Tin tức sự kiện
Hải Hà: Đột phá từ phát triển công nghiệp

Hải Hà xác định phát triển công nghiệp, dịch vụ là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Vì vậy, huyện khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, nhất là lĩnh vực công nghiệp, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp (KCN).


Hải Hà đột phá từ PTCN1

Sản xuất sợi tại phân xưởng sợi số 3, Công ty TNHH Texhong Ngân Hà, KCN Cảng biển Hải Hà.

Theo đó, huyện ưu tiên thu hút đầu tư phát triển các dự án công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, tiết kiệm tài nguyên, gắn với bảo vệ môi trường, tăng trưởng bền vững, tạo bước đột phá để đưa công nghiệp, dịch vụ trở thành lĩnh vực kinh tế trọng điểm của địa phương.

Huyện Hải Hà xác định hai lĩnh vực đột phá là phát triển KCN Cảng biển Hải Hà, Khu kinh tế Cửa khẩu Bắc Phong Sinh và xây dựng nông thôn mới bền vững. Trong đó, điểm nhấn cho phát triển công nghiệp của Hải Hà chính là Dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN Texhong Hải Hà do Công ty TNHH KCN Texhong Việt Nam làm chủ đầu tư, có tổng diện tích 660ha, tổng mức đầu tư trên 4.520 tỷ đồng. Qua đó đưa công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại KCN Cảng biển Hải Hà tiếp tục phát triển ổn định và đạt mức tăng trưởng cao.

Hiện đã có 12 dự án thứ cấp (vốn FDI) được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 20.742 tỷ đồng. Đến nay có 10/12 dự án đã thực hiện đầu tư 11.523 tỷ đồng (tăng 2 doanh nghiệp và đầu tư thêm 1.457 tỷ đồng so với năm 2018); có 6 doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh và đạt kết quả cao (tăng 1 doanh nghiệp so với năm 2018): Giá trị sản xuất 6 tháng năm 2019 đạt 8.141 tỷ đồng (tăng 78% so với cùng kỳ); thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước 29,71 tỷ đồng. Tổng số lao động làm việc là 9.225 người, trong đó huyện Hải Hà có 3.662 lao động (chiếm 39,7%).

Hải Hà đột phá từ PTCN2

Hiện nay, huyện Hải Hà đang tập trung phát triển vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất chè.

Nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển trong KCN Cảng biển Hải Hà, huyện đang đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng triển khai các dự án, đặc biệt, đối với diện tích 23ha thuộc dự án khu nhà ở công nhân KCN Texhong Hải Hà và dự án Bến cảng đa năng giai đoạn I tại đảo Hòn Miều của Công ty CP Tập đoàn công nghiệp Quang Trung. Trong đó, Dự án khu nhà ở công nhân có diện tích 23ha là một trong những dự án quan trọng đối với sự phát triển của KCN Cảng biển Hải Hà. Việc hoàn thành dự án sẽ góp phần tạo thiết chế văn hóa quan trọng, giúp thu hút người lao động đến làm việc, gắn bó lâu dài tại KCN. Còn Dự án Bến cảng đa năng giai đoạn I tại đảo Hòn Miều, xã Quảng Phong, đến nay, chủ đầu tư đã đúc 8 trụ bê tông móng cảng, 50 hệ kè cảng, 2 dầm bao và đang triển khai đúc 46 dầm chính của mặt cầu cảng…

Đồng thời, huyện cũng tập trung nguồn vốn đầu tư các công trình giao thông trọng điểm, kết nối giao thông các đô thị, khu du lịch, khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp bao gồm: Hoàn thiện tuyến đường công vụ từ thị trấn Quảng Hà đi KCN; nâng cấp cải tạo tuyến đường liên xã từ thị trấn Quảng Hà đi Quảng Phong, Quảng Điền; đầu tư 2 tuyến đường kết nối KCN cảng biển với thị trấn Quảng Hà, đầu tư chỉnh trang đô thị...

Hải Hà đột phá từ PTCN3

Sản phẩm chè Ngọc Thúy của Cơ sở sản xuất chè Dũng Nga, xã Quảng Long, huyện Hải Hà.

Song song với phát triển thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp FDI, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển ổn định và có mức tăng trưởng so với cùng kỳ; các sản phẩm chủ lực của địa phương đều đạt và vượt mức kế hoạch đã đề ra. Trong đó: Gạch chỉ nung: 53 triệu viên, bằng 53% kế hoạch; gạch xi măng: 11,8 triệu viên, bằng 65% kế hoạch; chế biến chè khô: 855 tấn, bằng 61% kế hoạch; đóng mới, sửa chữa tàu thuyền: 781 tấn, bằng 52% kế hoạch; khai thác đá Tấn Mài: 35.700 tấn, bằng 51% kế hoạch; dăm gỗ: 4.600 tấn... Tổng giá trị 6 tháng đầu năm 2019 đạt 544,7 tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ.

Trong thời gian tới, Hải Hà tiếp tục vận dụng linh hoạt hệ thống cơ chế, chính sách, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; tranh thủ sự giúp đỡ của các cấp, ngành và thu hút các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào huyện.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Để Quảng Ninh là cực tăng trưởng phía Bắc

Trong những năm qua, Quảng Ninh đã có những đột phá về cơ sở hạ tầng, tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển theo hướng bền vững; chuyển đổi phương thức phát triển từ nâu sang xanh để phát huy tốt vai trò là cực tăng trưởng phía Bắc, tạo sự kết nối, có sức lan tỏa trong vùng và cả nước.


 

Những thành tựu nổi bật

Là địa phương nằm ở vùng Đông Bắc của tổ quốc, với những tiềm năng, cơ hội nổi trội, lợi thế của mình, Quảng Ninh đã luôn nêu cao tinh thần chủ động, tích cực, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm, bám sát các định hướng của Trung ương để mạnh dạn đề xuất, xây dựng và triển khai các mô hình mới, cách làm mới; phát huy và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, tạo đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội.

Sau hơn 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, tăng trưởng kinh tế Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 ước đạt 11,1%, hoàn thành mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của tỉnh đề ra. Tổng sản phẩm bình quân đầu người (GRDP) năm 2018 đạt 5.110 USD, gấp 1,3 lần so với 2015; dự kiến năm 2020 đạt 6.535 USD, gấp 1,68 lần so với năm 2015. Thu ngân sách Nhà nước (NSNN) trên địa bàn giai đoạn 2016-2018 đạt 117.162 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 ước đạt 201.000 tỷ đồng, trong đó, thu nội địa tăng bình quân 12,6%/năm. Đặc biệt, năm 2018, tổng thu NSNN đạt trên 40.548 tỷ đồng, gấp 1,2 lần so với năm 2015, tốc độ tăng trưởng năm 2018 đạt 11,1%, cao nhất trong 6 năm gần đây.

De Qn la cuc tang truong phia Bac

Cảng hảng không quốc tế Vân Đồn là một trong những đột phá về cơ sở hạ tầng của Quảng Ninh

Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ, từ 43,4% (năm 2015) lên 44,8% (năm 2018) và dự kiến tăng 48% vào năm 2020. Công nghiệp giảm từ 53,4% (năm 2010) xuống còn 50,2% (năm 2015) và 49,2% (năm 2018); dự kiến còn 47% vào năm 2020. Nông nghiệp giảm từ 8,7% (năm 2010), xuống còn 7,3% (năm 2015) và 6% (năm 2018); dự kiến còn 5% vào năm 2020.

Để có được những kết quả như vậy, Quảng Ninh đã thực hiện ba đột phá chiến lược, tiên phong trong việc đầu tư ngân sách của tỉnh tập trung vào các dự án, công trình động lực có tính lan toả cao; quyết liệt đi đầu thực hiện các dự án lớn theo hình thức đối tác công - tư (PPP). Từ năm 2013 đến nay, tỉnh đã triển khai đầu tư theo hình thức PPP với 44 dự án, tổng số vốn 47.000 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2016-2018 đạt 183.654 tỷ đồng, dự kiến giai đoạn 2016-2020 đạt 340.850 tỷ đồng, tăng hơn 1,5 lần so giai đoạn 2011-2015.

Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị đã mạnh dạn đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thí điểm áp dụng những mô hình mới; triển khai hợp nhất các cơ quan tham mưu giúp việc của cấp ủy với cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp có chức năng, nhiệm vụ tương đồng theo nguyên tắc thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo; đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng; đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra; chủ động các giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí…

Để tiếp tục là đầu tàu kinh tế phía bắc

Tại buổi làm việc với tỉnh Quảng Ninh chiều ngày 12/07 về kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, nhiệm kỳ 2015-2020; định hướng phát triển KT-XH của tỉnh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 và 2045, đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương đã đánh giá cao 5 điểm sáng có tính đột phá của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua, đó là: Đánh giá, xác định đúng được các lợi thế phát triển của tỉnh, có triết lý phát triển và quyết liệt trong triển khai; Làm tốt công quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Là địa phương tiên phong triển khai nhiều mô hình mới, cách làm hay, năng động, sáng tạo luôn đổi mới, đi đầu trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập kinh tế quốc tế, sắp xếp và tinh gọn và nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị, quản lí nhà nước; Có đột phá về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; Xác định đúng và phát triển mạnh mẽ những cực phát triển để tạo lan tỏa dẫn dắt.

De Qn la cuc tang truong phia Bac1

Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương phát biểu tại buổi làm việc với tỉnh Quảng Ninh

Thời gian tới, để Quảng Ninh tiếp tục là cực tăng trưởng của phía Bắc, đồng chí Nguyễn Văn Bình đề nghị  Quảng Ninh thường xuyên theo dõi, đánh giá, giám sát triển khai các mô hình mới đã được áp dụng triển khai trên địa bàn, trên tinh thần bám sát nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, thông suốt của Đảng kết hợp hệ thống hành chính phải thống nhất.

Cùng với đó là đặt trong tổng thể liên kết vùng, trong sự phát triển của vùng và cả nước để thấy được lợi thế so sánh và phát huy được các lợi thế của mình. Bên cạnh việc phát triển du lịch, với tiềm năng lợi thế về hạ tầng giao thông, cảng biển, khả năng kết nối với các tỉnh vùng Tây Bắc và phía Nam Trung Quốc…, đồng chí Nguyễn Văn Bình mong muốn tỉnh nghiên cứu phát triển dịch vụ logistic nhằm khai thác hết tiềm năng thế mạnh của tỉnh.

