Tin tức sự kiện
“Lấy khuyến công nuôi khuyến công"

Đó là chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An tại Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc lần thứ XIV- năm 2019, do Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) phối hợp với UBND TP. Hải Phòng tổ chức ngày 23/5.


Lay KC nuoi KC

Khuyến công quốc gia góp phần phát triển CNNT địa phương

Điểm trũng thiếu vốn

Báo cáo tại hội nghị, ông Hoàng Chính Nghĩa - Phó Cục trưởng Cục Công Thương địa phương - cho biết: Tổng kế hoạch kinh phí khuyến công năm 2019 được duyệt của 28 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc là 140,467 tỷ đồng. 4 tháng đầu năm, toàn vùng đã thực hiện với kinh phí 17,322 tỷ đồng, đạt 12,33% kế hoạch năm.

Từ nguồn kinh phí được giao, các địa phương trong khu vực đã tổ chức đào tạo nghề cho 150 lao động; hỗ trợ 33 cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) ứng dụng máy móc, thiết bị hiện đại vào sản xuất công nghiệp; tổ chức 2 hội chợ và hỗ trợ 123 cơ sở CNNT tham gia; thực hiện đăng ký và xây dựng thương hiệu cho 1 cơ sở CNNT…

Dù vậy, tổng kế hoạch kinh phí khuyến công được duyệt của khu vực năm 2019 thấp hơn 3,14% so với cùng kỳ năm 2018. 4 tháng đầu năm 2019, kinh phí thực hiện của toàn vùng cũng giảm 21,69% so với cùng kỳ. Tại hội nghị, nhiều địa phương phản ánh, kinh phí hỗ trợ nội dung khuyến công thấp, không hấp dẫn được các cơ sở CNNT tham gia và thụ hưởng. Công tác khảo sát xây dựng kế hoạch, đề xuất các đề án khuyến công và chất lượng đề án hạn chế, còn ít địa phương đăng ký và triển khai được đề án mang tính điển hình và lan tỏa cao. Việc bảo vệ định mức chi phí cho trung tâm khuyến công các địa phương rất khó khăn, do vậy khó bảo đảm nguồn kinh phí cho vận hành bộ máy khuyến công...

Nghiên cứu cơ chế hồi vốn

Trước thực trạng đó, Thứ trưởng Đặng Hoàng An cho rằng: Cục Công Thương địa phương và các địa phương nghiên cứu phương án hồi vốn cho khuyến công với doanh nghiệp đã được hỗ trợ, đạt hiệu quả kinh tế cao nhằm chia sẻ nguồn lực triển khai những hoạt động khác.

Cùng đó, các địa phương cần thay đổi nhận thức về nguồn kinh phí khuyến công. Hiện, nguồn kinh phí khuyến công một số địa phương do tỉnh cấp cao hơn nguồn khuyến công quốc gia. Nguyên do, các địa phương này nhận thức rõ ràng vai trò của khuyến công với phát triển công nghiệp của địa phương, dành nguồn lực xứng đáng cho triển khai các đề án phù hợp. Vì vậy, các địa phương cần chủ động bố trí kinh phí hơn nữa cho công tác khuyến công.

Nhằm hoàn thành hiệu quả mục tiêu công tác khuyến công, trước mắt, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố theo dõi, đôn đốc đơn vị thực hiện đề án khuyến công đảm bảo đúng tiến độ, quy định. Tập trung rà soát nhu cầu của các đối tượng thụ hưởng; xây dựng đề án điểm, đề án nhóm, đề án hỗ trợ cơ sở CNNT có sản phẩm CNNT tiêu biểu đạt cấp khu vực, cấp quốc gia đảm bảo có sự liên kết; giảm mạnh việc khảo sát, lựa chọn các đề án dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp.

Về dài hạn, các địa phương thực hiện tốt xây dựng kế hoạch khuyến công năm 2020, trên cơ sở văn bản hướng dẫn của Cục Công Thương địa phương, đổi mới cách thức xây dựng kế hoạch các hoạt động khuyến công theo hướng có trọng tâm, trọng điểm. "Nội dung này cần được thực hiện và hoàn thành vào đầu năm 2020 để trình và được phân bố đủ kinh phí thực hiện" - Thứ trưởng Đặng Hoàng An nhấn mạnh.

Về hạn chế chưa có nhiều các đề án có tính lan tỏa cao, ông Ngô Quang Trung - Cục trưởng Cục Công Thương địa phương - cho rằng, cần thiết lập mối quan hệ giữa Trung tâm khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp 1 (Cục Công Thương địa phương) và các địa phương nhằm xây dựng đề án có tính liên vùng, hiệu quả cao. Đồng thời, đưa kinh phí khuyến công vào định mức hàng năm của Sở Công Thương nhằm có đủ nguồn lực cho khuyến công triển khai các hoạt động.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An:

Chủ động bố trí nguồn kinh phí cho triển khai đề án phù hợp với điều kiện địa phương là yếu tố chính giúp các tỉnh, thành phố trong khu vực phía Bắc sớm hoàn thành hiệu quả kế hoạch khuyến công năm 2019.

 
Hội nghị Khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc lần thứ XIV

Nhằm đánh giá kết quả thực hiện hoạt động công tác khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp của các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc năm 2018 và 4 tháng đầu năm 2019; đề ra nhiệm vụ và giải pháp để hoàn thành kế hoạch khuyến công năm 2019, Chiều 23/5, tại thành phố Hải Phòng, Bộ Công Thương phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng tổ chức Hội nghị khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc lần thứ XIV – năm 2019


Hội nghị Khuyến công các tỉnh phía Bắc 2019

Tham dự và đồng chủ trì Hội nghị có ông Đặng Hoàng An, Thứ trưởng Bộ Công Thương; ông Ngô Quang Trung, Cục trưởng Cục Công thương địa phương; ông Nguyễn Văn Thành, Phó Chủ tịch UBND thành phố; ông Bùi Quang Hải, Gám đốc Sở Công Thương thành phố Hải Phòng. Đại biểu tham dự Hội nghị có đại diện Lãnh đạo Sở Công Thương của 28 tỉnh, thành khu vực phía Bắc cùng đại diện một số các doanh nghiệp.

Theo báo cáo trình bày tại Hội nghị, công tác quản lý nhà nước về khuyến công ngày càng được củng cố. Tổ chức hệ thống quản lý khuyến công được quan tâm đầu tư, kết nối hoạt động ngày càng hiệu quả. Công tác xây dựng, thẩm định đề án, hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện và thanh quyết toán các đề án khuyến công ở một số địa phương có chuyển biến tích cực. Hoạt động khuyến công đã bám sát mục tiêu kế hoạch của chương trình khuyến công, trên cơ sở cụ thể hóa kế hoạch bằng các đề án. Quy mô và chất lượng các đề án khuyến công ngày càng được nâng cao và có tác động rõ nét đến phát triển công nghiệp ở nông thôn. Hoạt động khuyến công đã góp phần tích cực trong triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ, giúp doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh, tháo gỡ phần nào khó khăn về vốn đầu tư. Chương trình khuyến công đã hỗ trợ, khuyến khích các cơ sở công nghiệp nông thôn thúc đẩy sản xuất, đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị sản phẩm, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ. Mặt khác, khuyến khích các cơ sở công nghiệp nông thôn khai thác tốt tiềm năng nguồn nguyên liệu có trên địa bàn các tỉnh, thành phố tạo ra giá trị sản xuất chung của ngành, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa. Hoạt động tư vấn phát triển công nghiệp tại một số Trung tâm khuyến công tiếp tục tạo thêm nguồn thu và góp phần quan trọng trong công tác nâng cao năng lực cho các Trung tâm.

Để tiếp tục phát triển công tác khuyến nông trong thời gian tới, Cục Công thương địa phương đề ra 8 nhiệm vụ chủ yếu, trong đó tập trung một số nhiệm vụ sau: tiếp tục triển khai đồng bộ Chương trình hành động của ngành về thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ; tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng phương thức thông tin tuyên truyền, cải tiến nội dung thông tin tuyên truyền để chuyển tải đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin về cơ chế, chính sách, các hoạt động khuyến công và công nghiệp địa phương tới các cơ sở công nghiệp nông thôn; đẩy mạnh vận động tư vấn phát triển công nghiệp của các Trung tâm khuyến công.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, ông Đặng Hoàng An, Thứ trưởng Bộ Công Thương khẳng định việc tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành phố trong vùng và liên kết giữa các vùng để trao đổi kinh nghiệm trong phát triển ngành và hoạt động khuyến công vừa phát huy thế mạnh của mỗi địa phương, đồng thời liên kết khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng lợi thế của cả vùng. Cùng với việc thực hiện 8 nhiệm vụ chủ yếu, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An yêu cầu Sở Công Thương các tỉnh, thành phố tiếp tục theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện đề án khuyến công đảm bảo đúng tiến độ, quy định; thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo định kỳ. Tổ chức kiểm tra, giám sát việc sử dụng kinh phí khuyến công đảm bảo đúng đối tượng, đúng mục đích và đúng các quy định hiện hành. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách về hoạt động khuyến công. Tăng cường thực hiện tốt chức năng tham mưu cho UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác khuyến công trên địa bàn. Nâng cao năng lực và kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ lãnh đạo Trung tâm khuyến công và các phòng chuyên môn.

