiệu quả.

Vận động một số các doanh nghiệp mạnh, có đủ năng lực đứng ra hỗ trợ và làm đầu mối để cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm cho người lao động cũng như làm đầu mối tiếp nhận người lao động sau khi đã được đào tạo nghề, tạo được sự gắn kết và thúc đẩy các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn phát triển. Có lộ trình và xây dựng hệ thống mạng lưới khuyến công từ tỉnh đến huyện, xã để mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động khuyến công.

Về dài hạn đến năm 2030, khuyến công Quảng Ninh triển khai hoạt động theo hướng tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến hình thành sự phân công sản xuất, liên kết, hợp tác tham gia chế tạo trong từng công đoạn sản phẩm. Khuyến khích, hỗ trợ sản xuất sạch hơn tại các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu phát thải và hạn chế gia tăng ô nhiễm, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người.

Sở Công Thương Quảng Ninh đề nghị, Bộ Công Thương xem xét, ban hành quyết định phê duyệt chương trình khuyến công quốc gia giai đoạn 2021-2030, làm căn cứ cho Quảng Ninh xây dựng chương trình khuyến công địa phương. Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện, định mức kinh tế- kỹ thuật đối với danh mục sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước của Bộ Công Thương trong đó có hoạt động khuyến công.

Tổng nguồn vốn thực hiện chương trình khuyến công giai đoạn 2014-2018 của Quảng Ninh là hơn 91,3 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ hơn 9 tỷ đồng, còn lại là vốn tự có của các cơ sở công nghiệp nông thôn.

 

Theo: congthuong.vn

 
Tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp đem lại 11 nghìn tỷ trong 5 năm

Sáng ngày 17/01, tại thành phố  Hội An với chủ đề tiết kiệm năng lượng, Bộ Công Thương phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) đã tổ chức Hội thảo Giới thiệu các Dự án tiết kiệm năng lượng cho ngành công nghiệp Việt Nam, đáng chú ý  tiết kiệm năng lượng sẽ đem lại được gần 11 nghìn tỷ đồng trong 5 năm triển khai dự án này.  


Hội thảo do Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững thuộc Bộ Công Thương chủ trì. Với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp Việt Nam thông qua huy động tài chính thương mại, góp phần đạt mục tiêu quốc gia về tiết kiệm năng lượng( TKNL), hỗ trợ thực hiện triển khai các nhiệm vụ giảm phát thải nhà kính(GHG), ứng phó với biến đổi khí hậu.

Theo đó, trong thời gian thực hiện dự án tiết kiệm năng lượng này từ năm 2018 đến năm 2022 dự tính lượng năng lượng tiết kiệm đạt 0,93 triệu TOE/ năm, trong đó: lượng điện năng tiết kiệm: 1,853 triệu MWh/năm; lượng than tiết kiệm 1,075 triệu tấn/năm. Lượng giảm khí thải nhà kính(CO2) 4,835 triệu tấn/năm. Đặc biệt số tiền tiết kiệm được sau khi kết thúc dự án khoảng gần 11 nghìn tỷ đồng. Dự án này được chia thành 2 hợp phần, hợp phần thứ nhất là cho vay đầu tư về lĩnh vực TKNL với giá trị 156 triệu USD trong đó IBRD cho vay 100 triệu USD, 56 triệu USD còn lại do các ngân hàng tham gia( BIDV và VietcomBank) cùng các doanh nghiệp công nghiệp đầu tư. Hợp phần thứ 2 của dự án là hỗ trợ kỹ thuật với số vốn 1,7 triệu USD gồm: hỗ trợ công tác đánh giá, giám sát dự án; Kiểm toán các hoạt động của Ban quản lý dự án; Kiểm toán các ngân hàng tham gia dự án; Kiểm toán các tiểu dự án vay vốn đầu tư vào các giải pháp TKNL của doanh nghiệp; Tư vấn đánh giá thực hiện chính sách môi trường và xã hội của dự án

Tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp đem lại 11 nghìn tỷ trong 5 năm

Ông Trịnh Quốc Vũ- Phó Vụ trưởng Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững - Bộ Công Thương phát biểu tại buổi hội thảo