Ngoài ra, tỉnh cũng cần thu hút đầu tư có chọn lọc, lựa chọn những gì tốt nhất để phục vụ mục tiêu phát triển bền vững, đổi mới công tác quản lý du lịch để tăng thu cho NSNN; duy trì, phát triển các sản phẩm nông nghiệp gắn với Chương trình xây dựng NTM...

Tại cuộc làm việc, đồng chí Nguyễn Văn Bình cũng đã trao đổi, phân tích, làm rõ những đề xuất, kiến nghị của tỉnh, liên quan đến việc áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù tại KKT Vân Đồn; chủ trương bổ sung quy hoạch và thành lập KKT Quảng Yên; phương án tổng thể chung xây dựng các khu hợp tác kinh tế qua biên giới Việt - Trung; chủ trương đầu tư các dự án trọng điểm trong KCN, KKT của tỉnh...

Theo: congthuong.vn

 

 
Thúc đẩy tăng trưởng xanh

Triển khai thực hiện tăng trưởng xanh, tỉnh Quảng Ninh đã chủ động xây dựng kế hoạch và thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020. Nỗ lực này đã và đang góp phần giảm thiểu những tác động xấu đến môi trường và hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm du lịch quốc tế vào năm 2020 của tỉnh.


Thúc đẩy tăng trưởng xanhĐơn vị làm công tác vệ sinh môi trường của TX Đông Triều thường xuyên tưới nước dập bụi trên các tuyến đường của thị xã.

Để thực hiện mục tiêu phát triển tăng trưởng xanh, nhiều chính sách bảo vệ môi trường đối với các ngành công nghiệp trọng điểm và các chính sách phát triển du lịch bền vững đã được tỉnh tăng cường triển khai thời gian qua. Điển hình như, UBND tỉnh đã phối hợp với Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức thực hiện dự án hợp tác kỹ thuật về thúc đẩy tăng trưởng xanh khu vực Vịnh Hạ Long. Dự án được triển khai từ tháng 11/2015 đến tháng 10/2019, thông qua các chính sách môi trường bền vững trong các ngành trọng điểm và thực hiện chính sách phát triển ngành Du lịch.

Triển khai dự án, tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện nhiều nội dung quan trọng, như: Thành lập 5 tổ công tác thực hiện tăng cường cơ chế tài chính, tài trợ của tỉnh, phục vụ công tác quản lý môi trường, tăng trưởng xanh; thúc đẩy chính sách khuyến khích tiết kiệm, quản lý năng lượng; thúc đẩy du lịch bền vững khu vực Vịnh Hạ Long; cải thiện, xây dựng, cung cấp thông tin du lịch, xúc tiến du lịch sinh thái tại huyện Vân Đồn; thiết kế, vận hành hệ thống nhãn xanh cho tàu du lịch; tăng cường năng lực quản lý giảm lượng ô nhiễm trực tiếp vào Vịnh Hạ Long; lập và phổ biến Sách Trắng về tăng trưởng xanh khu vực Vịnh Hạ Long.

Ông Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch UBND TP Hạ Long, cho biết: TP Hạ Long được giao làm Tổ trưởng Tổ công tác số 4 về nội dung tăng cường năng lực quản lý môi trường thông qua kiểm soát tải lượng ô nhiễm trực tiếp xuống Vịnh Hạ Long. Chúng tôi đang tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện hỗ trợ các hoạt động tái chế chất thải hữu cơ và sản xuất thực phẩm an toàn, thân thiện với môi trường. Đồng thời, tăng cường công tác quảng bá chế phẩm vi sinh uchishiro tới các công ty, trang trại, hộ gia đình; khuyến khích các cơ sở chăn nuôi sạch. Trên cơ sở rà soát các cơ chế, chính sách hiện có, Tổ công tác số 4 tiếp thu ý kiến đóng góp, hoàn thiện cơ chế ưu đãi để đề xuất UBND tỉnh ban hành, làm cơ sở ứng dụng, triển khai, nhân rộng các công nghệ tiên tiến vào phát triển nông nghiệp bền vững, giảm tải lượng ô nhiễm xuống Vịnh.

Cùng với dự án của JICA, nhiều giải pháp quyết liệt nhằm bảo vệ môi trường và thúc đẩy thực hiện tăng trưởng xanh cũng đang được Ban chỉ đạo thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 triển khai thực hiện, như: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường; cấm các hoạt động chuyển tải xi măng và các loại hàng hóa rời, không cho di chuyển các hoạt động khai thác, sàng tuyển, bốc rót than trên Vịnh; di dời và quy hoạch các điểm cư dân làng chài, địa điểm nuôi trồng thủy sản bằng lồng bè; tăng cường quản lý hoạt động vận chuyển khách tham quan du lịch và tàu lưu trú du lịch; tổ chức thu gom rác thải trên Vịnh Hạ Long; chú trọng xử lý nước thải ở các Khu công nghiệp, cụm công nghiệp…

Các bể xử lý nước thải tại Cụm công nghiệp Cẩm Thịnh (TP Cẩm Phả) được quan tâm đầu tư, đảm bảo các chỉ số về môi trường.

Thúc đẩy tăng trưởng xanh1

Đơn vị làm công tác vệ sinh môi trường của TX Đông Triều thường xuyên tưới nước dập bụi trên các tuyến đường của thị xã.

Để cải tạo, khắc phục ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ năm 2016 đến nay, Quảng Ninh đã chi trên 157 tỷ đồng để lắp đặt 27 trạm quan trắc môi trường tự động; triển khai các dự án cải tạo ô nhiễm môi trường Vịnh Hạ Long; ngành Than triển khai xây dựng 39 trạm xử lý nước thải mỏ, thực hiện cải tạo hoàn nguyên môi trường trên 800ha bãi thải mỏ tại khai trường khai thác than thuộc các đơn vị ngành Than.

Đến nay, Quảng Ninh đã hoàn thành xử lý 100% các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; 100% các khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung; 80% nước thải từ hoạt động khai thác than đã được xử lý, hầu hết các bãi thải mỏ không còn hoạt động đã được hoàn nguyên môi trường; tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải ở đô thị đạt 90%;...

Theo Ban chỉ đạo thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (giai đoạn 2014-2020), các cơ quan chuyên môn của tỉnh đang nỗ lực triển khai thực hiện đồng bộ các dự án phát triển tăng trưởng xanh. Các hoạt động truyền thông, tuyên truyền nội dung tăng trưởng xanh được triển khai thực hiện tới các cá nhân, tổ chức, đoàn thể trên địa bàn tỉnh. Ngoài ra, việc phối hợp nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào bảo vệ sinh thái Vịnh Hạ Long cũng luôn được tỉnh quan tâm chú trọng.

Thời gian tới, Ban chỉ đạo thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (giai đoạn 2014-2020) sẽ tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao để thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh trên địa bàn tỉnh, gắn liền tăng trưởng xanh với phát triển kinh tế - xã hội./.

Nguồn: http://qtv.com.vn

 
1.500 công trình dùng gạch không nung

Thị phần gạch không nung ở Việt Nam hiện đã chiếm tỷ trọng 28% trên tổng số vật liệu xây dựng (VLXD) cả nước, góp phần giảm phát thải khí nhà kính gần 2 triệu tấn CO2 với hơn 1.500 công trình xây dựng sử dụng gạch không nung. 


5852 Yt.Day chuyen SX gach khong nung - Thanh Tuyen

Dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng không nung tại Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền

Bắt kịp xu hướng trên, từ tháng 9/2016, Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền (Đông Triều, Quảng Ninh) đã xây dựng Nhà máy sản xuất gạch không nung với tổng mức đầu tư trên 250 tỷ đồng; cho ra đời những sản phẩm ngói không nung đạt tiêu chuẩn bền - đẹp - chất lượng, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường.

Ông Vũ Thanh Tuyền - Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền - cho biết: Nhận thấy việc tận thu tro, xỉ thải của các nhà máy nhiệt điện làm nguyên liệu sản xuất VLXD không những tiết kiệm được nhiên liệu, không gây ô nhiễm môi trường, mà còn có cường độ chịu lực cao, khả năng cách âm, cách nhiệt, chống thấm tốt, công ty đã quyết định đầu tư dây chuyền sản xuất gạch không nung từ nguồn nguyên liệu này và tiến hành ký hợp đồng mua tro, xỉ của Nhà máy Nhiệt điện Đông Triều để sản xuất VLXD không nung. Với sản lượng trên 90 triệu viên gạch, ngói tiêu chuẩn/năm, việc áp dụng dây chuyền sản xuất từ vật liệu không nung của Nhà máy này đã tiết kiệm trên 200.000m3 đất sét và hàng vạn tấn than phục vụ cho hoạt động sản xuất.

Để đáp ứng nhu cầu của thị trường hướng đến sản xuất sạch hơn, ngay từ khi xây dựng dự án, công ty đã quyết định đầu tư dây chuyền thiết bị, máy móc hiện đại của Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Đài Loan. Sau 6 tháng đầu tư xây dựng, tháng 3/2017, nhà máy đã chính thức đi vào hoạt động với 10 sản phẩm không nung các loại; đến nay, công ty đã cho ra thị trường hơn 40 mặt hàng. Từ cuối năm 2017, những lô hàng đã được xuất sang các nước trong khu vực như: Lào, Campuchia, Malaysia. Sản phẩm gạch, ngói không nung của Thanh Tuyền với nguồn nguyên liệu đầu vào an toàn cho người sử dụng, thân thiện với môi trường, được sản xuất trên dây chuyên công nghệ hiện đại, nhập khẩu từ Nhật Bản và châu Âu, đạt tiêu chuẩn chất lượng JIS A 5402:2002 và hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001:2015, đem đến cho người tiêu dùng những sản phẩm chất lượng cao, thân thiện với môi trường.

Hiện nay, sản xuất gạch không nung của Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền đã và đang đem lại nhiều kết quả tích cực như: Giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tận dụng được nhiều nguồn nguyên liệu có tại địa phương, tạo ra nhiều loại vật liệu xây dựng có giá thành hợp lý và bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng. Dự án cũng giúp cho Nhà máy Nhiệt điện Đông Triều không phải tốn kém chi phí để bốc xúc, vận chuyển; tiết kiệm mặt bằng, diện tích đất để chôn lấp tro, xỉ… góp phần giảm thiểu lượng chất thải, bảo vệ môi trường và sức khỏe nhân dân vì mục tiêu phát triển bền vững.

Không chỉ khả quan về mặt xã hội trong lĩnh vực môi trường, dự án còn rất khả thi về kinh tế qua các thông số tài chính như: Doanh thu hàng năm đạt 391,5 tỷ đồng; suất sinh lời trên doanh thu 15% ; thời gian hòa vốn 5 năm sau khi đi vào hoạt động và có doanh thu. Điều này cho thấy, dự án mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư, niềm tin lớn khi khả năng thanh toán nợ vay cao và thu hồi vốn đầu tư nhanh. Thêm vào đó, dự án còn đóng góp rất lớn cho ngân sách nhà nước và giải quyết một lượng lớn lực lượng lao động.