Hội nghị Khuyến công các tỉnh phía Bắc 2019.1

Nhân dịp này, Bộ Công Thương đã tặng Bằng khen cho 5 tập thể và 10 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác khuyến công. Kết thúc Hội nghị, toàn thể đại biểu đã thống nhất đề nghị trao quyền đăng cai tổ chức Hội nghị công tác khuyến công các tỉnh, thành phố phía Bắc lần thứ XV do tỉnh Thái Nguyên thực hiện vào năm 2020.

Nguồn: http://arit.gov.vn/

 

 

 
Quảng Ninh: Tích cực hỗ trợ hộ kinh doanh “lên đời” thành doanh nghiệp

Hiện các hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vẫn khá dè dặt khi đề cập đến việc chuyển đổi mô hình thành doanh nghiệp.


Theo Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh, tính đến ngày 12/01/2018 tỉnh này có 26.390/79.530 đơn vị sản xuất kinh doanh cá thể có đăng ký và hoạt động theo mô hình hộ kinh doanh.

Chưa mặn mà chuyển đổi

Ông Cao Ngọc Tuấn - Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh cho biết, thực tế trên địa bàn có nhiều hộ kinh doanh cá thể có hoạt động sản xuất kinh doanh rất tốt, không thua kém doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, các hộ này vẫn khá dè dặt khi đề cập đến việc chuyển đổi mô hình thành doanh nghiệp. Nguyên nhân được cho là hoạt động của hộ kinh doanh khá đơn giản, thuận tiện, giảm thiểu rất nhiều chi phí, không bị kiểm soát nhiều từ các cơ quan quản lý. Trong khi để phát triển thành doanh nghiệp, các hộ kinh doanh phải thực hiện rất nhiều bước như: Mở sổ sách, thuê kế toán, lập báo cáo tài chính, bảo hiểm lao động, thuế... Một lý do quan trọng dẫn đến nhiều hộ kinh doanh cá thể không mặn mà phát triển doanh nghiệp là để được hưởng chế độ thuế khoán thay vì nộp thuế doanh nghiệp.

Len doi thanh DN

Phường Mạo Khê, TX Đông Triều, tổ chức hội nghị vận động thành lập doanh nghiệp năm 2018

Bà Trần Thị Hằng - hộ kinh doanh ăn uống tại TP Hạ Long chia sẻ, nếu đăng ký thành lập doanh nghiệp sẽ mất thời gian và chi phí. Vấn đề tuyển dụng, sa thải lao động hoặc giải thể doanh nghiệp cũng phải theo đúng quy định, trong khi với hộ kinh doanh cá thể thực hiện chế độ sổ sách kế toán, hồ sơ, trình tự thủ tục thành lập đơn giản; lệ phí thành lập chỉ bằng 50% lệ phí thành lập doanh nghiệp. Chỉ những hộ làm ăn lớn, có xuất nhập khẩu hàng hóa mới thành lập doanh nghiệp để đáp ứng các yêu cầu về hóa đơn, chứng từ xuất nhập khẩu. Còn những hộ kinh doanh như chúng tôi vẫn thích hoạt động theo mô hình hộ cá thể để được hưởng thuế khoán và khỏi mất thời gian làm báo cáo thuế, xây dựng hệ thống kế toán.

Đồng quan điểm với bà Hằng, bà Trần Thị Oanh (một hộ kinh doanh tại chợ Hạ Long 1) cho biết, bà không có nhu cầu mở rộng quy mô kinh doanh mặc dù công việc kinh doanh của bà có nhiều điều kiện để mở rộng. Lý do được bà cho là đã quen với việc tự tổ chức, tự kiểm soát việc mua bán.Gia đình tôi theo nghề này đã mấy chục năm, chấp hành đúng mọi chủ trương chính sách của Nhà nước. Tôi buôn bán nhỏ, tự mình kiểm soát thu chi đã quen, không có nhu cầu phát triển hơn, lập doanh nghiệp chỉ thêm thủ tục, tốn tiền thuê kế toán…- bà Oanh nói.

Đây là những lo ngại được cho là thiếu cơ sở và là rào cản lớn cho sự phát triển của chính hộ kinh doanh cá thể cũng như cho nền kinh tế hiện nay.

Nhiều chính sách hỗ trợ

Ngành Thuế đang tích cực cùng các cấp chính quyền hỗ trợ, đồng hành cùng người nộp thuế, động viên khuyến khích những hộ kinh doanh có đủ điều kiện chuyển đổi thành doanh nghiệp để tiếp tục phát triển lớn mạnh hơn. Cùng với đó là các giải pháp về cải cách thủ tục hành chính, tạo dựng môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; đảm bảo quyền kinh doanh, quyền bình đẳng tiếp cận nguồn lực và cơ hội kinh doanh của tất cả các doanh nghiệp, ông Tuấn cho biết thêm.

Tuy nhiên, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, việc vận động các hộ kinh doanh cá thể phát triển thành doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vẫn gặp nhiều khó khăn. Trước thực tế này, Quảng Ninh đã và đang triển khai nhiều giải pháp để các hộ kinh doanh cá thể đủ điều kiện thuận lợi thực hiện việc chuyển đổi mô hình thành doanh nghiệp.

Ngoài những cơ chế ưu đãi chung mà Nhà nước dành cho doanh nghiệp mới thành lập, Quảng Ninh còn có nhiều chính sách riêng để hỗ trợ doanh nghiệp thành lập mới. Cụ thể là Quyết định 148/2018/NQ-HĐND ban hành chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.

Hỗ trợ 100% lệ phí đăng ký doanh nghiệp lần đầu tại cơ quan đăng ký kinh doanh và phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp lần đầu tại Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia cho doanh nghiệp thành lập mới (không bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh). Hỗ trợ 100% chi phí 1 con dấu tròn của doanh nghiệp và chi phí đăng ký duy trì 1 chữ ký số trong 1 năm đầu thành lập nhưng không quá 2,25 triệu đồng/doanh nghiệp. Hỗ trợ 100% chi phí thực hiện các dịch vụ kế toán, kê khai, báo cáo và quyết toán thuế trong 1 năm đầu tiên nhưng không quá 2 triệu đồng/tháng cho DNNVV chuyển đổi từ hộ kinh doanh có thời gian hoạt động tối thiểu 1 năm trước khi chuyển đổi.

Vấn đề mặt bằng sản xuất, kinh doanh, DNNVV có 100% vốn tư nhân trong nước được hỗ trợ 50% giá thuê mặt bằng tại các KCN, CCN trên địa bàn tỉnh, thời gian hỗ trợ là 2 năm kể từ ngày ký hợp đồng thuê mặt bằng thông qua việc bù giá cho nhà đầu tư hạ tầng.

Theo số liệu thống kê của Sở KH&ĐT Quảng Ninh, tính đến hết tháng 4, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có trên 18.100 doanh nghiệp, vốn đăng ký trên 174.170 tỷ đồng. Kế hoạch phát triển doanh nghiệp năm 2019 là 3.940 doanh nghiệp, nhưng 4 tháng đầu năm 2019, toàn tỉnh mới có khoảng 700 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc thành lập mới, đạt 17,8% kế hoạch. Để đạt mục tiêu mỗi tháng tỉnh phải có 405 doanh nghiệp thành lập mới và 25.000 doanh nghiệp vào năm 2020 là rất khó. Điều này đòi hỏi cần tiếp tục có sự vào cuộc của các cấp, ngành, địa phương trong hoạt động hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.

Nguồn: https://enternews.vn

 

 

 
Đề xuất sửa đổi chính sách phát triển công nghiệp nông thôn: Mở rộng đối tượng thụ hưởng

Chương trình Khuyến công quốc gia (KCQG) giai đoạn 2014 - 2020 đã đi được hơn nửa chặng đường. Tuy nhiên, những quy định "cứng" trong lĩnh vực này khiến không ít địa phương gặp khó trong triển khai và các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) khó thụ hưởng.


Mo rong doi tuong thu huong

Khuyến công quốc gia góp phần phát triển CNNT địa phương

Nhiều băn khoăn

Cần Thơ có 9 đơn vị hành chính, gồm 4 huyện và 5 quận. Theo quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP về Khuyến công (Nghị định 45), công tác khuyến công chỉ triển khai tại các khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn và hạn chế hỗ trợ ở khu vực đô thị. Do vậy, từ năm 2014 đến nay, công tác khuyến công của Cần Thơ chỉ được triển khai thực hiện tại khu vực 4 huyện với tổng kinh phí 3,2 tỷ đồng.