Trong bài phát biểu về Giới thiệu Dự án thúc đẩy tiết kiệm năng lượng cho ngành Công nghiệp Việt Nam, ông Jukka- Pekka Strand, Chuyên gia cao cấp về Tài chính, WB cho hay, Dự án này thiết lập quỹ để huy động vốn tài chính thương mại, nâng cao tiết kiệm năng lượng cho Việt Nam, 2 đối tượng hưởng lợi chính là doanh nghiệp công nghiệp và các đơn vị hỗ trợ thương mại. Dựa trên phân khúc thị trường cho thấy ở một số nước như Việt Nam cơ chế chính sách chưa đầy đủ và hỗ trợ tài chính, tiếp cận nguồn vốn còn hạn chế. Do đó, xây dựng năng lực cho các bên liên quan, đào tạo và tập huấn cho các bên liên quan ở chính phủ, ngân hàng và doanh nghiệp là nhiệm vụ chính của dự án này. Đồng thời, kiến tạo ra thị trường bền vững và đảm bảo các nguồn bão lãnh là nhiệm vụ chính mà Ngân hàng thế giới đặt ra tại các dự án.

Bà Zhuo Chen, Chuyên gia Tài chính Carbon, WV cho hay, tiết kiệm năng lượng chúng tôi hướng đến sẽ mang lại nhiều cơ hội kinh doanh của các nước đang phát triển với lượng khí CO2 từ hiệu ứng nhà kính thải ra. Hiện Chương trình tài chính carbon đang được thúc đẩy mạnh tại WB với việc giảm thiểu các biến đổi khí hậu toàn cầu tại các quốc gia đang phát triển, từ đó Việt Nam có thể bán carbon cho các nước phát triển.

Tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp đem lại 11 nghìn tỷ trong 5 năm1

Tiết kiệm năng lượng công nghiệp có thể lấy lại gần 11 nghìn tỷ đồng trong 5 năm

Các đại biểu, khách mời là các doanh nghiệp tham gia hội thảo cũng rất quan tâm và đặt nhiều câu hỏi về cơ chế tài chính, vấn đề hỗ trợ giải ngân cho các dự án năng lượng tái tạo đang triển khai rất sôi nổi ở Việt Nam trong thời gian vừa qua.

Được biết, hiện đã có rất nhiều đơn vị doanh nghiệp tại Việt Nam đã lắp đặt thử nghiệm hệ thống tiết kiệm điện năng CESS như Gạch Thạch Bàn, KPF Vina, Cán thép Thái Trung, Gạch Catalan...

Nguồn: congthuong.vn

 
Quảng Ninh: Ban hành Quy chế mới về quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công địa phương

UBND tỉnh Quảng Ninh vừa ban hành Quyết định số 41/2018/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 về Quy chế quản lý kinh phí khuyến công địa phương và quy định mức chi cho các hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.


Theo đó, đối tượng áp dụng bao gồm các tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại huyện, thị xã, thị trấn, xã và các phường thuộc thành phố loại 2, loại 3, các phường thuộc thành phố loại 1 được chuyển đổi từ xã chưa quá 05 năm, bao gồm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn. Tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia công tác quản lý, thực hiện các hoạt động dịch vụ khuyến công...

QĐ 41

Khảo sát xây dựng kế hoạch khuyến công năm 2019

Về nội dung chi hoạt động khuyến công bao gồm chi đào tạo nghề, truyền nghề ngắn hạn. Chi hỗ trợ hoạt động tư vấn, tập huấn, đào tạo, hội thảo, diễn đàn; tham quan, khảo sát học tập kinh nghiệm trong nước, ngoài nước. Chi hỗ trợ thành lập doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nông thôn; chi hỗ trợ mở rộng thị trường tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nông thôn. Chi hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật; chuyển giao công nghệ và ứng dụng máy móc tiên tiến, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; xây dựng các mô hình thí điểm về áp dụng sản xuất sạch hơn. Chi tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu; chi tổ chức hội chợ, triển lãm hàng công nghiệp nông thôn, hàng thủ công mỹ nghệ; chi hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ, triển lãm; chi hỗ trợ xây dựng, đăng ký thương hiệu. Chi nâng cao năng lực quản lý và tổ chức thực hiện hoạt động khuyến công. Chi kiểm tra, giám sát, hướng dẫn triển khai thực hiện các chương trình, đề án và nghiệm thu hoạt động khuyến công tại địa phương….