Việc sản xuất gạch, ngói không nung từ xỉ và tro bay của Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền rất cần thiết, mang lại lợi ích kinh tế, đảm bảo vấn đề môi trường trên địa bàn thị xã Đông Triều nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung.

Theo: congthuong.vn

 

 
Di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp ra khỏi khu dân cư: Uông Bí vẫn đang gặp khó

Theo thống kê, TP Uông Bí hiện có 71 cơ sở tiểu thủ công nghiệp đang nằm xen kẽ ở các khu dân cư. Mặc dù có những đóng góp quan trọng cho phát triển KT-XH của địa phương, song thực tế hoạt động của các cơ sở này đang gây ô nhiễm tiếng ồn, môi trường hoặc không phù hợp với quy hoạch đô thị. Tuy nhiên, do chưa có các cụm công nghiệp tập trung, nên việc di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp của Uông Bí ra khỏi các khu dân cư theo chỉ đạo của UBND tỉnh vẫn chưa được thực hiện.


Di dời TTCN Uông Bí2

Nhiều cơ sở tiểu thủ công nghiệp của TP Uông Bí nằm xen kẽ khu dân cư gây ô nhiễm môi trường hoặc không theo quy hoạch.

Công ty CP Tư vấn, xây dựng và Thương mại An Bình, tại tổ 8, khu 8, phường Thanh Sơn, chuyên về ngành nghề cơ khí, gia công các mặt hàng nhôm kính, vật liệu kết cấu thép phục vụ các công trình xây dựng. Mặc dù thực hiện những biện pháp che chắn, tuy nhiên do diện tích nhà xưởng nhỏ hẹp, lại nằm xen kẽ trong khu dân cư, nên hoạt động của cơ sở này không tránh khỏi việc phát tán mùi sơn, tiếng ồn ra môi trường, ảnh hưởng đến các hộ dân xung quanh.

Ông Nguyễn Mạnh Hà, Phó Giám đốc Công ty CP Tư vấn xây dựng và Thương mại An Bình cho biết: Cơ sở sản xuất của đơn vị chật chội, gây tiếng ồn, phát tán mùi, nên bị người dân ở xung quanh phản ánh. Mặc dù công ty cũng có nhiều giải pháp khắc phục, nhưng chưa thể triệt để. Được biết tỉnh và thành phố đã có chủ trương di dời những cơ sở tiểu thủ công nghiệp, do vậy, chúng tôi rất mong muốn sớm được đến khu quy hoạch sản xuất riêng biệt, rộng rãi để thuận lợi làm việc, phát triển.

Di dời TTCN Uông Bí1

Công ty TNHH Vũ Duy mong muốn được di chuyển vào Cụm công nghiệp để ổn định sản xuất.

Ông Vũ Duy Hưng, Giám đốc Công ty TNHH Vũ Duy (tổ 1, khu 9, phường Thanh Sơn) cho biết: Từ sản xuất nhỏ lẻ, đến nay tôi đã thành lập công ty và mở rộng sản xuất chuyên về cơ khí, inox, nhôm kính, cửa nhựa, cửa cuốn... Công ty phát triển sản xuất cũng ảnh hưởng tới môi trường xung quanh, nên khi được tuyên truyền về chủ trương di chuyển các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp thì tôi hoàn toàn đồng tình. Việc di dời các xưởng sản xuất vào các cụm công nghiệp tập trung cũng là mong muốn của nhiều chủ cơ sở tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn TP Uông Bí.

Được biết, lộ trình đến hết năm 2020, TP Uông Bí phải hoàn thành việc di dời toàn bộ các cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp với quy hoạch đô thị ra khỏi các khu dân cư. Hiện TP Uông Bí đã có quy hoạch Cụm công nghiệp Bắc Sơn với diện tích 35ha và Cụm công nghiệp liên phường Phương Đông - Phương Nam có diện tích 75ha để phục vụ việc di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp. Trong đó, Cụm công nghiệp liên phường Phương Đông - Phương Nam đã phê duyệt Quy hoạch xây dựng tỷ lệ 1/500.

Hiện dự án Cụm công nghiệp liên phường Phương Đông - Phương Nam đã có nhà đầu tư là Công ty TNHH C&N VINA quan tâm nghiên cứu đầu tư. Theo khẳng định của ông Bùi Đức Anh, Trưởng phòng Quản lý đô thị TP Uông Bí, địa phương sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất về thủ tục, giải phóng mặt bằng để nhà đầu tư triển khai được dự án, phục vụ di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp.

Di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư hoặc phải di dời theo quy hoạch xây dựng đô thị trên địa bàn TP Uông Bí là cần thiết và cấp bách. Do đó, thành phố cần tích cực hơn nữa trong việc thu hút nhà đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp, nhằm phục vụ cho việc di dời được triển khai, góp phần đảm bảo môi trường, cảnh quan đô thị, đồng thời đảm bảo ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 

 
TP Cẩm Phả hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới

Tối 15/6, tại Quảng trường 12/11, TP Cẩm Phả đã long trọng tổ chức Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Bằng công nhận thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.


 

Tham dự buổi lễ có ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ NN và PTNT; ông Nguyễn Văn Đọc, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ninh; cùng lãnh đạo các sở, ngành địa phương và đông đảo nhân dân.

Theo báo cáo, Thành phố Cẩm Phả là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Ninh, nằm trong vùng động lực phát triển kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là đầu mối giao thông quan trọng của Quảng Ninh. Cẩm Phả có 16 đơn vị hành chính, trong đó có 3 xã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới là Cộng Hòa, Cẩm Hải và Dương Huy.

Năm 2011, khi bước vào triển khai xây dựng nông thôn mới (NTM), 3 xã Dương Huy, Cộng Hòa và Cẩm Hải của TP Cẩm Phả có xuất phát điểm thấp, đạt bình quân 8/19 tiêu chí và 22/39 chỉ tiêu. Bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, TP Cẩm Phả đã triển khai, cụ thể hóa, huy động cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, tập trung tuyên truyền, vận động nguồn lực để hỗ trợ cho các xã với tinh thần quyết tâm cao, tạo sự đồng thuận trong nhân dân.

Cam Pha hoan thanh NTM

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thứ trưởng Bộ NN và PTNT Phùng Đức Tiến đã trao Bằng công nhận thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới cho TP. Cầm Phả.

Đến năm 2018, toàn bộ các tiêu chí và chỉ tiêu của chương trình xây dựng NTM đã được cả 3 địa phương này cơ bản hoàn thành, góp phần thay đổi cơ bản diện mạo 3 xã. Trong đó, hạ tầng thiết yếu được xây dựng khang trang, hiện đại, đường giao thông, hệ thống điện, viễn thông đáp ứng yêu cầu phục vụ sinh hoạt và phát triển sản xuất của người dân.

Cùng với đầu tư hạ tầng, việc hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, trong sản xuất nông nghiệp, TP Cẩm Phả cũng tập trung triển khai các giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng cường hoạt động liên kết 4 nhà và đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật. Đồng thời, quan tâm đầu tư phát triển các vùng trồng cây ăn quả và mô hình chăn nuôi gia trại theo hướng công nghiệp...

Nhờ đó, nhiều hộ dân từ thu nhập thấp vươn lên trở thành hộ khá, hộ giàu. Thu nhập bình quân đầu người đạt trung bình trên 41 triệu đồng/năm; phong trào giúp đỡ hộ nghèo được quan tâm, năm 2018 cả 3 xã chỉ còn 10 hộ nghèo, trong đó xã Dương Huy không còn hộ nghèo.

Bên cạnh đó, tỷ lệ người có việc làm trong độ tuổi lao động đạt trên 95%, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 92,44%, tăng 17,54% so với năm 2010.

Cẩm Phả cũng đã đang đặt mục tiêu, đến năm 2020, tiêu chí thu nhập của người dân khu vực nông thôn sẽ đạt trên 60 triệu đồng, thành phố phát triển theo hướng công nghiệp – cảng biển – dịch vụ đồng bộ gắn với bảo vệ môi trường.

Cam Pha hoan thanh NTM1

Đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh trao thưởng số tiền 3 tỷ đồng cho 3 địa phương của TP Cẩm Phả hoàn thành xây dựng NTM

Từ những kết quả trên, ngày 11/4/2019, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đã ký Quyết định số 407/QĐ-TTg công nhận TP Cẩm Phả hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2018.

Tại buổi lễ công bố, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến đã trao Quyết định và Bằng Công nhận cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Cẩm Phả, ghi nhận những nỗ lực, phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Cẩm Phả trong phong trào xây dựng nông thôn mới.

Đánh giá cao những nỗ lực của tỉnh Quảng Ninh nói chung, TP Cẩm Phả nói riêng, ông Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, đây mới chỉ là thành quả cơ bản, ban đầu của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững của Chính phủ. Mục tiêu tiếp tục không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn luôn là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt được đặt ra.

Cam Pha hoan thanh NTM2

Đồng chí Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ NN và PTNT phát biểu tại lễ công bố. Ảnh: Đỗ Phương

Vì vậy, trong thời gian tới, đồng chí mong muốn TP Cẩm Phả tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức nhân dân, gắn xây dựng NTM với quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương; tiếp tục chỉ đạo các địa phương chú trọng nâng chất các tiêu chí sau đạt chuẩn; đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị các nông sản chủ lực; hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển sản xuất và sinh hoạt của người dân trên địa bàn nông thôn.

Phát biểu tại lễ công bố, ông Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Ninh khẳng định: Bộ mặt nông thôn của địa phương có nhiều khởi sắc, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện, đã xác định được sản phẩm chủ lực địa phương, cấp tỉnh, sản phẩm định hướng quốc gia..., góp phần cải thiện tinh thần đời sống nhân dân khu vực nông thôn, thu hẹp khoảng cách thành thị - nông thôn... tất cả đó là thành quả chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NMT đem lại.

Cam Pha hoan thanh NTM3

Đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh tặng Bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng NTM tại TP Cẩm Phả.

Nhân dịp này, tỉnh Quảng Ninh cũng đã trao thưởng số tiền 3 tỷ đồng cho 3 địa phương của TP Cẩm Phả hoàn thành xây dựng NTM, tặng bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng NTM tại TP Cẩm Phả.