Theo ông Nguyễn Minh Toại - Giám đốc Sở Công Thương Cần Thơ - trình độ dân trí cũng như tiềm lực về vốn của các cơ sở sản xuất tại khu vực thành thị cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn, do đó, nếu được triển khai ở khu vực thành thị, "vốn mồi" của khuyến công rõ ràng sẽ phát huy tốt hơn hiệu quả. Chưa kể, tại các huyện, quy mô cũng như vốn của các cơ sở sản xuất nhỏ, rất khó mời gọi tham gia đầu tư, nhất là đầu tư công nghệ sản xuất mới. Mức hỗ trợ cho các nội dung theo quy định không cao, trong khi thủ tục kéo dài vài tháng đến cả năm nên chưa thu hút được các cơ sở tham gia. Thậm chí, có những đề án đã được duyệt nhưng phải ngừng triển khai do không còn đúng cơ hội đầu tư của doanh nghiệp.

Ông Lê Trọng Hân - Phó giám đốc Sở Công Thương Thanh Hóa - băn khoăn: Tính kích thích của các đề án khuyến công không cao bởi so với nguồn vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng của doanh nghiệp, kinh phí khuyến công chỉ hỗ trợ 100 -200 triệu đồng là quá thấp. Hơn nữa, kế hoạch đầu tư đổi mới trang thiết bị, máy móc của doanh nghiệp thường được thực hiện rất nhanh trong khi để được hưởng kinh phí hỗ trợ của khuyến công phải đăng ký trước 1 năm và hỗ trợ trước đầu tư nên nảy sinh nhiều bất cập.

Tháo trở ngại chính sách

Chương trình KCQG đến năm 2020 đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển CNNT tại các địa phương. Số liệu từ Bộ Công Thương cho thấy, từ năm 2014 - 2018, chương trình KCQG đã thực hiện hỗ trợ các đề án với hơn 481 tỷ đồng. Nguồn vốn này được đưa trực tiếp vào các cơ sở sản xuất, giúp các đối tượng thụ hưởng nâng cao năng lực sản xuất, tay nghề lao động, tăng doanh thu và lợi nhuận.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Thanh Hải - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ - cho rằng, cần đặt công tác khuyến công trong tổng thể chứ không theo chuỗi cụ thể, gắn kết CNNT, khuyến công với phát triển nông nghiệp bền vững cũng như tái cơ cấu nông nghiệp, phát triển du lịch làng nghề; mỗi xã, phường một sản phẩm… Các bộ, ngành cần liên kết chặt chẽ, xây dựng định hướng chính sách khuyến công theo hướng mở, thuận lợi cho cả đơn vị thực hiện chức năng quản lý và đối tượng thụ hưởng. Theo đó, cần đưa nguồn vốn khuyến công đúng thời điểm, thích hợp với năng lực tiếp cận. Đồng thời, quan tâm tư vấn định hướng sản phẩm, thị trường, công nghệ, ứng dụng để phát triển công nghiệp hiệu quả; có nguồn lực thỏa đáng như phát triển cụm công nghiệp, xử lý môi trường, đào tạo đổi mới công nghệ, lồng ghép các nguồn vốn thực hiện, cách thức hỗ trợ đơn giản.

Đại diện Sở Công Thương Cần Thơ đề xuất: Bộ Công Thương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định 45 theo hướng mở rộng đối tượng thụ hưởng ra tất cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, không phân biệt ở quận, huyện. "Đặc biệt, quy định địa phương dành từ 0,5 - 1% ngân sách cho công tác khuyến công và phát triển công nghiệp địa phương, từ đó, Sở Công Thương mới có nguồn cho xây dựng kế hoạch hỗ trợ và tái đầu tư cho công nghiệp" - ông Nguyễn Minh Toại nói.

Theo: congthuong.vn

 

 

 
Quảng Ninh: Thành lập Cụm công nghiệp giúp các cơ sở tiểu thủ công phát triển theo hướng tập trung

Được triển khai xây dựng từ đầu năm 2019, sau một thời gian đẩy nhanh thi công, vừa qua, tại TP Cẩm Phả (Quảng Ninh), Công ty CP Công nghiệp Cẩm Thịnh đã tổ chức khánh thành dự án hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp (CCN) Cẩm Thịnh (giai đoạn 1) với mục tiêu phát triển công nghiệp theo hướng tập trung. Tới dự có ông Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Ninh, cùng đại diện các sở, ngành, địa phương.

Cum CN

Phối cảnh dự án hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Cẩm Thịnh

Trên địa bàn TP Cẩm Phả hiện nay có 290 cơ sở sản xuất kinh doanh đơn lẻ trong các lĩnh vực: Cơ khí, mộc, khai thác, sản xuất vật liệu xây dựng; chế biến nông, lâm sản… Trong đó nhiều cơ sở gây ô nhiễm không khí, nguồn nước thải chưa được xử lý cẩn thận, bụi bẩn, tiếng ồn… Hơn nữa, quỹ đất ngày càng hạn hẹp nên việc mở rộng quy mô sản xuất của các cơ sở này gặp nhiều khó khăn. 

Trước tình hình trên, việc quy hoạch đầu tư xây dựng dự án hạ tầng kỹ thuật CCN Cẩm Thịnh là nhu cầu cấp thiết. Tháng 10/2018, UBND tỉnh có Quyết định số 3979/QĐ-UBND về việc giao Công ty CP Công nghiệp Cẩm Thịnh làm chủ đầu tư xây dựng Dự án hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Cẩm Thịnh.

Dự án có tổng mức đầu tư hơn 627 tỷ đồng (vốn ngoài ngân sách), quy mô 69,5ha, trong đó khu 1, phường Cẩm Phú rộng 17ha; khu 2, phường Cẩm Thịnh rộng 52,5ha. Để Dự án triển khai đúng tiến độ, từ quý III và quý IV/2018, TP Cẩm Phả đã phối hợp với chủ đầu tư tổ chức lập, phê duyệt quy hoạch, bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ di dời các hộ dân; hoàn thiện các thủ tục giao đất, cho thuê đất. Đến ngày 25/4/2019, CCN Cẩm Thịnh (giai đoạn 1) đã được hoàn thành với diện tích 49,5ha và kinh phí thực hiện trên 500 tỷ đồng. 

Theo ông Đặng Huy Hậu, việc di dời cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư không phù hợp với quy hoạch đô thị sẽ được ưu tiên. Dự án này sẽ góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ và thu hút các dự án đầu tư vào CCN để từ đó không còn tiềm ẩn các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến người dân. Ông Đào Văn Thắng, chủ cơ sở sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng Quang Thắng (khu Tân Lập, phường Cẩm Thủy), cho biết: "Đầu năm 2019, khi địa phương tuyên truyền, vận động di chuyển cơ sở vào Cụm công nghiệp Cẩm Thịnh tôi thấy hoàn toàn hợp lý. Cụm công nghiệp Cẩm Thịnh đang được đầu tư kết nối đồng bộ cả hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy nên dễ dàng vận chuyển hàng hóa tiêu thụ. Sắp tới, tôi sẽ đăng ký thuê 300-500m2 đất lâu dài để xây nhà xưởng sản xuất. Chắc chắn khi chuyển về đây hoạt động sẽ tạo điều kiện cho các hộ liên kết phát triển sản xuất, đồng thời sẽ khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong khu dân cư.

Cum CN1

Hệ thống xử lý nước thải tập trung được xây dựng với công suất 950m3/ngày đêm

Tại buổi khánh thành Dự án, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Đặng Huy Hậu cũng đề xuất đưa CCN Cẩm Thịnh trở thành trung tâm sản xuất, kinh doanh xứng đáng là CCN mẫu. Để thực hiện được điều đó, ông yêu cầu chủ đầu tư và các hộ sản xuất phải thay đổi tư duy, nỗ lực áp dụng kỹ thuật, công nghệ mới, đồng thời cần sớm thực hiện việc trồng cây xanh tại khu công nghiệp để tạo cảnh quan môi trường; cần tập trung hoàn thành tuyến đường vào CCN tạo điều kiện đi lại thuận lợi cho các cơ sở đã đăng kí vào CCN. Ngoài ra, ông còn đề nghị chủ đầu tư và các sở, ngành, chính quyền địa phương cần tiếp tục kêu gọi doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đầu tư để phát triển sản xuất tại CCN cùng với đó là hoàn thiện nốt các hạng mục giai đoạn 1, có kế hoạch thực hiện triển khai giai đoạn 2 trong thời gian sớm nhất.

Theo chủ đầu tư, sau khi đưa vào sử dụng, CCN Cẩm Thịnh sẽ đáp ứng cho các cơ sở công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, chế biến nông, lâm, thuỷ sản, sản xuất hàng tiêu dùng, cơ khí, lắp ráp, sửa chữa thiết bị…. Tới nay, đã có 250 trên tổng số 381 cơ sở nằm trong khu dân cư trên địa bàn TP Cẩm Phả đã đăng ký vào cụm công nghiệp Cẩm Thịnh, đạt khoảng 70% diện tích. 

CCN Cẩm Thịnh được đầu tư đồng bộ hạ tầng gồm: Đường giao thông, vỉa hè, cây xanh, điện, nước, khu điều hành và hệ thống phòng cháy chữa cháy đạt chuẩn. Đặc biệt, CCN còn được đầu tư 2 hệ thống xử lý nước thải tập trung, công suất 950 m3/ngày đêm với kinh phí trên 36 tỷ đồng, đảm bảo cho nước thải tại CCN đủ tiêu chuẩn xả thải ra môi trường. Công tác an ninh cũng luôn được chú trọng với việc đầu tư lắp đặt hệ thống camera giám sát và lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp.