Mức chi của hoạt động khuyến công địa phương được điều chỉnh và bám sát theo Thông tư số 28/2018/TT-BTC ngày 28/3/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công.

Chi tiết Quyết định số 41/2018/QĐ-UBND: Tại đây

TTKC&TVPTCN

 
Hoạt động khuyến công: Hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông thôn tăng năng suất, chất lượng sản phẩm

Vừa qua, thực hiện nhiệm vụ khuyến công quốc gia 2018, Cục Công Thương địa phương (CTĐP) đã tổ chức các đoàn kiểm tra, đánh giá việc duy trì hiệu quả của các đề án khuyến công quốc gia (KCQG) thực hiện trong năm 2017 tại một số địa phương trên cả nước.


HĐKC

Kết quả đánh giá chung cho thấy, việc thực hiện các đề án hỗ trợ cho các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) như: Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất,…  đã góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất của đơn vị thụ hưởng, năng suất, chất lượng sản phẩm được nâng cao, hạ giá thành, tiết kiệm nguyên vật liệu và năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường…

 

Kiểm tra tình hình thực hiện công tác khuyến công năm 2018 và đánh giá việc duy trì hiệu quả của đề án KCQG năm 2017, tại tỉnh Thái Nguyên, Đoàn công tác đã đến kiểm tra trực tiếp tại Công ty cổ phần Đúc Thái Nguyên. Năm 2017, Công ty được hỗ trợ 200 triệu đồng, thực hiện đầu tư máy móc vào sản xuất đúc kim loại. Theo đó, Công ty đã đầu tư được 01 bộ máy rung cát, công suất 10 tấn/giờ. Thời điểm kiểm tra, máy móc thiết bị được hỗ trợ đang hoạt động tốt, cho ra sản phẩm được thị trường tiêu thụ ổn định. Công ty đang có kế hoạch đầu tư mở rộng sản xuất trong thời gian tới.

 

Tại Bắc Ninh, kiểm tra đánh giá hiệu quả đề án: Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất các sản phẩm cơ khí tại Công ty Đồng Âu Lạc-TNHH cho thấy, với kinh phí KCQG hỗ trợ 200 triệu đồng, Công ty đã đầu tư mua 01 máy khắc laser, tốc độ khắc 7000mm/s. Hiện tại máy móc thiết bị được hỗ trợ đang hoạt động tốt, phát huy hiệu quả, sản phẩm đầu ra có chất lượng ổn định. Đơn vị thụ hưởng cho biết, sản phẩm của Công ty đã xuất khẩu sang thị trường châu Âu và cung cấp cho các nhà sản xuất lớn trong nước. Công ty đang có kế hoạch tiếp tục đầu tư ứng dụng công nghệ hiện đại hơn nữa vào sản xuất.

 

Cũng tại Bắc Ninh, sản phẩm của Công ty TNHH In và Bao bì Châu Thái Sơn sau khi thực hiện đề án: Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất bao bì carton cao cấp với kinh phí KCQG hỗ trợ 500 triệu đồng, đã đáp ứng được yêu cầu của các khách hàng khó tính (như tập đoàn Samsung). Sản phẩm của Công ty hiện chủ yếu cung cấp cho các doanh nghiệp khối FDI.

 

Đánh giá việc duy trì hiệu quả của đề án KCQG năm 2017 tại Đà Nẵng, Đoàn công tác đã kiểm tra tại Công ty TNHH Một thành viên Sản xuất và Thương mại Tiến Hưng. Năm 2017, Công ty được hỗ trợ 200 triệu đồng thực hiện đề án “Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất ống nhựa PVC”.  Công ty đã đầu tư máy sản xuất ống nhựa PVC  76-250mm, công suất 150 - 200 kg/giờ.  Đến nay, máy móc thiết bị được đầu tư mang lại hiệu quả cao: Sản phẩm được tiêu thụ mạnh mẽ trên thị trường, các đơn đặt hàng ngày càng tăng về số lượng, dây chuyền sản xuất luôn phải hoạt động với 100% công suất. Hiện Công ty đang lên phương án tiếp tục mở rộng sản xuất với tổng mức dự kiến đầu tư hơn 5 tỷ đồng.