Theo: congthuong.vn

 

 

 
Bộ Công Thương tập trung ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển công nghiệp 4.0

Trước tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0), trong thời gian tới, bên cạnh việc nhanh chóng hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách một cách đồng bộ cho việc tiếp cận và khai thác thành quả của CMCN 4.0, Bộ Công Thương sẽ thúc đẩy, nâng cao hiệu quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp 4.0.


Tác động lớn tới tăng trưởng

Theo nhận định của Bộ Công Thương, CMCN 4.0 sẽ tác động mạnh mẽ tới mô hình tăng trưởng và mô hình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam, đặt ra yêu cầu ngày càng lớn hơn đối với quá trình tái cơ cấu các ngành và tái cơ cấu đầu tư. Đặc biệt, sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong cơ cấu của các ngành công nghiệp, cơ cấu xuất nhập khẩu cũng như đóng góp của mỗi ngành trong tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế của nước ta thời gian tới.

Bên cạnh đó, CMCN 4.0 làm thay đổi phương thức giao dịch, từ đó xuất hiện nhiều các phương thức kinh doanh thương mại mới. CMCN 4.0 cũng sẽ tác động lớn tới lao động và việc làm, từ đó làm thay đổi bản chất của lao động, cách thức các yếu tố nguồn lực con người tham gia và gia tăng giá trị trong chuỗi giá trị công nghiệp.

Bo Cong Thuong

Ngành Công Thương đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình thí điểm về nhà máy thông minh

Trong sản xuất, việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến từ cuộc CMCN 4.0 vào quá trình sản xuất sẽ làm thay đổi bản chất cũng như vai trò của các yếu tố đầu vào truyền thống trong hoạt động sản xuất: vốn, lao động. Khoa học và công nghệ trở thành nguồn lực trực tiếp, tham gia vào các quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo ra các giá trị mới, sản phẩm mới, thậm chí là những ngành/lĩnh vực mới.

Tuy nhiên, cuộc CMCN lần thứ tư là xu thế tất yếu. Theo đó, chủ động tham gia CMCN 4.0 vừa là yêu cầu, vừa là thách thức mà Việt Nam cần phải nhanh chóng vượt qua để tận dụng tốt nhất những cơ hội mà cuộc cách mạng này mang lại. CMCN 4.0 phải được tiếp cận cả về chiều rộng lẫn chiều sâu để một mặt tạo môi trường bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế trong xã hội có thể tiếp cận, tận dụng các cơ hội từ cuộc CMCN 4.0, đồng thời, đảm bảo được sự tập trung nguồn lực vào khai thác các ngành, lĩnh vực có thế mạnh cạnh tranh của nền kinh tế và các ngành được ưu tiên phát triển.

Các chính sách được thiết lập cần tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, thúc đẩy phát triển cho mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội. Đồng thời, tập trung giải quyết những nguyên nhân và vấn đề có tính chất căn cơ để nâng cao năng lực và khả năng tiếp cận của cuộc cuộc CMCN lần thứ tư, trong đó đẩy mạnh nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp, từng bước nâng cao trình độ, khả năng hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp và phát triển nguồn nhân lực là động lực quan trọng nhất đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang nền sản xuất hiện đại, tiên tiến trong tương lai.

Do cuộc CMCN4.0 có khả năng thay đổi cục diện về phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, trong đó có Việt Nam, vì vậy, việc chúng ta có thể tham gia được vào cuộc cách mạng này hoặc định vị lại vị thế của Việt Nam trên bản đồ của nền sản xuất toàn cầu hay không hay tiếp tục tụt lại phía sau và không thể thoát ra khỏi “bẫy thu nhập trung bình” phụ thuộc vào việc lựa chọn chính sách phát triển kinh tế xã hội cũng như chính sách về phát triển khoa học và công nghệ thời điểm này.

Với một xuất phát điểm thấp, phần lớn các doanh nghiệp vẫn chưa sẵn sàng, Việt Nam cần lựa chọn một chiến lược tiếp cận phù hợp đối với cuộc CMCN 4.0. Chúng ta không thể có một mục tiêu và định hướng quá kỳ vọng, thiếu khả thi. Thay vào đó, chiến lược tiếp cận của Việt Nam nói chung và ngành Công Thương nói riêng trước mắt cần tập trung vào đổi mới, nâng cấp nền sản xuất hiện tại, đẩy nhanh quá trình này bằng việc tận dụng những cơ hội và hấp thu nhanh chóng các công nghệ hiện đại từ cuộc CMCN 4.0.

Chủ động nắm bắt thời cơ

Triển khai thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 4/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận CMCN lần thứ 4, Bộ Công Thương đã ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg tại Quyết định số 4246/QĐ-BCT ngày 10/11/2017.

Theo đó, đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo hiểu biết và nhận thức đúng, đầy đủ về bản chất, đặc trưng, cơ hội và thách thức của CMCN 4.0 đối với ngành Công Thương; triển khai công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về công nghiệp 4.0, đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình thí điểm về nhà máy thông minh trong ngành Công Thương; phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp 4.0; đánh giá tác động và tính sẵn sàng của doanh nghiệp tham gia vào cuộc CMCN 4.0

Trong thời gian tới, để chủ động tham gia vào cuộc CMCN4.0, công tác triển khai của Bộ Công Thương sẽ tập trung vào các vấn đề sau: Tiếp tục đẩy mạnh tổ chức triển khai Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg; nhanh chóng triển khai việc xây dựng Chiến lược phát triển ngành giai đoạn đến 2030, tầm nhìn đến 2035 trên quan điểm và cách thức tiếp cận với CMCN4.0; thực hiện rà soát, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách một cách đồng bộ cho việc tiếp cận và khai thác thành quả của CMCN4.0.

Bên cạnh đó, nhanh chóng hoàn thiện và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ triển khai các chương trình, đề án của Bộ về phát triển nguồn nhân lực công nghiệp kỹ thuật cao, phát triển các mô hình đào tạo phù hợp, thích ứng với yêu cầu của cuộc CMCN4.0; thúc đẩy, nâng cao hiệu quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp 4.0.

Tuy nhiên, để tận dụng tốt các cơ hội và có giải pháp nhanh chóng vượt qua các thách thức của cuộc CMCN 4.0, Bộ Công Thương kiến nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành xây dựng các chính sách nhằm cụ thể hóa các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước, tập trung vào các vấn đề về phát triển khoa học và công nghệ, thiết lập hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng công nghệ số phục vụ quá trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển nguồn nhân lực..

Bộ Khoa học và Công nghệ cần sớm tổ chức và triển khai có hiệu quả Chương trình khoa học và công nghệ quốc gia về 4.0, trong đó, cần có cơ chế hiệu quả để tăng cường sự tham gia của các bộ chuyên ngành trong việc triển khai các nhiệm vụ về ứng dụng công nghệ 4.0 trong các ngành/lĩnh vực; có cơ chế hiệu quả để huy động nguồn lực, bao gồm cả nguồn lực của xã hội, doanh nghiệp tham gia vào hoạt đông nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ gắn với cuộc CMCN 4.0.

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động và Thương binh xã hội cần sớm ban hành và triển khai Chiến lược quốc gia về giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực cho cuộc CMCN 4.0. Đây cũng là căn cứ quan trọng các bộ chuyên ngành trong đó có Bộ Công Thương định hướng hoạt động đào tạo nguồn nhân lực của ngành; đồng thời là đầu vào quan trọng phục vụ quá trình tái cơ cấu, phát triển ngành trước yêu cầu của cuộc CMCN4.0.

Nguồn: https://congthuong.vn

 
Bộ Công Thương: Hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn qua chính sách khuyến công

Nhằm hỗ trợ các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, các làng nghề, thời gian qua, Bộ Công Thương đã tích cực triển khai các hoạt động theo quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến công. Trong đó tập trung các hoạt động khuyến công như: Hỗ trợ đào tạo, xây dựng thương hiệu sản phẩm, hỗ trợ phát triển thị trường,…


 

Một trong những vấn đề của ngành Công Thương được các đại biểu cử chi cả nước quan tâm trong Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XIV là chính sách quan tâm thúc đẩy công nghiệp làng nghề ở nông thôn vì đây là lĩnh vực có vị trí rất quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho một lượng lớn lao động nông nghiệp và tăng thu nhập cho nhân dân sinh sống ở các khu vực nông thôn.

BCT hotro sxcn

Nhiều chính sách phát triển công nghiệp nông thôn

Liên quan đến vấn đề này, Bộ Công Thương cho hay, phát triển công nghiệp làng nghề trên địa bàn nông thôn đã và đang được Đảng, Nhà nước và các địa phương quan tâm, là hướng đi tích cực để đẩy mạnh công nghiệp hóa nông thôn và góp phần hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 về phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó quy định Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan quản lý nhà nước về làng nghề, ngành nghề nông thôn tại Trung ương. Tại Nghị định đã quy định các cơ chế, chính sách để phát triển làng nghề và ngành nghề nông thôn.

Cơ sở công nghiệp nông thôn tại các làng nghề cũng là đối tượng thụ hưởng của Chương trình khuyến công, được hưởng đầy đủ các nội dung hỗ trợ của hoạt động khuyến công theo Nghị định số 45/2012/NĐ-CP. Do đó, Bộ Công Thương sẽ hỗ trợ phát triển công nghiệp làng nghề ở nông thôn từ hoạt động khuyến công theo các quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến công. Việc thực hiện chính sách khuyến công đối với các làng nghề hướng tới các nội dung của hoạt động khuyến công như: Hỗ trợ đào tạo, xây dựng thương hiệu sản phẩm, hỗ trợ phát triển thị trường, hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất, hỗ trợ xử lý môi trường.

Các địa phương cần chủ động xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách, bố trí nguồn lực, trong đó, đặc biệt quan tâm đến các chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm làng nghề (khoa học, công nghệ; xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu sản phẩm, sở hữu trí tuệ; đào tạo nguồn nhân lực; tiếp cận vốn tín dụng, đầu tư cơ sở hạ tầng đối với làng nghề, cụm công nghiệp làng nghề); quan tâm có các chính sách đối với nghệ nhân, thợ giỏi nghề thủ công mỹ nghệ, để hỗ trợ, thúc đẩy làng nghề, cụm công nghiệp làng nghề phát triển bền vững.

Theo: congthuong.vn/

 
“Lấy khuyến công nuôi khuyến công"

Đó là chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An tại Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc lần thứ XIV- năm 2019, do Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) phối hợp với UBND TP. Hải Phòng tổ chức ngày 23/5.