Nguồn: http://www.congnghieptieudung.vn

 
Xây dựng Chương trình khuyến công quốc gia phù hợp với bối cảnh kinh tế mới

Ngày 24/4, Bộ Công Thương phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị sơ kết Chương trình khuyến công quốc gia (KCQG) giai đoạn 2014-2018. Bộ trưởng Bộ Công Thương ông Trần Tuấn Anh; Phó trưởng ban Ban Kinh tế Trung ương ông Cao Đức Phát; Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội ông Nguyễn Doãn Toản đã tham dự và đồng chủ trì hội nghị.


XD KH KCQG phù hợp bối cảnh mới

Lan tỏa hiệu quả

Theo số liệu từ Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương), tổng kế hoạch kinh phí KCQG 5 năm vừa qua (2014-2018) của cả nước là 481,407 tỷ đồng. Nguồn kinh phí này thu hút tới gần 2.300 tỷ đồng vốn đối ứng từ các đơn vị thụ hưởng, trung bình cứ 1 đồng vốn khuyến công thu hút được 4,78 đồng vốn đầu tư từ cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT). Đây là con số đáng ghi nhận về hiệu quả của chương trình.

Tại hội nghị, ông Cao Đức Phát- Phó trưởng ban thường trực Ban Kinh tế Trung ương đánh giá, dưới sự góp sức của côngtác khuyến công, 10 năm qua, giá trị sản xuất CNNT tăng 12,7%/năm, cao hơn tăng trưởng chung của ngành công nghiệp. Công tác khuyến công là giải pháp cần thiết và quan trọng để phát triển ngành nghề và kinh tế khu vực nông thôn. Để đạt được kết quả trên, ngành Công Thương đã có nhiều cố gắng trong xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách và triển khai chương trình. Trong đó quan trọng nhất là hình thành được hệ thống khuyến công từ Trung ương đến địa phương; hình thành cơ chế vận hành hệ thống khuyến công; triển khai số lượng lớn dự án với nhiều nội dung thiết thực, nhất là ở khu vực nông thôn.

Ghi nhận những đóng góp của chương trình KCQG giai đoạn vừa qua, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cũng nhận định: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khuyến công đã từng bước được hoàn thiện. Vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước về Công Thương địa phương (CTĐP) theo đó được nâng cao một bước, tạo sự gắn kết chặt chẽ với cộng đồng doanh nghiệp (DN), cơ sở CNNT. Đặc biệt, hệ thống tổ chức thực hiện công tác khuyến công được thiết lập, dần ổn định và hoạt động hiệu quả. Các trung tâm khuyến công được quan tâm đầu tư về bộ máy và cơ sở vật chất trang thiết bị, phương tiện làm việc. Từ đó, Chương trình KCQG dần phát huy hiệu quả và tạo được những dấu ấn lớn trong phát triển công nghiệp ở khu vực nông thôn cũng như góp sức vào tăng trưởng sản xuất chung của toàn ngành công nghiệp.

Hà Nội là một điển hình trong thực hiện tốt công tác khuyến công, ông Nguyễn Doãn Toản- Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội chia sẻ: Giai đoạn vừa qua, khuyến công đã được lồng ghép với các chương trình khác nhằm huy động thêm nguồn lực thực hiện. Ngoài kinh phí của thành phố, chương trình đã thu hút thêm trên 100 tỷ đồng vốn từ các cơ sở CNNT cho triển khai thực hiện các đề án. Năm 2018, giá trị sản xuất CNNT của thành phố đã đạt 98.000 tỷ đồng, tạo ra 1.500 mẫu sản phẩm mới, tạo việc làm cho 430.000 lao động với thu nhập ổn định 50 triệu/người/năm. “Kết qủa trên đã chứng minh tính đúng đắn, thiết thực của khuyến công và vai trò nổi bật của Bộ Công Thương trong tham mưu với Đảng, Chính phủ ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp cũng như công tác chỉ đạo các địa phương trên cả nước triển khai thực hiện”, ông Nguyễn Doãn Toản nhấn mạnh.
 
    Đặt khuyến công trong chiến lược phát triển kinh tế chung

Mặc dù mới đi được hơn nửa chặng đường và đã đạt những kết quả rõ ràng, tuy nhiên Chương trình KCQG vẫn được chỉ ra còn một số hạn chế cần khắc phục. Về vấn đề này, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cũng chỉ rõ: Kinh phí dành cho Chương trình KCQG những năm vừa qua rất hạn chế, chỉ khoảng 130 tỷ đồng/năm, được chia cho 63 tỉnh, thành phố đã ảnh hưởng đáng kể tới hiệu quả của chương trình. Hơn nữa, tại các địa phương, việc triển khai nguồn lực hỗ trợ này cũng là vấn đề đáng nói, có những địa phương linh hoạt sáng tạo trong thực hiện đã thu hút thêm vốn từ các nguồn khác nhưng cũng có những địa phương vốn bị teo lại, chương trình không được coi trọng.

Chương trình KCQG đã đi được hơn nửa chặng đường, để có thể xây dựng định hướng cho chương trình trong giai đoạn tới, Bộ Công Thương sẽ nhìn nhận, đánh giá lại về KCQG trong tổng thể về chính sách phát triển quốc gia nhất là chiến lược hội nhập quốc tế cũng như các chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Xác định rõ vai trò của công nghiệp quốc gia, trong đó có công nghiệp địa phương, từ đó định vị vai trò KCQG. Tiếp đó, hoàn thiện các khung khổ pháp lý; nâng cao chất lượng của đội ngũ nhân lực thực hiện công tác khuyến công, đặc biệt là trong phối hợp tổ chức để tạo ra những liên kết ngang và liên kết dọc với các ngành nghề, hiệp hội cũng như các chương trình liên quan.

“Bối cảnh kinh tế mới đang thay đổi, nếu không đánh giá lại chương trình để đổi mới cả về nội dung, hình thức gắn với chất lượng, hội nhập, khả năng cạnh tranh thì KCQG không phát huy được vai trò. Chính vì vậy, đây sẽ là nội dung quan trọng Bộ Công Thương tập trung đổi mới trong thời gian tới, đặc biệt là xây dựng kế hoạch và chiến lược trong giai đoạn 2021 – 2030”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Quyết định số 1288/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ  phê duyệt Chương trình KCQG đến năm 2020 (quyết định 1288) với mục tiêu huy động các nguồn lực tham gia đầu tư sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ khuyến công; khuyến khích, hỗ trợ sản xuất sạch hơn tại các cơ sở sản xuất công nghiệp; giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người...

Để thực hiện mục tiêu trên, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng cũng đề nghị: Cục CTĐP cần xây dựng hệ thống những giải pháp thiết thực. Cụ thể về chính sách, Cục phối hợp với các địa phương xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện chính sách khuyến công cho phù hợp thực tế; cập nhật, hoàn thiện phần mềm phục vụ cho công tác thống kê số liệu và theo dõi quản lý chương trình, đề án khuyến công; ban hành quy định tiêu chí, tiêu chuẩn, nội dung quy trình cung cấp dịch vụ, định mức kinh tế kỹ thuật của hoạt động khuyến công; đào tạo cán bộ khuyến công.

Nâng cao năng lực và kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ lãnh đạo, cán bộ trung tâm khuyến công theo hướng chuyên nghiệp; tăng cường hệ thống khuyến công viên cấp huyện, xã đủ mạnh về số lượng và chất lượng; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến công; hạn chế những biến động về luân chuyển đối với cán bộ làm khuyến công, đặc biệt là việc điều động, thay thế cán bộ chủ chốt của các trung tâm khuyến công cấp tỉnh.

Về nguồn kinh phí, lồng ghép khuyến công với các dự án, chương trình mục tiêu khác để khuyến khích, thu hút nguồn vốn của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đầu tư phát triển CNNT; tăng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho chương trình. Sở Công Thương tham mưu UBND tỉnh, thành phố tăng mức hỗ trợ kinh phí khuyến công địa phương đối với các huyện nghèo, địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn, xã nông thôn mới.

Ngoài ra, Cục CTĐN phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiếp tục rà soát, hoàn thiện văn bản có liên quan về hoạt động khuyến công; hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm các đề án tạo nên chuỗi giá trị trong một số ngành, lĩnh vực là thế mạnh điển hình của địa phương; đa dạng hóa các hình thức thông tin tuyên truyền, cung cấp kịp thời thông tin về cơ chế chính sách đối với hoạt động khuyến công và phát triển công nghiệp, thương mại…

Nguồn: http://arit.gov.vn/

 

 

 

 
Chương trình Khuyến công quốc gia: Thay đổi diện mạo công nghiệp nông thôn

Mặc dù mới đi được hơn nửa chặng đường, Chương trình Khuyến công quốc gia (KCQG) đến năm 2020 đã góp sức đáng kể vào phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT) của cả nước. Đặc biệt, hiệu quả chương trình đã lan tỏa rộng khắp, thu hút nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia.