 

Năm 2017, hoạt động KCQG đã thực hiện 278 đề án, với nguồn kinh phí thực hiện trên 110 tỷ đồng. Từ các kết quả kiểm tra cho thấy, hoạt động khuyến công đã tác động tích cực đến sự phát triển của các cơ sở CNNT. Sau khi có sự hỗ trợ từ các chương trình khuyến công, cơ sở CNNT đã đầu tư mở rộng sản xuất, sản phẩm được nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành, tiết kiệm nguyên vật liệu và năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường... Các ngành nghề được hỗ trợ đều gắn trực tiếp nguồn nguyên liệu tại địa phương, tạo thêm nhiều việc làm, mang lại thu nhập ổn định cho người dân trên địa bàn. Các đơn vị thụ hưởng đều mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ, đồng hành của các chương trình khuyến công để cơ sở CNNT có điểm tựa, sự động viên, đồng hành với cơ sở CNNT trong quá trình đầu tư, phát triển sản xuất./.

Theo http://arid.gov.vn/

 
Công Thương Quảng Ninh: Tiếp tục phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn địa phương

Sáng 7/1, tại TP Hạ Long, Sở Công Thương Quảng Ninh đã tổ chức hội nghị tổng kết công tác năm 2018 và triển khai nhiệm vụ năm 2019.


Năm 2018, bằng những giải pháp được triển khai đồng bộ, phát huy có hiệu quả vai trò quản lý nhà nước trên địa bàn, Sở Công Thương Quảng Ninh đã duy trì và thúc đẩy sản xuất công nghiệp, phát triển thương mại dịch vụ, ổn định thị trường, đảm bảo cung ứng điện phục vụ sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được bàn giao. Trong đó, ba chỉ tiêu của ngành đều tăng cao so với năm 2017. Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,15%; tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tăng 19,7%; kim ngạch xuất khẩu đạt mức tăng trưởng 11%, cao nhất trong những năm gần đây.

Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực Công Thương tiếp tục được đẩy mạnh, đặc biệt là tham mưu xây dựng cơ chế, chính sách, quy hoạch phát triển ngành. Các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, tháo gỡ khó khăn, phát triển thị trường hiệu quả, từ đó, giúp cho các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh ổn định, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, kho ngoại quan.

Hạ tầng thương mại được đầu tư; công tác quản lý thị trường có nhiều chuyển biến tích cực, trong đó, trên địa bàn tỉnh không xảy ra các vụ buôn lậu phức tạp. Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh với 122/122 TTHC được thực hiện tiếp nhận, giải quyết và trả kết quả tại Trung tâm Hành chính công tỉnh, ủy quyền giải quyết 94/110 TTHC thuộc thẩm quyền, triển khai 122/122 TTHC dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4.

Ngoài ra, Sở cũng tổ chức phát động các phong trào thi đua yêu nước như: Phong trào tiếp tục nghiên cứu, quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước; phong trào “Quảng Ninh chung sức xây dựng nông thôn mới” gắn với việc triển khai sâu rộng Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”...

Phát huy những kết quả đã đạt được năm 2018, triển khai nhiệm vụ năm 2019, Sở Công Thương Quảng Ninh tiếp tục phát huy nguồn lực, tích cực hội nhập; chú trọng phát triển các ngành công nghiệp – thương mại mũi nhọn, có lợi thế của địa phương phát triển công nghiệp - thương mại, góp phần thực hiện tốt chủ đề năm của tỉnh “Nâng cao chất lượng và hiệu quả dịch vụ”. Theo đó, năm 2019, Sở phấn đấu đưa chỉ số sản xuất công nghiệp toàn tỉnh đạt trên 9% so với năm 2018, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tăng 21%, kim ngạch XNK tăng 10%; đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, các chỉ số PAPI, PIPAS, PCI, ĐCI tới toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong đơn vị…