Lay KC nuoi KC

Khuyến công quốc gia góp phần phát triển CNNT địa phương

Điểm trũng thiếu vốn

Báo cáo tại hội nghị, ông Hoàng Chính Nghĩa - Phó Cục trưởng Cục Công Thương địa phương - cho biết: Tổng kế hoạch kinh phí khuyến công năm 2019 được duyệt của 28 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc là 140,467 tỷ đồng. 4 tháng đầu năm, toàn vùng đã thực hiện với kinh phí 17,322 tỷ đồng, đạt 12,33% kế hoạch năm.

Từ nguồn kinh phí được giao, các địa phương trong khu vực đã tổ chức đào tạo nghề cho 150 lao động; hỗ trợ 33 cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) ứng dụng máy móc, thiết bị hiện đại vào sản xuất công nghiệp; tổ chức 2 hội chợ và hỗ trợ 123 cơ sở CNNT tham gia; thực hiện đăng ký và xây dựng thương hiệu cho 1 cơ sở CNNT…

Dù vậy, tổng kế hoạch kinh phí khuyến công được duyệt của khu vực năm 2019 thấp hơn 3,14% so với cùng kỳ năm 2018. 4 tháng đầu năm 2019, kinh phí thực hiện của toàn vùng cũng giảm 21,69% so với cùng kỳ. Tại hội nghị, nhiều địa phương phản ánh, kinh phí hỗ trợ nội dung khuyến công thấp, không hấp dẫn được các cơ sở CNNT tham gia và thụ hưởng. Công tác khảo sát xây dựng kế hoạch, đề xuất các đề án khuyến công và chất lượng đề án hạn chế, còn ít địa phương đăng ký và triển khai được đề án mang tính điển hình và lan tỏa cao. Việc bảo vệ định mức chi phí cho trung tâm khuyến công các địa phương rất khó khăn, do vậy khó bảo đảm nguồn kinh phí cho vận hành bộ máy khuyến công...

Nghiên cứu cơ chế hồi vốn

Trước thực trạng đó, Thứ trưởng Đặng Hoàng An cho rằng: Cục Công Thương địa phương và các địa phương nghiên cứu phương án hồi vốn cho khuyến công với doanh nghiệp đã được hỗ trợ, đạt hiệu quả kinh tế cao nhằm chia sẻ nguồn lực triển khai những hoạt động khác.

Cùng đó, các địa phương cần thay đổi nhận thức về nguồn kinh phí khuyến công. Hiện, nguồn kinh phí khuyến công một số địa phương do tỉnh cấp cao hơn nguồn khuyến công quốc gia. Nguyên do, các địa phương này nhận thức rõ ràng vai trò của khuyến công với phát triển công nghiệp của địa phương, dành nguồn lực xứng đáng cho triển khai các đề án phù hợp. Vì vậy, các địa phương cần chủ động bố trí kinh phí hơn nữa cho công tác khuyến công.

Nhằm hoàn thành hiệu quả mục tiêu công tác khuyến công, trước mắt, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố theo dõi, đôn đốc đơn vị thực hiện đề án khuyến công đảm bảo đúng tiến độ, quy định. Tập trung rà soát nhu cầu của các đối tượng thụ hưởng; xây dựng đề án điểm, đề án nhóm, đề án hỗ trợ cơ sở CNNT có sản phẩm CNNT tiêu biểu đạt cấp khu vực, cấp quốc gia đảm bảo có sự liên kết; giảm mạnh việc khảo sát, lựa chọn các đề án dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp.

Về dài hạn, các địa phương thực hiện tốt xây dựng kế hoạch khuyến công năm 2020, trên cơ sở văn bản hướng dẫn của Cục Công Thương địa phương, đổi mới cách thức xây dựng kế hoạch các hoạt động khuyến công theo hướng có trọng tâm, trọng điểm. "Nội dung này cần được thực hiện và hoàn thành vào đầu năm 2020 để trình và được phân bố đủ kinh phí thực hiện" - Thứ trưởng Đặng Hoàng An nhấn mạnh.

Về hạn chế chưa có nhiều các đề án có tính lan tỏa cao, ông Ngô Quang Trung - Cục trưởng Cục Công Thương địa phương - cho rằng, cần thiết lập mối quan hệ giữa Trung tâm khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp 1 (Cục Công Thương địa phương) và các địa phương nhằm xây dựng đề án có tính liên vùng, hiệu quả cao. Đồng thời, đưa kinh phí khuyến công vào định mức hàng năm của Sở Công Thương nhằm có đủ nguồn lực cho khuyến công triển khai các hoạt động.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An:

Chủ động bố trí nguồn kinh phí cho triển khai đề án phù hợp với điều kiện địa phương là yếu tố chính giúp các tỉnh, thành phố trong khu vực phía Bắc sớm hoàn thành hiệu quả kế hoạch khuyến công năm 2019.

 
Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc lần thứ XIV

Nhằm đánh giá kết quả thực hiện hoạt động công tác khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp của các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc năm 2018 và 4 tháng đầu năm 2019; đề ra nhiệm vụ và giải pháp để hoàn thành kế hoạch khuyến công năm 2019, Chiều 23/5, tại thành phố Hải Phòng, Bộ Công Thương phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng tổ chức Hội nghị khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc lần thứ XIV – năm 2019


Hội nghị Khuyến công các tỉnh phía Bắc 2019

Tham dự và đồng chủ trì Hội nghị có ông Đặng Hoàng An, Thứ trưởng Bộ Công Thương; ông Ngô Quang Trung, Cục trưởng Cục Công thương địa phương; ông Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch UBND thành phố; ông Bùi Quang Hải, Gám đốc Sở Công Thương thành phố Hải Phòng. Đại biểu tham dự Hội nghị có đại diện Lãnh đạo Sở Công Thương của 28 tỉnh, thành khu vực phía Bắc cùng đại diện một số các doanh nghiệp.

Theo báo cáo trình bày tại Hội nghị, công tác quản lý nhà nước về khuyến công ngày càng được củng cố. Tổ chức hệ thống quản lý khuyến công được quan tâm đầu tư, kết nối hoạt động ngày càng hiệu quả. Công tác xây dựng, thẩm định đề án, hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện và thanh quyết toán các đề án khuyến công ở một số địa phương có chuyển biến tích cực. Hoạt động khuyến công đã bám sát mục tiêu kế hoạch của chương trình khuyến công, trên cơ sở cụ thể hóa kế hoạch bằng các đề án. Quy mô và chất lượng các đề án khuyến công ngày càng được nâng cao và có tác động rõ nét đến phát triển công nghiệp ở nông thôn. Hoạt động khuyến công đã góp phần tích cực trong triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ, giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh, tháo gỡ phần nào khó khăn về vốn đầu tư. Chương trình khuyến công đã hỗ trợ, khuyến khích các cơ sở công nghiệp nông thôn thúc đẩy sản xuất, đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị sản phẩm, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ. Mặt khác, khuyến khích các cơ sở công nghiệp nông thôn khai thác tốt tiềm năng nguồn nguyên liệu có trên địa bàn các tỉnh, thành phố tạo ra giá trị sản xuất chung của ngành, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa. Hoạt động tư vấn phát triển công nghiệp tại một số Trung tâm khuyến công tiếp tục tạo thêm nguồn thu và góp phần quan trọng trong công tác nâng cao năng lực cho các Trung tâm.

Để tiếp tục phát triển công tác khuyến nông trong thời gian tới, Cục Công thương địa phương đề ra 8 nhiệm vụ chủ yếu, trong đó tập trung một số nhiệm vụ sau: tiếp tục triển khai đồng bộ Chương trình hành động của ngành về thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ; tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng phương thức thông tin tuyên truyền, cải tiến nội dung thông tin tuyên truyền để chuyển tải đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin về cơ chế, chính sách, các hoạt động khuyến công và công nghiệp địa phương tới các cơ sở công nghiệp nông thôn; đẩy mạnh vận động tư vấn phát triển công nghiệp của các Trung tâm khuyến công.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, ông Đặng Hoàng An, Thứ trưởng Bộ Công Thương khẳng định việc tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành phố trong vùng và liên kết giữa các vùng để trao đổi kinh nghiệm trong phát triển ngành và hoạt động khuyến công vừa phát huy thế mạnh của mỗi địa phương, đồng thời liên kết khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng lợi thế của cả vùng. Cùng với việc thực hiện 8 nhiệm vụ chủ yếu, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An yêu cầu Sở Công Thương các tỉnh, thành phố tiếp tục theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện đề án khuyến công đảm bảo đúng tiến độ, quy định; thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo định kỳ. Tổ chức kiểm tra, giám sát việc sử dụng kinh phí khuyến công đảm bảo đúng đối tượng, đúng mục đích và đúng các quy định hiện hành. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động khuyến công. Tăng cường thực hiện tốt chức năng tham mưu cho UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác khuyến công trên địa bàn. Nâng cao năng lực và kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ lãnh đạo Trung tâm khuyến công và các phòng chuyên môn.

Hội nghị Khuyến công các tỉnh phía Bắc 2019.1

Nhân dịp này, Bộ Công Thương đã tặng Bằng khen cho 5 tập thể và 10 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác khuyến công. Kết thúc Hội nghị, toàn thể đại biểu đã thống nhất đề nghị trao quyền đăng cai tổ chức Hội nghị công tác khuyến công các tỉnh, thành phố phía Bắc lần thứ XV do tỉnh Thái Nguyên thực hiện vào năm 2020.

Nguồn: http://arit.gov.vn/

 

 

 
Quảng Ninh: Tích cực hỗ trợ hộ kinh doanh “lên đời” thành doanh nghiệp

Hiện các hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vẫn khá dè dặt khi đề cập đến việc chuyển đổi mô hình thành doanh nghiệp.


Theo Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh, tính đến ngày 12/01/2018 tỉnh này có 26.390/79.530 đơn vị sản xuất kinh doanh cá thể có đăng ký và hoạt động theo mô hình hộ kinh doanh.

Chưa mặn mà chuyển đổi

Ông Cao Ngọc Tuấn - Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh cho biết, thực tế trên địa bàn có nhiều hộ kinh doanh cá thể có hoạt động sản xuất kinh doanh rất tốt, không thua kém doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, các hộ này vẫn khá dè dặt khi đề cập đến việc chuyển đổi mô hình thành doanh nghiệp. Nguyên nhân được cho là hoạt động của hộ kinh doanh khá đơn giản, thuận tiện, giảm thiểu rất nhiều chi phí, không bị kiểm soát nhiều từ các cơ quan quản lý. Trong khi để phát triển thành doanh nghiệp, các hộ kinh doanh phải thực hiện rất nhiều bước như: Mở sổ sách, thuê kế toán, lập báo cáo tài chính, bảo hiểm lao động, thuế... Một lý do quan trọng dẫn đến nhiều hộ kinh doanh cá thể không mặn mà phát triển doanh nghiệp là để được hưởng chế độ thuế khoán thay vì nộp thuế doanh nghiệp.