Hiệu quả thiết thực

Theo số liệu từ Cục Công Thương địa phương (CTĐP) - Bộ Công Thương, tổng kế hoạch kinh phí KCQG 5 năm vừa qua (2014-2018) là 481,407 tỷ đồng. Nguồn kinh phí này thu hút tới gần 2.300 tỷ đồng vốn đối ứng từ các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện và thụ hưởng. Đây là con số đáng ghi nhận về hiệu quả của chương trình, trung bình cứ 1 đồng vốn từ ngân sách nhà nước thu hút 4,78 đồng vốn đầu tư của cơ sở CNNT.

Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tiến bộ khoa học - kỹ thuật là một trong những nội dung thu hút lượng vốn đối ứng lớn và cũng được ghi nhận đạt hiệu quả nhanh cho các cơ sở thụ hưởng. 5 năm qua, chương trình đã hỗ trợ xây dựng 210 mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất sản phẩm mới, công nghệ mới; hỗ trợ 630 cơ sở chuyển giao công nghệ và ứng dụng máy móc tiên tiến, tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.

KCQG thay doi dien mao CNNT

Hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn phát huy hiệu quả

Để nhìn nhận toàn diện hiệu quả của nội dung này trong giai đoạn vừa qua, Cục CTĐP đã kiểm tra, đánh giá mức độ khả thi, tính hiệu quả các đề án tại 10 địa phương của 3 khu vực trên cả nước. Qua đánh giá, các mô hình đều là những hình mẫu cho các giải pháp sản xuất khu vực nông thôn, giúp các doanh nghiệp, cơ sở CNNT ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Có những mô hình mang tính đại diện cho cả vùng và mang lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, môi trường; mức doanh thu sau khi được kinh phí KCQG hỗ trợ tăng trung bình khoảng 20% so với doanh thu trước khi được hỗ trợ.

Bên cạnh đó, những nội dung thuộc Chương trình KCQG cũng được triển khai thực hiện, đạt hiệu quả rất tốt, như: Đào tạo nghề, truyền nghề, nâng cao tay nghề cho hơn 18.000 lao động nông thôn, tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo trung bình đạt trên 90%; hỗ trợ thành lập 186 doanh nghiệp sản xuất tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết và hỗ trợ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp cho 45 cụm công nghiệp tại 22 địa phương…

Theo đại diện Cục CTĐP, Cục đã nhận được sự chỉ đạo kịp thời từ Bộ Công Thương trong hướng dẫn, chỉ đạo, triển khai chương trình tới các địa phương và tổ chức dịch vụ khuyến công. Tổ chức khuyến công địa phương cũng như hệ thống khuyến công viên từng bước được hình thành, củng cố, kết nối thống nhất từ Trung ương đến địa phương và hoạt động ngày càng hiệu quả. Với những nỗ lực đó, mục tiêu của Chương trình KCQG đã và đang được thực hiện; khẳng định vai trò quan trọng, động viên và huy động các nguồn lực vào đầu tư phát triển CNNT; mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội đáng kể; góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới.

Nỗ lực hoàn thành sớm mục tiêu

Quyết định số 1288/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình KCQG đến năm 2020 (Quyết định 1288) với mục tiêu huy động các nguồn lực tham gia đầu tư sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ khuyến công; khuyến khích, hỗ trợ sản xuất sạch hơn tại các cơ sở sản xuất công nghiệp; giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người...

KCQG thay doi dien mao CNNT1

Ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Với những kết quả đã đạt được trong 5 năm qua, Cục CTĐP đang nỗ lực phấn đấu thực hiện đạt và vượt một số mục tiêu cụ thể đề ra tại Quyết định 1288. Trong đó, tiếp tục đẩy mạnh hỗ trợ các nội dung: Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và ứng dụng máy móc tiên tiến cho các cơ sở CNNT; nâng cao năng lực tư vấn phát triển CNNT của các tổ chức dịch vụ công; đa dạng hóa hình thức thông tin tuyên truyền; tăng dần số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp nhận thức được lợi ích và áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp. Đặc biệt, bảo đảm xây dựng kế hoạch khuyến công hàng năm đúng thời hạn, có chất lượng, phấn đấu có ít nhất 30% địa phương xây dựng được đề án KCQG điểm, tổ chức thực hiện đúng quy định và hoàn thành 100% các đề án được giao.

Để thực hiện mục tiêu trên, Cục CTĐP đã xây dựng hệ thống những giải pháp thiết thực. Theo đó về chính sách, Cục phối hợp với các địa phương xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện chính sách khuyến công cho phù hợp thực tế; cập nhật, hoàn thiện phần mềm phục vụ công tác thống kê số liệu và theo dõi quản lý chương trình, đề án khuyến công; ban hành quy định tiêu chí, tiêu chuẩn, nội dung quy trình cung cấp dịch vụ, định mức kinh tế kỹ thuật của hoạt động khuyến công; đào tạo cán bộ khuyến công.

Nâng cao năng lực và kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ lãnh đạo, cán bộ trung tâm khuyến công theo hướng chuyên nghiệp; tăng cường hệ thống khuyến công viên cấp huyện, xã đủ mạnh về số lượng và chất lượng; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến công; hạn chế những biến động về luân chuyển đối với cán bộ làm khuyến công, đặc biệt là việc điều động, thay thế cán bộ chủ chốt của các trung tâm khuyến công cấp tỉnh.

Về nguồn kinh phí, lồng ghép khuyến công với các dự án, chương trình mục tiêu khác để khuyến khích, thu hút nguồn vốn của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đầu tư phát triển CNNT; tăng kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho chương trình. Sở Công Thương tham mưu UBND tỉnh, thành phố tăng mức hỗ trợ kinh phí khuyến công địa phương đối với các huyện nghèo, địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn, xã nông thôn mới.

Ngoài ra, Cục CTĐP phối hợp với các bộ, ngành liên quan tiếp tục rà soát, hoàn thiện văn bản có liên quan về hoạt động khuyến công; hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm các đề án tạo nên chuỗi giá trị trong một số ngành, lĩnh vực là thế mạnh điển hình của địa phương; đa dạng hóa các hình thức thông tin tuyên truyền, cung cấp kịp thời thông tin về cơ chế, chính sách đối với hoạt động khuyến công và phát triển công nghiệp, thương mại…

Chương trình KCQG giai đoạn 2021-2030 đã được Cục CTĐP xây dựng với định hướng chú trọng phát triển CNNT theo chiều sâu, góp phần tạo bước đột phá trong nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở các địa phương.

Theo: congthuong.vn

 

 

 
Tạo động lực cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ

Nâng cao chất lượng, đổi mới công nghệ là yêu cầu đặt ra với nhiều doanh nghiệp (DN ) trong giai đoạn mới với các DN trong ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT), yêu cầu đó còn cấp thiết hơn, nhất là kh i những DN trong ngành này ch ủ yếu là DN vừa và nhỏ. Trước thực tế đó, Chính phủ đã có nhiều ch ính sách tạo động lực và điều kiện thuận lợi để phát triển ngành CNHT.


 

Hỗ trợ chuyển giao công nghệ

Xác định vai trò quan trọng của việc phát triển CNHT giúp đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh việc đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cho các DN CNHT. Cụ thể, Nghị định số 111/2015/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển ngành CNHT đã đưa ra một số chính sách như Nhà nước hỗ trợ tối đa 50% kinh phí đối với thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm các sản phẩm CNHT; tối đa 50% kinh phí đầu tư trang thiết bị nghiên cứu; 50% kinh phí chế tạo thử nghiệm các sản phẩm CNHT thuộc danh mục sản phẩm ưu tiên phát triển; 75% chi phí chuyển giao công nghệ đối với các dự án sản xuất vật liệu có sử dụng trên 85% nguyên liệu trong nước.

Tao dong luc cho Cn ho tro

Tiếp đó, Quyết định số 10/2017/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế quản lý và thực hiện chương trình phát triển CNHT cũng quy định hỗ trợ tối đa 100% cho hoạt động xây dựng và ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực CNHT, xây dựng và công bố tiêu chuẩn về nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng; hỗ trợ tối đa 50% cho hoạt động nghiên cứu ứng dụng, sản xuất thử nghiệm sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển, chuyển giao công nghệ cho các DN và các cơ sở nghiên cứu trong lĩnh vực CNHT.

Ngoài ra, ngành CNHT còn được ưu tiên xem xét hỗ trợ từ nguồn vốn của Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia đối với các chi phí chuyển giao công nghệ, mua bản quyền thiết kế, mua phần mềm, thuê chuyên gia nước ngoài. Bên cạnh đó, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia cũng thực hiện cho vay ưu đãi, bảo lãnh để vay vốn cho các tổ chức, DN nói chung, trong đó có DN CNHT phát triển công nghệ mới, công nghệ tiên tiến, công nghệ cao…

Nâng cao tỷ lệ nội địa hóa

Đáng nói hơn, thông qua thực hiện các chương trình/đề án khoa học và công nghệ cấp quốc gia đã tạo ra nhiều chủng loại vật liệu, linh kiện, sản phẩm, quy trình công nghệ… phục vụ ngành CNHT có chất lượng cao, có khả năng thay thế các sản phẩm nhập khẩu cùng loại với giá thành thấp phục vụ nhu cầu của các DN trong nước.