Cong Thuong Quang Ninh

Các tập thể, các nhân của đơn vị được nhận bằng khen của UBND tỉnh Quảng Ninh

Phát biểu tại hội nghị, ông Đặng Huy Hậu- Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu Sở Công Thương thẳng thắn chỉ ra các hạn chế còn tồn tại để từ đó có giải pháp khắc phục. Phó Chủ tịch Thương trực UBND tỉnh đề nghị Sở tiếp tục phát huy vai trò tham mưu hiệu quả hơn nữa trong việc triển khai Quy hoạch phát triển ngành Than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030; tăng cường quản lý vật liệu nổ công nghiệp, an toàn thực phẩm, sản xuất rượu thủ công; tham mưu cho UBND tỉnh ban hành chính sách thu hút nguồn lực xã hội hóa đầu tư hạ tầng thương mại; chủ động nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến thương mại; tích cực hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa; tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư cụm công nghiệp.

Nhân dịp này, nhiều cá nhân và tập thể của Sở Công Thương được nhận bằng khen của UBND tỉnh vì có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua năm 2018.

Theo congthuong.vn

 

 
Quảng Ninh: Quản lý, phát triển cụm công nghiệp

Ngay sau khi Nghị định số 68/2017/NĐ-CP về Quản lý, phát triển cụm công nghiệp (Nghị định 68) được ban hành, Sở Công Thương Quảng Ninh đã triển khai công tác tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn văn bản này, giúp UBND các huyện, doanh nghiệp (DN) trên địa bàn nắm bắt và thực thi nghị định.


Sớm hướng dẫn thực hiện

Theo đó,Sở Công Thương Quảng Ninhđã gửi văn bản tới các Sở, ngành, UBND huyện, hiệp hội và DN công nghiệp trên địa bàn tỉnh để tuyên truyền, đăng tải nội dung Nghị định 68 trên cổng thông tin điện tử của tỉnh. Chủ động xây dựng Dự thảo Quy chế phối hợp quản lý cụm công nghiệp (CCN). Tích cực phối hợp với các đơn vị liên quan thanh tra, kiểm tra chủ đầu tư xây dựng hạ tầng CCN về thực hiện dự án đầu tư trong cụm; chấp hành các quy định pháp luật… Qua đó, kịp thời tháo gỡ vướng mắc cho các nhà đầu tư cấp 1 và thứ cấp trong CCN. Hàng năm, Sở Công Thương đều làm việc trực tiếp với những địa phương có CCN đã thành lập trên địa bàn để hướng dẫn công tác quản lý nhà nước về CCN.

Đầu tư vào CCN1

Cụm công nghiệp Hà Khánh (Quảng Ninh) thu hút đầu tư cơ sở hạ tầng

Theo ông Phạm Quang Thái - Phó giám đốc Sở Công Thương Quảng Ninh, nhờ tích cực triển khai Nghị định 68, công tác quản lý CCN trên địa bàn tỉnh khá thuận lợi, thu hút đáng kể DN đầu tư hạ tầng kỹ thuật cũng như doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh vào CCN. Quy hoạch phát triển CCN tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Sở Công Thương chủ trì xây dựng và trình UBND tỉnh cũng đã được phê duyệt. Trên cơ sở quy hoạch này, Quảng Ninh xây dựng và ban hành các chính sách hỗ trợ hấp dẫn, phát huy hiệu quả kinh tế của CCN, đóng góp vào sức tăng trưởng kinh tế - xã hội chung của tỉnh.

Điều chỉnh chính sách phù hợp

Ông Phạm Quang Thái cho biết, Nghị định 68 ra đời đã kịp thời khắc phục những lỗ hổng trong công tác quản lý CCN; tạo hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ; quy định rõ vai trò của các cơ quan ở địa phương; làm cơ sở cho cơ quan quản lý, chủ đầu tư hạ tầng và các đơn vị liên quan chấp hành đúng quy định của nhà nước về quản lý, phát triển CCN.