Len doi thanh DN

Phường Mạo Khê, TX Đông Triều, tổ chức hội nghị vận động thành lập doanh nghiệp năm 2018

Bà Trần Thị Hằng - hộ kinh doanh ăn uống tại TP Hạ Long chia sẻ, nếu đăng ký thành lập doanh nghiệp sẽ mất thời gian và chi phí. Vấn đề tuyển dụng, sa thải lao động hoặc giải thể doanh nghiệp cũng phải theo đúng quy định, trong khi với hộ kinh doanh cá thể thực hiện chế độ sổ sách kế toán, hồ sơ, trình tự thủ tục thành lập đơn giản; lệ phí thành lập chỉ bằng 50% lệ phí thành lập doanh nghiệp. Chỉ những hộ làm ăn lớn, có xuất nhập khẩu hàng hóa mới thành lập doanh nghiệp để đáp ứng các yêu cầu về hóa đơn, chứng từ xuất nhập khẩu. Còn những hộ kinh doanh như chúng tôi vẫn thích hoạt động theo mô hình hộ cá thể để được hưởng thuế khoán và khỏi mất thời gian làm báo cáo thuế, xây dựng hệ thống kế toán.

Đồng quan điểm với bà Hằng, bà Trần Thị Oanh (một hộ kinh doanh tại chợ Hạ Long 1) cho biết, bà không có nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh mặc dù công việc kinh doanh của bà có nhiều điều kiện để mở rộng. Lý do được bà cho là đã quen với việc tự tổ chức, tự kiểm soát việc mua bán.Gia đình tôi theo nghề này đã mấy chục năm, chấp hành đúng mọi chủ trương chính sách của Nhà nước. Tôi buôn bán nhỏ, tự mình kiểm soát thu chi đã quen, không có nhu cầu phát triển hơn, lập doanh nghiệp chỉ thêm thủ tục, tốn tiền thuê kế toán…- bà Oanh nói.

Đây là những lo ngại được cho là thiếu cơ sở và là rào cản lớn cho sự phát triển của chính hộ kinh doanh cá thể cũng như cho nền kinh tế hiện nay.

Nhiều chính sách hỗ trợ

Ngành Thuế đang tích cực cùng các cấp chính quyền hỗ trợ, đồng hành cùng người nộp thuế, động viên khuyến khích những hộ kinh doanh có đủ điều kiện chuyển đổi thành doanh nghiệp để tiếp tục phát triển lớn mạnh hơn. Cùng với đó là các giải pháp về cải cách thủ tục hành chính, tạo dựng môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; đảm bảo quyền kinh doanh, quyền bình đẳng tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp, ông Tuấn cho biết thêm.

Tuy nhiên, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, việc vận động các hộ kinh doanh cá thể phát triển thành doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vẫn gặp nhiều khó khăn. Trước thực tế này, Quảng Ninh đã và đang triển khai nhiều giải pháp để các hộ kinh doanh cá thể đủ điều kiện thuận lợi thực hiện việc chuyển đổi mô hình thành doanh nghiệp.

Ngoài những cơ chế ưu đãi chung mà Nhà nước dành cho doanh nghiệp mới thành lập, Quảng Ninh còn có nhiều chính sách riêng để hỗ trợ doanh nghiệp thành lập mới. Cụ thể là Quyết định 148/2018/NQ-HĐND ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.

Hỗ trợ 100% lệ phí đăng ký doanh nghiệp lần đầu tại cơ quan đăng ký kinh doanh và phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp lần đầu tại Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia cho doanh nghiệp thành lập mới (không bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh). Hỗ trợ 100% chi phí 1 con dấu tròn của doanh nghiệp và chi phí đăng ký duy trì 1 chữ ký số trong 1 năm đầu thành lập nhưng không quá 2,25 triệu đồng/doanh nghiệp. Hỗ trợ 100% chi phí thực hiện các dịch vụ kế toán, kê khai, báo cáo và quyết toán thuế trong 1 năm đầu tiên nhưng không quá 2 triệu đồng/tháng cho DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh có thời gian hoạt động tối thiểu 1 năm trước khi chuyển đổi.

Vấn đề mặt bằng sản xuất, kinh doanh, DNNVV có 100% vốn tư nhân trong nước được hỗ trợ 50% giá thuê mặt bằng tại các KCN, CCN trên địa bàn tỉnh, thời gian hỗ trợ là 2 năm kể từ ngày ký hợp đồng thuê mặt bằng thông qua việc bù giá cho nhà đầu tư hạ tầng.

Theo số liệu thống kê của Sở KH&ĐT Quảng Ninh, tính đến hết tháng 4, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có trên 18.100 doanh nghiệp, vốn đăng ký trên 174.170 tỷ đồng. Kế hoạch phát triển doanh nghiệp năm 2019 là 3.940 doanh nghiệp, nhưng 4 tháng đầu năm 2019, toàn tỉnh mới có khoảng 700 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc thành lập mới, đạt 17,8% kế hoạch. Để đạt mục tiêu mỗi tháng tỉnh phải có 405 doanh nghiệp thành lập mới và 25.000 doanh nghiệp vào năm 2020 là rất khó. Điều này đòi hỏi cần tiếp tục có sự vào cuộc của các cấp, ngành, địa phương trong hoạt động hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.

Nguồn: https://enternews.vn

 

 

 
Đề xuất sửa đổi chính sách phát triển công nghiệp nông thôn: Mở rộng đối tượng thụ hưởng

Chương trình Khuyến công quốc gia (KCQG) giai đoạn 2014 - 2020 đã đi được hơn nửa chặng đường. Tuy nhiên, những quy định "cứng" trong lĩnh vực này khiến không ít địa phương gặp khó trong triển khai và các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) khó thụ hưởng.


Mo rong doi tuong thu huong

Khuyến công quốc gia góp phần phát triển CNNT địa phương

Nhiều băn khoăn

Cần Thơ có 9 đơn vị hành chính, gồm 4 huyện và 5 quận. Theo quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP về Khuyến công (Nghị định 45), công tác khuyến công chỉ triển khai tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn và hạn chế hỗ trợ ở khu vực đô thị. Do vậy, từ năm 2014 đến nay, công tác khuyến công của Cần Thơ chỉ được triển khai thực hiện tại khu vực 4 huyện với tổng kinh phí 3,2 tỷ đồng.

Theo ông Nguyễn Minh Toại - Giám đốc Sở Công Thương Cần Thơ - trình độ dân trí cũng như tiềm lực về vốn của các cơ sở sản xuất tại khu vực thành thị cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn, do đó, nếu được triển khai ở khu vực thành thị, "vốn mồi" của khuyến công rõ ràng sẽ phát huy tốt hơn hiệu quả. Chưa kể, tại các huyện, quy mô cũng như vốn của các cơ sở sản xuất nhỏ, rất khó mời gọi tham gia đầu tư, nhất là đầu tư công nghệ sản xuất mới. Mức hỗ trợ cho các nội dung theo quy định không cao, trong khi thủ tục kéo dài vài tháng đến cả năm nên chưa thu hút được các cơ sở tham gia. Thậm chí, có những đề án đã được duyệt nhưng phải ngừng triển khai do không còn đúng cơ hội đầu tư của doanh nghiệp.

Ông Lê Trọng Hân - Phó giám đốc Sở Công Thương Thanh Hóa - băn khoăn: Tính kích thích của các đề án khuyến công không cao bởi so với nguồn vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng của doanh nghiệp, kinh phí khuyến công chỉ hỗ trợ 100 -200 triệu đồng là quá thấp. Hơn nữa, kế hoạch đầu tư đổi mới trang thiết bị, máy móc của doanh nghiệp thường được thực hiện rất nhanh trong khi để được hưởng kinh phí hỗ trợ của khuyến công phải đăng ký trước 1 năm và hỗ trợ trước đầu tư nên nảy sinh nhiều bất cập.

Tháo trở ngại chính sách

Chương trình KCQG đến năm 2020 đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển CNNT tại các địa phương. Số liệu từ Bộ Công Thương cho thấy, từ năm 2014 - 2018, chương trình KCQG đã thực hiện hỗ trợ các đề án với hơn 481 tỷ đồng. Nguồn vốn này được đưa trực tiếp vào các cơ sở sản xuất, giúp các đối tượng thụ hưởng nâng cao năng lực sản xuất, tay nghề lao động, tăng doanh thu và lợi nhuận.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Thanh Hải - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ - cho rằng, cần đặt công tác khuyến công trong tổng thể chứ không theo chuỗi cụ thể, gắn kết CNNT, khuyến công với phát triển nông nghiệp bền vững cũng như tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển du lịch làng nghề; mỗi xã, phường một sản phẩm… Các bộ, ngành cần liên kết chặt chẽ, xây dựng định hướng chính sách khuyến công theo hướng mở, thuận lợi cho cả đơn vị thực hiện chức năng quản lý và đối tượng thụ hưởng. Theo đó, cần đưa nguồn vốn khuyến công đúng thời điểm, thích hợp với năng lực tiếp cận. Đồng thời, quan tâm tư vấn định hướng sản phẩm, thị trường, công nghệ, ứng dụng để phát triển công nghiệp hiệu quả; có nguồn lực thỏa đáng như phát triển cụm công nghiệp, xử lý môi trường, đào tạo đổi mới công nghệ, lồng ghép các nguồn vốn thực hiện, cách thức hỗ trợ đơn giản.

Đại diện Sở Công Thương Cần Thơ đề xuất: Bộ Công Thương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định 45 theo hướng mở rộng đối tượng thụ hưởng ra tất cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, không phân biệt ở quận, huyện. "Đặc biệt, quy định địa phương dành từ 0,5 - 1% ngân sách cho công tác khuyến công và phát triển công nghiệp địa phương, từ đó, Sở Công Thương mới có nguồn cho xây dựng kế hoạch hỗ trợ và tái đầu tư cho công nghiệp" - ông Nguyễn Minh Toại nói.

Theo: congthuong.vn

 

 

 
Quảng Ninh: Thành lập Cụm công nghiệp giúp các cơ sở tiểu thủ công phát triển theo hướng tập trung

Được triển khai xây dựng từ đầu năm 2019, sau một thời gian đẩy nhanh thi công, vừa qua, tại TP Cẩm Phả (Quảng Ninh), Công ty CP Công nghiệp Cẩm Thịnh đã tổ chức khánh thành dự án hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp (CCN) Cẩm Thịnh (giai đoạn 1) với mục tiêu phát triển công nghiệp theo hướng tập trung. Tới dự có ông Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Ninh, cùng đại diện các sở, ngành, địa phương.