Điển hình, các nhiệm vụ thuộc Chương trình nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ vật liệu mới đã tạo ra trên 90 loại vật liệu, máy móc và trên 100 quy trình công nghệ, trong đó bao gồm nhiều loại vật liệu thuộc lĩnh vực CNHT như bột huỳnh quang ba màu, màng bảo quản thực phẩm, cao su kỹ thuật, khuôn mẫu kim loại…

Hoặc, Chương trình nghiên cứu ứng dụng và phát triển cơ khí tự động hóa đã triển khai các đề tài với hầu hết các sản phẩm được chế tạo lần đầu ở trong nước có khả năng ứng dụng cao. Trong đó có nhiều sản phẩm thuộc lĩnh vực CNHT như hệ thống tự động mài và bôi keo đế giày, mũ giày trong sản xuất giày dép, sản xuất linh kiện nhựa có độ chính xác cao, hệ thống đổ sợi tự động, hệ thống khuôn ép phun…

Đặc biệt, các nhiệm vụ thuộc Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đã hỗ trợ một số DN sản xuất sản phẩm CNHT như đổi mới và hoàn thiện công nghệ chế tạo các chi tiết điển hình từ hợp kim kẽm, hợp kim nhôm nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, hướng tới thị trường quốc tế; thiết kế và chế tạo một số loại đồ gá hàn khung vỏ xe ô tô con; công nghệ chế tạo vật liệu tản nhiệt cho thiết bị điện, điện tử trên nền ống vật liệu nano carbon…

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, để thúc đẩy các DN CNHT phát triển cần có những chính sách thiết thực và hiệu quả, cùng với đó cần có các giải pháp hỗ trợ cụ thể để các DN có thêm nhiều điều kiện thuận lợi và động lực để phát triển ngành CNHT.

Theo: congthuong.vn

 

 
Tạo sức bật cho công tác khuyến công

Mặc dù đã đạt được những hiệu quả đáng ghi nhận, tuy nhiên thời gian qua, công tác khuyến công trên địa bàn tỉnh vẫn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới hiệu quả đạt được của chương trình.


Quảng Ninh đang thực hiện Đề án “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; tinh giản bộ máy, biên chế”. Theo đó, các đơn vị sự nghiệp phải dần tự chủ kinh phí hoạt động và thực hiện cơ chế đặt hàng với UBND tỉnh. Năm 2015 và 2016, Quảng Ninh cấp 50% kinh phí chi thường xuyên cho Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh. Từ năm 2017, tỉnh không cấp kinh phí chi thường xuyên, trung tâm phải tự chủ 100% chi phí. Do vậy, việc đặt hàng với UBND tỉnh để tạo việc làm và thu nhập ổn định cho cán bộ, nhân viên trung tâm là rất khó khăn.

Tao suc bat cho CT KC

Cán bộ Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh khảo sát tại xưởng sản xuất hương của HTX Phú Hải, TX Đông Triều.

Đơn cử như năm 2018, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp được giao tự chủ 100% kinh phí hoạt động theo Quyết định 5303/QĐ-UBND và đặt hàng, giao nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công theo Công văn số 3297/UBND, với tổng số kinh phí là 2 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ cho 17 đề án thực hiện các hoạt động khuyến công địa phương với kinh phí trên 1,5 tỷ đồng; kinh phí hoạt động tiết kiệm năng lượng là 438,4 triệu đồng... Nguồn kinh phí được phê duyệt thấp hơn nhiều so với nhu cầu của địa phương đã đăng ký nên không hấp dẫn được các doanh nghiệp, cơ sở đầu tư mở rộng sản xuất..

Để tháo gỡ những vướng mắc trên, đồng thời giúp trung tâm thực hiện và hoàn thành đầy đủ các nội dung của hoạt động khuyến công, Sở Công Thương đã chủ động xây dựng nhiều giải pháp khắc phục khó khăn, hoàn thành hiệu quả chương trình khuyến công của tỉnh.

Trong đó tập trung hỗ trợ đào tạo nghề; xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật; các sản phẩm chủ lực; nắm bắt thông tin về công nghệ, sản phẩm, thị trường, thiết bị sản xuất để cung cấp; tăng cường bám sát cơ sở, tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai đầu tư sản xuất, từ đó có những biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời.

Sở cũng phối hợp cùng các cơ quan liên quan xây dựng chương trình, đề án khuyến công cụ thể, phù hợp với điều kiện của địa phương và gắn với Chương trình mỗi xã, phường một sản phẩm; kết nối tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của tỉnh vào hệ thống các siêu thị, trung tâm thương mại và doanh nghiệp sản xuất lớn trên địa bàn tỉnh; giảm thiểu việc xây dựng chương trình, đề án dàn trải, nhỏ lẻ; tăng cường xây dựng những đề án mang tính liên kết; nhân rộng các đề án khuyến công điển hình, hiệu quả.

Tao suc bat cho CT KC1

Chi nhánh Công ty TNHH Gốm sứ Quang Vinh là một trong những đơn vị được Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh hỗ trợ kinh phí đầu tư máy móc sản xuất công nghệ cao.

Với nhiều giải pháp cụ thể, phù hợp, mặc dù còn gặp không ít khó khăn nhưng năm 2018, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh đã triển khai hoàn thiện các nội dung hỗ trợ theo yêu cầu của UBND tỉnh và nguồn kinh phí cấp. Cùng với đó, hoạt động tiết kiệm năng lượng cũng được triển khai đồng bộ và hiệu quả với việc tuyên truyền tiết kiệm năng lượng trên các trang thông tin đại chúng, tổ chức tập huấn nâng cao nhận thức về tiết kiệm năng lượng trên địa bàn tỉnh, tuyên truyền phổ biến ứng dụng công nghệ mới, năng lượng tái tạo xăng E5 trong giao thông vận tải…

Ông Nguyễn Duy Tuấn, Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh, cho biết: Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Trung tâm đã thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí khuyến công đúng mục đích, đúng quy định và có hiệu quả. Các đề án khuyến công được thực hiện đúng quy định của cơ quan quản lý có thẩm quyền về công tác khuyến công như: Xây dựng đề án khuyến công bảo đảm đúng quy định về nội dung, lập hồ sơ, thủ tục và các yêu cầu theo quy định; thực hiện tốt công tác nghiệm thu cơ sở, công tác thanh quyết toán đảm bảo thời gian và nội dung đầy đủ…Tuy nhiên, dù cho công tác khuyến công đã được đầu tư nguồn lực lớn trong thời gian qua, nhưng trong quá trình triển khai, đơn vị vẫn gặp phải những khó khăn nhất định và cần sự hỗ trợ hơn nữa để bảo đảm thực hiện hiệu quả chương trình.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 

 
HỘI THẢO GIỚI THIỆU CÁC DỰ ÁN TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG CHO NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Sáng ngày 04/04/2019, tại thành phố Hải Phòng, Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững, Bộ Công Thương phối hợp với Ngân hàng Thế giới (WB) đã tổ chức Hội thảo Giới thiệu các Dự án tiết kiệm năng lượng cho ngành công nghiệp Việt Nam.

Sau 5 năm thực hiện dự án này, dự kiến số tiền tiết kiệm được hàng năm lên tới 11 nghìn tỷ đồng. Mục tiêu của dự án là nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp Việt Nam thông qua huy động tài chính thương mại, góp phần đạt mục tiêu quốc gia về tiết kiệm năng lượng (TKNL), hỗ trợ thực hiện triển khai các nhiệm vụ giảm phát thải nhà kính (GHG), ứng phó với biến đổi khí hậu.

Đây là nỗ lực để thực hiện Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 280/QĐ-TTg ngày 13/03/2019. Theo đó, trong thời gian thực hiện dự án tiết kiệm năng lượng này từ năm 2018 đến năm 2022 dự tính lượng năng lượng tiết kiệm đạt 0,93 triệu TOE/ năm, trong đó: lượng điện năng tiết kiệm: 1,853 triệu MWh/năm; lượng than tiết kiệm 1,075 triệu tấn/năm.

Dự án này được chia thành 2 hợp phần, hợp phần thứ nhất là cho vay đầu tư về lĩnh vực TKNL với giá trị 156 triệu USD trong đó IBRD cho vay 100 triệu USD, 56 triệu USD còn lại do các ngân hàng tham gia (BIDV và VietcomBank) cùng các doanh nghiệp công nghiệp đầu tư. Hợp phần thứ 2 của dự án là hỗ trợ kỹ thuật với số vốn 1,7 triệu USD gồm: hỗ trợ công tác đánh giá, giám sát dự án; Kiểm toán các hoạt động của Ban quản lý dự án; Kiểm toán các ngân hàng tham gia dự án; Kiểm toán các tiểu dự án vay vốn đầu tư vào các giải pháp TKNL của doanh nghiệp; Tư vấn đánh giá thực hiện chính sách môi trường và xã hội của dự án.