Tuy nhiên, một số quy định trong Nghị định 68 chưa phù hợp với thực tế và thống nhất với các văn bản quy phạm pháp lý khác, gây khó cho công tác triển khai cũng như quản lý CCN. Cụ thể, quy định về điều kiện thành lập CCN mới có nêu, “trong trường hợp địa bàn cấp huyện đã thành lập CCN thì tỷ lệ lấp đầy trung bình của các CCN đạt trên 50% hoặc tổng quỹ đất công nghiệp cho thuê của các CCN nhỏ hơn 50ha”. Theo quy định trên, CCN được thành lập trước phải triển khai thực hiện xây dựng hoàn thiện hạ tầng, thu hút đầu tư lấp đầy hoặc thỏa mãn điều kiện trên thì mới thành lập được CCN mới.

Nghị định 68 cũng quy định: Trong trường hợp 1 CCN có nhiều DN cùng đề nghị làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, căn cứ năng lực tài chính, kinh nghiệm của từng DN và mức độ khả thi của báo cáo đầu tư…, sở Công Thương báo cáo UBND cấp tỉnh quyết định lựa chọn chủ đầu tư; Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với các sở, ngành báo cáo UBND tỉnh quyết định lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật CCN… Những quy định này không phù hợp với Luật Đầu tư, gây khó cho công tác phối hợp quản lý CCN cũng như cấp giấy chứng nhận đầu tư cho DN.

Những vướng mắc trên khiến Quảng Ninh đang gặp khó trong triển khai Nghị định 68, đồng thời ảnh hưởng tới việc thu hút đầu tư phát triển CCN trên địa bàn. Do đó, Cục Công Thương địa phương cần xem xét, đề xuất các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các quy định trên cho phù hợp hơn với thực tế.n

Theo Quy hoạch phát triển CCN tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trên địa bàn tỉnh sẽ có 20 CCN. Hiện, tỉnh đã thành lập, mở rộng được 6 CCN với tổng diện tích trên 292ha.

 

Nguồn: congthuong.vn

 
Hiệu quả từ việc sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời

Hiện nay, việc tiết kiệm năng lượng đang là một yêu cầu tất yếu phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Trong đó, sử dụng năng lượng mặt trời được xem là giải pháp hữu hiệu, mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Bởi vậy, bình nước nóng năng lượng mặt trời đã và đang được người dân, doanh nghiệp tỉnh Thái Bình tin dùng.


Binh nuoc nong

Sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời giúp tiết kiệm điện năng

Bình nước nóng năng lượng mặt trời là sản phẩm hoạt động rất an toàn. Đây là thiết bị không dùng điện mà sử dụng ánh sáng mặt trời được thu qua ống nhiệt thủy tinh chân không hoặc tấm thu nhiệt, rồi biến đổi quang năng thành nhiệt năng để đun nóng nước. Do vậy, sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời sẽ có ưu điểm là không tốn điện, luôn có nước nóng, độ bền cao và chi phí bảo trì thấp. Hiệu quả, tiện ích đem lại rất tốt. Tuy vậy trước đây, nhiều người dân tỉnh Thái Bình từng hoài nghi về những ưu điểm của bình nước nóng năng lượng mặt trời. Họ phân vân rằng: Bình nước nóng năng lượng mặt trời có thực sự tốt? Giá cả đắt đỏ? Độ bền ra sao? Liệu bình nước nóng năng lượng mặt trời có hoạt động được vào ban đêm, những ngày âm u, mưa bão hay không? Cách lắp đặt và sử dụng bình nước nóng có phức tạp?         

Trước những hoài nghi đó, từ năm 2014, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Thái Bình đã phối hợp với Phòng Kinh tế - Hạ tầng các huyện, thành phố trong tỉnh tổ chức các buổi tuyên truyền về lợi ích khi sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời. Cùng với các biện pháp tuyên truyền và nguồn kinh phí của Bộ Công Thương, UBND tỉnh, Trung tâm đã hỗ trợ kinh phí cho hàng trăm hộ dân tại các huyện Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ… khi mua và lắp đặt bình nước nóng năng lượng mặt trời với mức 500.000 đồng/hộ. Từ đó, chương trình đã góp phần làm thay đổi nhận thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm của người dân trong tỉnh.