Cum CN

Phối cảnh dự án hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Cẩm Thịnh

Trên địa bàn TP Cẩm Phả hiện nay có 290 cơ sở sản xuất kinh doanh đơn lẻ trong các lĩnh vực: Cơ khí, mộc, khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng; chế biến nông, lâm sản… Trong đó nhiều cơ sở gây ô nhiễm không khí, nguồn nước thải chưa được xử lý cẩn thận, bụi bẩn, tiếng ồn… Hơn nữa, quỹ đất ngày càng hạn hẹp nên việc mở rộng quy mô sản xuất của các cơ sở này gặp nhiều khó khăn. 

Trước tình hình trên, việc quy hoạch đầu tư xây dựng dự án hạ tầng kỹ thuật CCN Cẩm Thịnh là nhu cầu cấp thiết. Tháng 10/2018, UBND tỉnh có Quyết định số 3979/QĐ-UBND về việc giao Công ty CP Công nghiệp Cẩm Thịnh làm chủ đầu tư xây dựng Dự án hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Cẩm Thịnh.

Dự án có tổng mức đầu tư hơn 627 tỷ đồng (vốn ngoài ngân sách), quy mô 69,5ha, trong đó khu 1, phường Cẩm Phú rộng 17ha; khu 2, phường Cẩm Thịnh rộng 52,5ha. Để Dự án triển khai đúng tiến độ, từ quý III và quý IV/2018, TP Cẩm Phả đã phối hợp với chủ đầu tư tổ chức lập, phê duyệt quy hoạch, bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ di dời các hộ dân; hoàn thiện các thủ tục giao đất, cho thuê đất. Đến ngày 25/4/2019, CCN Cẩm Thịnh (giai đoạn 1) đã được hoàn thành với diện tích 49,5ha và kinh phí thực hiện trên 500 tỷ đồng. 

Theo ông Đặng Huy Hậu, việc di dời cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư không phù hợp với quy hoạch đô thị sẽ được ưu tiên. Dự án này sẽ góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ và thu hút các dự án đầu tư vào CCN để từ đó không còn tiềm ẩn các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến người dân. Ông Đào Văn Thắng, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng Quang Thắng (khu Tân Lập, phường Cẩm Thủy), cho biết: "Đầu năm 2019, khi địa phương tuyên truyền, vận động di chuyển cơ sở vào Cụm công nghiệp Cẩm Thịnh tôi thấy hoàn toàn hợp lý. Cụm công nghiệp Cẩm Thịnh đang được đầu tư kết nối đồng bộ cả hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy nên dễ dàng vận chuyển hàng hóa tiêu thụ. Sắp tới, tôi sẽ đăng ký thuê 300-500m2 đất lâu dài để xây nhà xưởng sản xuất. Chắc chắn khi chuyển về đây hoạt động sẽ tạo điều kiện cho các hộ liên kết phát triển sản xuất, đồng thời sẽ khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong khu dân cư.

Cum CN1

Hệ thống xử lý nước thải tập trung được xây dựng với công suất 950m3/ngày đêm

Tại buổi khánh thành Dự án, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Đặng Huy Hậu cũng đề xuất đưa CCN Cẩm Thịnh trở thành trung tâm sản xuất, kinh doanh xứng đáng là CCN mẫu. Để thực hiện được điều đó, ông yêu cầu chủ đầu tư và các hộ sản xuất phải thay đổi tư duy, nỗ lực áp dụng kỹ thuật, công nghệ mới, đồng thời cần sớm thực hiện việc trồng cây xanh tại khu công nghiệp để tạo cảnh quan môi trường; cần tập trung hoàn thành tuyến đường vào CCN tạo điều kiện đi lại thuận lợi cho các cơ sở đã đăng kí vào CCN. Ngoài ra, ông còn đề nghị chủ đầu tư và các sở, ngành, chính quyền địa phương cần tiếp tục kêu gọi doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đầu tư để phát triển sản xuất tại CCN cùng với đó là hoàn thiện nốt các hạng mục giai đoạn 1, có kế hoạch thực hiện triển khai giai đoạn 2 trong thời gian sớm nhất.

Theo chủ đầu tư, sau khi đưa vào sử dụng, CCN Cẩm Thịnh sẽ đáp ứng cho các cơ sở công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, chế biến nông, lâm, thuỷ sản, sản xuất hàng tiêu dùng, cơ khí, lắp ráp, sửa chữa thiết bị…. Tới nay, đã có 250 trên tổng số 381 cơ sở nằm trong khu dân cư trên địa bàn TP Cẩm Phả đã đăng ký vào cụm công nghiệp Cẩm Thịnh, đạt khoảng 70% diện tích. 

CCN Cẩm Thịnh được đầu tư đồng bộ hạ tầng gồm: Đường giao thông, vỉa hè, cây xanh, điện, nước, khu điều hành và hệ thống phòng cháy chữa cháy đạt chuẩn. Đặc biệt, CCN còn được đầu tư 2 hệ thống xử lý nước thải tập trung, công suất 950 m3/ngày đêm với kinh phí trên 36 tỷ đồng, đảm bảo cho nước thải tại CCN đủ tiêu chuẩn xả thải ra môi trường. Công tác an ninh cũng luôn được chú trọng với việc đầu tư lắp đặt hệ thống camera giám sát và lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp.

Nguồn: http://www.congnghieptieudung.vn

 
Xây dựng Chương trình khuyến công quốc gia phù hợp với bối cảnh kinh tế mới

Ngày 24/4, Bộ Công Thương phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị sơ kết Chương trình khuyến công quốc gia (KCQG) giai đoạn 2014-2018. Bộ trưởng Bộ Công Thương ông Trần Tuấn Anh; Phó trưởng ban Ban Kinh tế Trung ương ông Cao Đức Phát; Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội ông Nguyễn Doãn Toản đã tham dự và đồng chủ trì hội nghị.


XD KH KCQG phù hợp bối cảnh mới

Lan tỏa hiệu quả

Theo số liệu từ Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương), tổng kế hoạch kinh phí KCQG 5 năm vừa qua (2014-2018) của cả nước là 481,407 tỷ đồng. Nguồn kinh phí này thu hút tới gần 2.300 tỷ đồng vốn đối ứng từ các đơn vị thụ hưởng, trung bình cứ 1 đồng vốn khuyến công thu hút được 4,78 đồng vốn đầu tư từ cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT). Đây là con số đáng ghi nhận về hiệu quả của chương trình.

Tại hội nghị, ông Cao Đức Phát- Phó trưởng ban thường trực Ban Kinh tế Trung ương đánh giá, dưới sự góp sức của côngtác khuyến công, 10 năm qua, giá trị sản xuất CNNT tăng 12,7%/năm, cao hơn tăng trưởng chung của ngành công nghiệp. Công tác khuyến công là giải pháp cần thiết và quan trọng để phát triển ngành nghề và kinh tế khu vực nông thôn. Để đạt được kết quả trên, ngành Công Thương đã có nhiều cố gắng trong xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách và triển khai chương trình. Trong đó quan trọng nhất là hình thành được hệ thống khuyến công từ Trung ương đến địa phương; hình thành cơ chế vận hành hệ thống khuyến công; triển khai số lượng lớn dự án với nhiều nội dung thiết thực, nhất là ở khu vực nông thôn.

Ghi nhận những đóng góp của chương trình KCQG giai đoạn vừa qua, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cũng nhận định: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khuyến công đã từng bước được hoàn thiện. Vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước về Công Thương địa phương (CTĐP) theo đó được nâng cao một bước, tạo sự gắn kết chặt chẽ với cộng đồng doanh nghiệp (DN), cơ sở CNNT. Đặc biệt, hệ thống tổ chức thực hiện công tác khuyến công được thiết lập, dần ổn định và hoạt động hiệu quả. Các trung tâm khuyến công được quan tâm đầu tư về bộ máy và cơ sở vật chất trang thiết bị, phương tiện làm việc. Từ đó, Chương trình KCQG dần phát huy hiệu quả và tạo được những dấu ấn lớn trong phát triển công nghiệp ở khu vực nông thôn cũng như góp sức vào tăng trưởng sản xuất chung của toàn ngành công nghiệp.

Hà Nội là một điển hình trong thực hiện tốt công tác khuyến công, ông Nguyễn Doãn Toản- Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội chia sẻ: Giai đoạn vừa qua, khuyến công đã được lồng ghép với các chương trình khác nhằm huy động thêm nguồn lực thực hiện. Ngoài kinh phí của thành phố, chương trình đã thu hút thêm trên 100 tỷ đồng vốn từ các cơ sở CNNT cho triển khai thực hiện các đề án. Năm 2018, giá trị sản xuất CNNT của thành phố đã đạt 98.000 tỷ đồng, tạo ra 1.500 mẫu sản phẩm mới, tạo việc làm cho 430.000 lao động với thu nhập ổn định 50 triệu/người/năm. “Kết qủa trên đã chứng minh tính đúng đắn, thiết thực của khuyến công và vai trò nổi bật của Bộ Công Thương trong tham mưu với Đảng, Chính phủ ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp cũng như công tác chỉ đạo các địa phương trên cả nước triển khai thực hiện”, ông Nguyễn Doãn Toản nhấn mạnh.
 
    Đặt khuyến công trong chiến lược phát triển kinh tế chung

Mặc dù mới đi được hơn nửa chặng đường và đã đạt những kết quả rõ ràng, tuy nhiên Chương trình KCQG vẫn được chỉ ra còn một số hạn chế cần khắc phục. Về vấn đề này, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cũng chỉ rõ: Kinh phí dành cho Chương trình KCQG những năm vừa qua rất hạn chế, chỉ khoảng 130 tỷ đồng/năm, được chia cho 63 tỉnh, thành phố đã ảnh hưởng đáng kể tới hiệu quả của chương trình. Hơn nữa, tại các địa phương, việc triển khai nguồn lực hỗ trợ này cũng là vấn đề đáng nói, có những địa phương linh hoạt sáng tạo trong thực hiện đã thu hút thêm vốn từ các nguồn khác nhưng cũng có những địa phương vốn bị teo lại, chương trình không được coi trọng.