Lượng khí thải nhà kính (CO2) dự kiến được giảm tới 4,835 triệu tấn/năm là một trong những nỗ lực để thực hiện cam kết của chính phủ về cắt giảm lượng phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính.

Phát biểu tại buổi hội thảo, bà Nguyễn Thị Lâm Giang - Vụ trưởng Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững - Bộ Công Thương cho rằng, để đảm bảo đủ cung ứng năng lượng cho nền kinh tế quốc dân, Bộ Công Thương luôn quan tâm đến vấn đề năng lượng và an ninh năng lượng.

Dự tính nguồn điện lưới quốc gia tầm nhìn đến năm 2030 sẽ ngày càng hạn hẹp khi Chính phủ chủ trương dừng các dự án điện hạt nhân, ngoài ra đã khai thác gần như triệt để các nguồn hồ đập thuỷ điện lớn và trung bình do đó tiết kiệm năng lượng cho các ngành công nghiệp là vấn đề rất cấp thiết.

Trong bài phát biểu về Giới thiệu Dự án thúc đẩy tiết kiệm năng lượng cho ngành Công nghiệp Việt Nam, ông Chu Bá Thi, Chuyên gia cao cấp về Năng lượng, WB cho hay, Dự án này thiết lập quỹ để huy động vốn tài chính thương mại, nâng cao tiết kiệm năng lượng cho Việt Nam, 2 đối tượng hưởng lợi chính là doanh nghiệp công nghiệp và các đơn vị hỗ trợ thương mại. Dựa trên phân khúc thị trường cho thấy ở một số nước như Việt Nam cơ chế chính sách chưa đầy đủ và 2 hỗ trợ tài chính, tiếp cận nguồn vốn còn hạn chế.

Do đó, xây dựng năng lực cho các bên liên quan, đào tạo và tập huấn cho các bên liên quan ở chính phủ, ngân hàng và doanh nghiệp là nhiệm vụ chính của dự án này. Đồng thời, kiến tạo ra thị trường bền vững và đảm bảo các nguồn bảo lãnh là nhiệm vụ chính mà Ngân hàng thế giới đặt ra tại các dự án.

Hợp phần dự án “Thúc đẩy thị trường đầu tư tiết kiệm và hiệu quả năng lượng trong lĩnh vực công nghiệp Việt Nam” do Chính phủ Hàn Quốc và Chính phủ Việt Nam phối hợp thực hiện, 10 doanh nghiệp trọng điểm của Việt Nam đã được kiểm toán năng lượng và tư vấn áp dụng những giải pháp công nghệ tiên tiến nhất để tiết kiệm năng lượng một cách hiệu quả. Các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước đã đồng hành cùng dự án, đưa ra nhiều giải pháp hữu ích nhằm tiết kiệm năng lượng ở nhiều hạng mục khác nhau ứng dụng tại các nhà máy sản xuất công nghiệp và thương mại đồng thời có những cam kết thiết thực về tỷ lệ tiết kiệm năng lượng.

Ông Park Yong Soo, Phó chủ tịch Tập đoàn COSMOTOR Hàn Quốc, Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ, Chủ tịch CESS International Corporation (CESS) cùng các chuyên gia đại diện cho doanh nghiệp cung cấp Hệ thống tiết kiệm điện CESS tới từ Hàn Quốc đã có bài trình bày chi tiết về những công nghệ tiết kiệm điện mới nhất trên thế giới ứng dụng lý thuyết về sóng năng lượng hoạt hoá (sóng electron hoá trị - Electron Valence wave).

Đây là một công nghệ tiên tiến đã được CESS ứng dụng nhiều năm qua tại 45 quốc gia trên thế giới cho tỷ lệ tiết kiệm điện cam kết từ 6% tới 15% với nhiều quy mô nhà máy, toà nhà, cơ quan, khách sạn. Trong khuôn khổ dự án, Hệ thống tiết kiệm điện CESS đã được triển khai đo kiểm tại Nhà máy Giấy An Hoà, Nhà máy thức ăn chăn nuôi DABACO, Nhà máy may Việt Thắng cho kết quả tiết kiệm điện năng từ 8% tới 10%.

Các giải pháp tiết kiệm năng lượng đang được các chuyên gia nghiên cứu, đưa vào báo cáo của dự án và khuyến khích ứng dụng mang lại hiệu quả tiết kiệm đáng kể ở quy mô rộng như: lắp đặt hệ thống tiết kiệm điện CESS tại trạm biến áp hoặc tủ phân phối, cải thiện tỷ lệ không khí thừa, làm mát hệ thống máy nén khí bằng nước, lắp đặt biến tần tại các máy phù hợp, thay thế lò trung tần, thay thế lò đốt than bằng lò đốt sinh khối, thu hồi nước ngưng, điều chỉnh áp suất máy nén khí, cải tạp hệ thống chiếu sáng, cải tạo hệ thống hút thải khí,... Để hỗ trợ tài chính cho các dự án tiết kiệm năng lượng sử dụng nguồn quỹ tín dụng xanh, đại diện Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VietcomBank) và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm bổ ích. Với các dự án quy mô vừa và nhỏ, Công ty Cho thuê tài chính TNHH BIDV-SuMi TRUST (BSL) cam kết sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp Việt để thúc đẩy việc áp dụng các giải pháp công nghệ Tiết kiệm năng lượng, các Hệ thống tiết kiệm điện vào thực tế trong thời gian nhanh nhất. Sự phối hợp chặt chẽ và quyết liệt của Chính phủ Việt Nam thông qua Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững, Bộ Công thương và các nhà tài trợ cũng như các doanh nghiệp uy tín trong và ngoài nước đã mở ra một Kỷ nguyên mới về Tiết kiệm năng lượng.

 
Gỡ khó cho ngành công nghiệp hỗ trợ

Mặc dù ngành công nghiệp hỗ trợ đã và đang là động lực trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, nhưng hiện nay, tại Quảng Ninh ngành này vẫn còn rất thiếu và yếu. Thực tế này đang đòi hỏi tỉnh phải có những giải pháp phát triển mạnh mẽ công nghiệp hỗ trợ, nếu không muốn chỉ là một công xưởng gia công, lắp ráp đơn thuần. 


Go kho cho CN ho tro

Sản xuất kinh doanh hàng may mặc tại Công ty TNHH May mặc Hoa Lợi Đạt Việt Nam (KCN Cảng biển Hải Hà).

Tính đến hết năm 2018, trên địa bàn Quảng Ninh có 78 doanh nghiệp hoạt động phát triển công nghiệp hỗ trợ. Trong đó có 15 doanh nghiệp dệt may, 3 doanh nghiệp da giầy, 3 doanh nghiệp điện - điện tử, 3 doanh nghiệp lắp ráp ô tô, 53 doanh nghiệp cơ khí chế tạo và 1 sản phẩm hỗ trợ cho công nghệ cao.

Theo kết quả khảo sát, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện nay còn ở mức thấp. Phần lớn sản phẩm công nghiệp hỗ trợ do các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng cho thị trường có chất lượng chưa cao, khả năng cạnh tranh hạn chế so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Vì thế, rất khó vươn ra xuất khẩu và vẫn chưa đủ đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, chủng loại, mẫu mã, số lượng cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước.

Điển hình như lĩnh vực dệt may, hiện công nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu ngành này trên địa bàn tỉnh ít phát triển. Năm 2018, toàn tỉnh mới có một số doanh nghiệp tham gia sản xuất, tuy nhiên, quy mô nhỏ, phân tán, hoạt động chủ yếu dưới dạng gia công. Tương tự như vậy, ở lĩnh vực da giầy, các doanh nghiệp sản xuất chỉ tập trung về lĩnh vực nguyên vật liệu và phụ liệu, chưa hình thành các cụm liên kết ngành trong sản xuất công nghiệp hỗ trợ ngành da giầy tại các vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh.

Theo báo cáo đánh giá khảo sát của Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp, tiềm năng phát triển công nghiệp hỗ trên địa bàn tỉnh mới chỉ ở giai đoạn tìm hướng đi, chưa đáp ứng được nhu cầu của các ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp; các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hỗ trợ còn rất ít, công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh yếu kém; sản phẩm hỗ trợ còn nghèo nàn về chủng loại, kiểu dáng, mẫu mã đơn điệu, giá thành cao hơn nhiều sản phẩm cùng loại nhập khẩu; nhân lực phục vụ công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng... Vì vậy, chưa thể tham gia chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa toàn cầu.

Go kho cho CN ho tro 1

Gia công giầy da ở Công ty TNHH Giầy da Sao Vàng (Uông Bí).Ảnh: Việt Hoa

Để gỡ khó cho ngành công nghiệp hỗ trợ, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 37/KH-UBND ngày 18/2/2019 về triển khai thực hiện chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Quảng Ninh giai đoạn 2019-2025. Theo đó, sẽ tập trung đẩy mạnh phát triển sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ phục vụ sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong nước và hướng tới xuất khẩu, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Phấn đấu đến năm 2020, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh đáp ứng khoảng 30%, và đến năm 2025 đáp ứng khoảng 50% nhu cầu sản xuất công nghiệp trong tỉnh.