Ông Nguyễn Công Xuyên (xóm Bắc Sơn, xã Quỳnh Thọ, huyện Quỳnh Phụ) - một trong những hộ dân được thụ hưởng lợi ích từ chương trình cho biết: “Sau khi lắp đặt và sử dụng hệ thống bình nước nóng năng lượng mặt trời một thời gian, chúng tôi thấy thiết bị thật hữu dụng và mang lại hiệu quả không ngờ. Nhà tôi có 5 người, trước đây, gia đình tôi sử dụng bình nước nóng Ariston 30 lít. Với loại bình này, chỉ tính riêng tiền điện, mỗi tháng, gia đình tôi đã phải chi trả từ 350.000 đến 400.000 đồng. Từ ngày chuyển sang dùng bình nước nóng năng lượng mặt trời, tiền điện sử dụng trong nhà đã giảm được 100.000 đồng/tháng. Với nguồn nước nóng này, chúng tôi không những dùng để tắm gội, rửa bát, nấu cơm mà còn dùng vào nhiều việc khác rất tiện lợi. Do đó, lượng điện năng tiêu thụ được tiết kiệm triệt để. Đặc biệt, sau khi thấy tính hiệu quả của việc sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời nên các hộ gia đình lân cận đã sắm cho mình một bộ phù hợp với nhu cầu sử dụng...”.

Gia đình bà Nguyễn Thị Đường (thôn Nứa, xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà) chia sẻ: “Từ ngày được Trung tâm Khuyến công tỉnh Thái Bình tuyên truyền, hướng dẫn, tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của việc tiết kiệm năng lượng. Bởi vậy, năm 2015, gia đình tôi đã chi 6,5 triệu đồng để lắp đặt bình nước nóng năng lượng mặt trời loại 140 lít. Mặc dù chi phí ban đầu khá cao so với thu nhập của gia đình, nhưng qua sử dụng, hàng tháng, gia đình chúng tôi đã tiết kiệm được rất nhiều tiền điện. Không những thế, trong nhà lúc nào cũng sẵn nước nóng để dùng, kể cả những lúc mất điện…”.         

Trao đổi với phóng viên, ông Hà Văn Hải - Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Thái Bình nhấn mạnh: “Bình nước nóng năng lượng mặt trời có độ bền sử dụng liên tục từ 12 - 15 năm, số ngày sử dụng hiệu quả từ 280 - 300 ngày/năm. Đặc biệt, dùng sản phẩm này sẽ không lo chập điện và cháy thiết bị… Để nâng cao ý thức và nhân rộng ứng dụng của bình nước nóng năng lượng mặt trời tới đông đảo người dân hơn nữa, thời gian tới, Trung tâm Khuyến công và các ngành chức năng trong tỉnh sẽ tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn, tư vấn giới thiệu về thiết bị bình nước nóng năng lượng mặt trời công nghệ cao. Đồng thời, Trung tâm cũng tiếp tục triển khai tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để vận động, hỗ trợ nhân dân nâng cao hiểu biết, lựa chọn và sử dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng hiệu quả...”.         

Có thể nói, việc tiết kiệm năng lượng là một nhu cầu tất yếu trong sinh hoạt, sản xuất và đời sống nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước một cách bền vững. Chính vì vậy, sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời đã góp phần tiết kiệm điện năng trong mỗi cơ quan, hộ gia đình, giảm bớt phụ tải cho ngành Điện. Đồng thời, nâng cao chất lượng cuộc sống và cùng toàn xã hội chung tay bảo vệ môi trường.

Nguồn: http://www.congnghieptieudung.vn/

 
« Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối »

Trang 4 trong tổng số 21

Hình ảnh hoạt động

  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Dành cho quảng cáo



Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay93
mod_vvisit_counterHôm qua356
mod_vvisit_counterTrong tuần1466
mod_vvisit_counterTuần trước2325
mod_vvisit_counterTrong tháng6494
mod_vvisit_counterTháng trước0
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ482129

Khách trực tuyến: 11
IP của bạn: 172.69.63.156
Hôm nay 24 tháng 01 năm 2020