Chương trình KCQG đã đi được hơn nửa chặng đường, để có thể xây dựng định hướng cho chương trình trong giai đoạn tới, Bộ Công Thương sẽ nhìn nhận, đánh giá lại về KCQG trong tổng thể về chính sách phát triển quốc gia nhất là chiến lược hội nhập quốc tế cũng như các chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Xác định rõ vai trò của công nghiệp quốc gia, trong đó có công nghiệp địa phương, từ đó định vị vai trò KCQG. Tiếp đó, hoàn thiện các khung khổ pháp lý; nâng cao chất lượng của đội ngũ nhân lực thực hiện công tác khuyến công, đặc biệt là trong phối hợp tổ chức để tạo ra những liên kết ngang và liên kết dọc với các ngành nghề, hiệp hội cũng như các chương trình liên quan.

“Bối cảnh kinh tế mới đang thay đổi, nếu không đánh giá lại chương trình để đổi mới cả về nội dung, hình thức gắn với chất lượng, hội nhập, khả năng cạnh tranh thì KCQG không phát huy được vai trò. Chính vì vậy, đây sẽ là nội dung quan trọng Bộ Công Thương tập trung đổi mới trong thời gian tới, đặc biệt là xây dựng kế hoạch và chiến lược trong giai đoạn 2021 – 2030”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Quyết định số 1288/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ  phê duyệt Chương trình KCQG đến năm 2020 (quyết định 1288) với mục tiêu huy động các nguồn lực tham gia đầu tư sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ khuyến công; khuyến khích, hỗ trợ sản xuất sạch hơn tại các cơ sở sản xuất công nghiệp; giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người...

Để thực hiện mục tiêu trên, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng cũng đề nghị: Cục CTĐP cần xây dựng hệ thống những giải pháp thiết thực. Cụ thể về chính sách, Cục phối hợp với các địa phương xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện chính sách khuyến công cho phù hợp thực tế; cập nhật, hoàn thiện phần mềm phục vụ cho công tác thống kê số liệu và theo dõi quản lý chương trình, đề án khuyến công; ban hành quy định tiêu chí, tiêu chuẩn, nội dung quy trình cung cấp dịch vụ, định mức kinh tế kỹ thuật của hoạt động khuyến công; đào tạo cán bộ khuyến công.

Nâng cao năng lực và kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ lãnh đạo, cán bộ trung tâm khuyến công theo hướng chuyên nghiệp; tăng cường hệ thống khuyến công viên cấp huyện, xã đủ mạnh về số lượng và chất lượng; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến công; hạn chế những biến động về luân chuyển đối với cán bộ làm khuyến công, đặc biệt là việc điều động, thay thế cán bộ chủ chốt của các trung tâm khuyến công cấp tỉnh.

Về nguồn kinh phí, lồng ghép khuyến công với các dự án, chương trình mục tiêu khác để khuyến khích, thu hút nguồn vốn của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đầu tư phát triển CNNT; tăng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho chương trình. Sở Công Thương tham mưu UBND tỉnh, thành phố tăng mức hỗ trợ kinh phí khuyến công địa phương đối với các huyện nghèo, địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn, xã nông thôn mới.

Ngoài ra, Cục CTĐN phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiếp tục rà soát, hoàn thiện văn bản có liên quan về hoạt động khuyến công; hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm các đề án tạo nên chuỗi giá trị trong một số ngành, lĩnh vực là thế mạnh điển hình của địa phương; đa dạng hóa các hình thức thông tin tuyên truyền, cung cấp kịp thời thông tin về cơ chế chính sách đối với hoạt động khuyến công và phát triển công nghiệp, thương mại…

Nguồn: http://arit.gov.vn/

 

 

 

 
Chương trình Khuyến công quốc gia: Thay đổi diện mạo công nghiệp nông thôn

Mặc dù mới đi được hơn nửa chặng đường, Chương trình Khuyến công quốc gia (KCQG) đến năm 2020 đã góp sức đáng kể vào phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT) của cả nước. Đặc biệt, hiệu quả chương trình đã lan tỏa rộng khắp, thu hút nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia.


Hiệu quả thiết thực

Theo số liệu từ Cục Công Thương địa phương (CTĐP) - Bộ Công Thương, tổng kế hoạch kinh phí KCQG 5 năm vừa qua (2014-2018) là 481,407 tỷ đồng. Nguồn kinh phí này thu hút tới gần 2.300 tỷ đồng vốn đối ứng từ các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện và thụ hưởng. Đây là con số đáng ghi nhận về hiệu quả của chương trình, trung bình cứ 1 đồng vốn từ ngân sách nhà nước thu hút 4,78 đồng vốn đầu tư của cơ sở CNNT.

Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học - kỹ thuật là một trong những nội dung thu hút lượng vốn đối ứng lớn và cũng được ghi nhận đạt hiệu quả nhanh cho các cơ sở thụ hưởng. 5 năm qua, chương trình đã hỗ trợ xây dựng 210 mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất sản phẩm mới, công nghệ mới; hỗ trợ 630 cơ sở chuyển giao công nghệ và ứng dụng máy móc tiên tiến, tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.

KCQG thay doi dien mao CNNT

Hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn phát huy hiệu quả

Để nhìn nhận toàn diện hiệu quả của nội dung này trong giai đoạn vừa qua, Cục CTĐP đã kiểm tra, đánh giá mức độ khả thi, tính hiệu quả các đề án tại 10 địa phương của 3 khu vực trên cả nước. Qua đánh giá, các mô hình đều là những hình mẫu cho các giải pháp sản xuất khu vực nông thôn, giúp các doanh nghiệp, cơ sở CNNT ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Có những mô hình mang tính đại diện cho cả vùng và mang lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường; mức doanh thu sau khi được kinh phí KCQG hỗ trợ tăng trung bình khoảng 20% so với doanh thu trước khi được hỗ trợ.

Bên cạnh đó, những nội dung thuộc Chương trình KCQG cũng được triển khai thực hiện, đạt hiệu quả rất tốt, như: Đào tạo nghề, truyền nghề, nâng cao tay nghề cho hơn 18.000 lao động nông thôn, tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo trung bình đạt trên 90%; hỗ trợ thành lập 186 doanh nghiệp sản xuất tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết và hỗ trợ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp cho 45 cụm công nghiệp tại 22 địa phương…

Theo đại diện Cục CTĐP, Cục đã nhận được sự chỉ đạo kịp thời từ Bộ Công Thương trong hướng dẫn, chỉ đạo, triển khai chương trình tới các địa phương và tổ chức dịch vụ khuyến công. Tổ chức khuyến công địa phương cũng như hệ thống khuyến công viên từng bước được hình thành, củng cố, kết nối thống nhất từ Trung ương đến địa phương và hoạt động ngày càng hiệu quả. Với những nỗ lực đó, mục tiêu của Chương trình KCQG đã và đang được thực hiện; khẳng định vai trò quan trọng, động viên và huy động các nguồn lực vào đầu tư phát triển CNNT; mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội đáng kể; góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới.

Nỗ lực hoàn thành sớm mục tiêu

Quyết định số 1288/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình KCQG đến năm 2020 (Quyết định 1288) với mục tiêu huy động các nguồn lực tham gia đầu tư sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ khuyến công; khuyến khích, hỗ trợ sản xuất sạch hơn tại các cơ sở sản xuất công nghiệp; giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người...

KCQG thay doi dien mao CNNT1

Ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Với những kết quả đã đạt được trong 5 năm qua, Cục CTĐP đang nỗ lực phấn đấu thực hiện đạt và vượt một số mục tiêu cụ thể đề ra tại Quyết định 1288. Trong đó, tiếp tục đẩy mạnh hỗ trợ các nội dung: Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và ứng dụng máy móc tiên tiến cho các cơ sở CNNT; nâng cao năng lực tư vấn phát triển CNNT của các tổ chức dịch vụ công; đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền; tăng dần số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích và áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp. Đặc biệt, bảo đảm xây dựng kế hoạch khuyến công hàng năm đúng thời hạn, có chất lượng, phấn đấu có ít nhất 30% địa phương xây dựng được đề án KCQG điểm, tổ chức thực hiện đúng quy định và hoàn thành 100% các đề án được giao.

Để thực hiện mục tiêu trên, Cục CTĐP đã xây dựng hệ thống những giải pháp thiết thực. Theo đó về chính sách, Cục phối hợp với các địa phương xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện chính sách khuyến công cho phù hợp thực tế; cập nhật, hoàn thiện phần mềm phục vụ công tác thống kê số liệu và theo dõi quản lý chương trình, đề án khuyến công; ban hành quy định tiêu chí, tiêu chuẩn, nội dung quy trình cung cấp dịch vụ, định mức kinh tế kỹ thuật của hoạt động khuyến công; đào tạo cán bộ khuyến công.

Nâng cao năng lực và kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ lãnh đạo, cán bộ trung tâm khuyến công theo hướng chuyên nghiệp; tăng cường hệ thống khuyến công viên cấp huyện, xã đủ mạnh về số lượng và chất lượng; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến công; hạn chế những biến động về luân chuyển đối với cán bộ làm khuyến công, đặc biệt là việc điều động, thay thế cán bộ chủ chốt của các trung tâm khuyến công cấp tỉnh.

Về nguồn kinh phí, lồng ghép khuyến công với các dự án, chương trình mục tiêu khác để khuyến khích, thu hút nguồn vốn của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đầu tư phát triển CNNT; tăng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho chương trình. Sở Công Thương tham mưu UBND tỉnh, thành phố tăng mức hỗ trợ kinh phí khuyến công địa phương đối với các huyện nghèo, địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn, xã nông thôn mới.

Ngoài ra, Cục CTĐP phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục rà soát, hoàn thiện văn bản có liên quan về hoạt động khuyến công; hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm các đề án tạo nên chuỗi giá trị trong một số ngành, lĩnh vực là thế mạnh điển hình của địa phương; đa dạng hóa các hình thức thông tin tuyên truyền, cung cấp kịp thời thông tin về cơ chế, chính sách đối với hoạt động khuyến công và phát triển công nghiệp, thương mại…

Chương trình KCQG giai đoạn 2021-2030 đã được Cục CTĐP xây dựng với định hướng chú trọng phát triển CNNT theo chiều sâu, góp phần tạo bước đột phá trong nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở các địa phương.

Theo: congthuong.vn

 

 

 
« Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối »

Trang 3 trong tổng số 21

Hình ảnh hoạt động

  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Dành cho quảng cáo



Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay97
mod_vvisit_counterHôm qua356
mod_vvisit_counterTrong tuần1470
mod_vvisit_counterTuần trước2325
mod_vvisit_counterTrong tháng6498
mod_vvisit_counterTháng trước0
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ482133

Khách trực tuyến: 15
IP của bạn: 172.68.65.41
Hôm nay 24 tháng 01 năm 2020