Ông Nguyễn Duy Tuấn, Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh cho biết: Để đưa ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh đi đúng hướng và đạt được kết quả như mong đợi, trung tâm sẽ từng bước thực hiện kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, trở thành nhà cung ứng sản phẩm cho khách hàng trong và ngoài nước. Cùng với đó, trung tâm cũng thực hiện kêu gọi xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này và hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý đáp ứng yêu cầu của các chuỗi sản xuất toàn cầu trong quản trị doanh nghiệp, quản trị sản xuất.

Trước mắt, trung tâm sẽ tập trung hỗ trợ đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các ngành sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ; nghiên cứu phát triển, ứng dụng chuyển giao và đổi mới công nghệ trong sản xuất linh kiện, phụ tùng, nguyên liệu, vật liệu. Đồng thời, xây dựng và vận hành hiệu quả trang thông tin về công nghiệp hỗ trợ để các doanh nghiệp nắm bắt được thông tin, định hướng đúng đắn trong việc phát triển và hội nhập.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Phê duyệt Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030

Ngày 13/3/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 280/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030. Chương trình triển khai đồng bộ các hoạt động trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Chương trình được ban hành thể hiện sự cam kết của các cấp chính quyền, các cơ quan ban ngành từ trung ương đến địa phương, các hiệp hội, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và cộng đồng về tiết kiệm năng lượng nói riêng, về ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường nói chung. 


Phe duyet ctrinh QG TKNL

Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030 được thực hiện thành 2 giai đoạn từ 2019 - 2025 và 2026 – 2030 với các nhiệm vụ chủ yếu: Rà soát, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (SDNL TK&HQ); Hỗ trợ kỹ thuật và tài chính nhằm thúc đẩy các dự án đầu tư, sản xuất, kinh doanh về SDNL TK&HQ đối với các hoạt động như sản xuất, chế tạo, cải tạo, chuyển đổi thị trường phương tiện, trang thiết bị, máy móc, dây chuyền sản xuất,…; Xây dựng trung tâm dữ liệu năng lượng Việt Nam, các cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin về năng lượng và SDNL TK&HQ; Tăng cường năng lực về SDNL TK&HQ; Tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc, hướng dẫn thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện quy định của pháp luật về SDNL TK&HQ.

Bên cạnh đó, Chương trình cũng tập trung truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về SDNL TK&HQ; Tăng cường quan hệ, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực SDNL TK&HQ; Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ về SDNL TK&HQ và Thành lập Quỹ thúc đẩy SDNL TK&HQ.

Chương trình nhằm huy động mọi nguồn lực trong nước và quốc tế cho thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thông qua việc triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp quản lý nhà nước, hỗ trợ kỹ thuật, nghiên cứu khoa học công nghệ và phát triển sản phẩm, chuyển đổi thị trường, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, tranh thủ kinh nghiệm và sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Bên cạnh đó, hình thành thói quen sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong mọi hoạt động của xã hội; giảm cường độ năng lượng trong các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế; tiết kiệm năng lượng trở thành hoạt động thường xuyên đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm và các ngành kinh tế trọng điểm tiêu thụ nhiều năng lượng; hướng tới mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Chương trình đề ra mục tiêu đạt mức tiết kiệm năng lượng 5,0 đến 7,0% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2025 và từ 8 - 10% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc trong giai đoạn từ 2019 đến năm 2030. 

Chương trình quốc gia về SDNL TK&HQ giai đoạn 2019 – 2030 được triển khai trên phạm vi cả nước và áp dụng với mọi đối tượng bao gồm các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến hoạt động sử dụng và quản lý năng lượng tại Việt Nam. Tổng kinh phí dự kiến khoảng 4.400 tỷ đồng. Trong đó, kinh phí sự nghiệp kinh tế thuộc ngân sách Trung ương khoảng 600 tỷ đồng; nguồn viện trợ không hoàn lại khoảng 1.600 tỷ đồng; vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi khoảng 2.200 tỷ đồng.

Chương trình được xây dựng dựa trên sự kế thừa và phát huy những kết quả tích cực và khắc phục những hạn chế của Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả các giai đoạn trước, phối hợp và lồng ghép với các Chương trình khác đang được triển khai thực hiện.

Nguồn: http://tietkiemnangluong.com.vn/

 
Tìm mọi giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến công

Trước hiện trạng công tác khuyến công của Tỉnh còn gặp nhiều khó khăn trong triển khai; tận dụng, khai thác triệt để mọi tiềm năng, điều kiện sẵn có, Sở Công Thương Hải Dương đã xây dựng nhiều giải pháp, tuy nhiên Tỉnh vẫn cần sự hỗ trợ hơn nữa từ các cấp có thẩm quyền nhằm nâng cao hiệu quả chương trình khuyến công của Tỉnh.


Thực trạng công tác khuyến công của Tỉnh còn nhiều khó khăn

Giai đoạn (2014 - 2018), Hải Dương đã nỗ lực triển khai công tác khuyến công. Thông qua các đề án hỗ trợ, công tác khuyến công phần nào đã giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) trên địa bàn Tỉnh cải thiện sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, theo đại diện Sở Công Thương tỉnh Hải Dương, triển khai chương trình khuyến công của Tỉnh còn gặp nhiều khó khăn.

Công tác xây dựng kế hoạch, đề xuất các dự án khuyến công và chất lượng hồ sơ đăng ký một số đề án còn hạn chế. Việc tổ chức thực hiện, thanh quyết toán kinh phí của một số đề án còn chậm so với tiến độ. Một số nội dung khuyến công chưa thực hiện được, như: Hỗ trợ liên doanh, liên kết, hợp tác phát triển kinh tế, phát triển cụm công nghiệp; hỗ trợ thành lập các hiệp hội ngành nghề; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp.

Tìm mọi cách

Cùng đó, công tác nắm bắt thông tin, tình hình hoạt động của các đơn vị nhận hỗ trợ từ khuyến công chưa thường xuyên, do vậy việc đánh giá hiệu quả sau hỗ trợ chưa sát. Số lượng các cơ sở sản xuất CNNT tham gia các chương trình khuyến công còn ít; đề án chưa đa dạng và mới chỉ tập trung vào một số nội dung như xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất.

Những khó khăn trên được xác định là do nguồn kinh phí cho chương trình khuyến công từ ngân sách Trung ương và địa phương còn hạn hẹp, mức hỗ trợ cho các đề án chưa cao đã phần nào hạn chế sự tham gia của các tổ chức và doanh nghiệp. Mạng lưới cán bộ chuyên trách làm công tác khuyến công ở cấp huyện, xã chưa có do đó việc khảo sát, tư vấn, hướng dẫn các cơ sở CNNT lập đề án và triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn.

Cùng đó, do đa phần các cơ sở CNNT là hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hoạt động manh mún, tiềm lực tài chính hạn chế nên rất khó đổi mới, ứng dụng công nghệ vào sản xuất… nên việc tham gia thực hiện các đề án khuyến công gặp nhiều khó khăn.

Các giải pháp đặt ra.

Với những khó khăn trên, đại diện Sở Công Thương tỉnh Hải Dương cho rằng, đây sẽ là trở ngại trong việc nâng cao chất lượng công tác khuyến công cũng như gia tăng sức đóng góp vào tăng trưởng ngành công nghiệp của Tỉnh. Theo đó, trong thời gian tới Tỉnh sẽ đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động thông tin, tuyên truyền cho công tác khuyến công nhằm phổ biến sâu rộng chính sách này tới các cơ sở, doanh nghiệp CNNT trên địa bàn tỉnh. Rà soát, xây dựng. sửa đổi và bổ sung hệ thống văn bản pháp luật của Tỉnh quy định về hoạt động khuyến công cho phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

Tăng cường sự chỉ đạo của các cấp trong việc triển khai công tác khuyến công. Nâng cao điều kiện cơ sở vật chất cho cán bộ làm công tác khuyến công. Phân công cán bộ phụ trách khuyến công tại các Phòng Kinh tế và Hạ tầng các huyện, thành phố nhằm tăng cường hiệu quả công tác khảo sát, lập và triển khai các đề án khuyến công. Phối hợp lồng ghép chương trình khuyến công với thực hiện các dự án, chương trình mục tiêu khác nhằm gia tăng nguồn lực thực hiện.

Tuy nhiên, để Hải Dương thuận lợi trong triển khai các giải pháp trên, đại diện Sở Công Thương Tỉnh cũng đề nghị: Bộ Công Thương xem xét tăng mức hỗ trợ kinh phí cho mỗi đề án khuyến công nhằm khuyến khích các cơ sở CNNT bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất. Hướng dẫn, quy định việc hình thành mạng lưới công tác viên khuyến công cấp huyện, xã để nắm bắt thông tin của các cơ sở sản xuất, nâng cao hiệu quả công tác khuyến công. Tổ chức các hoạt động tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, học tập kinh nghiệm, nâng cao trình độ đội ngũ làm công tác khuyến công qua đó gia tăng hiệu quả chương trình.

Đề nghị UBND Tỉnh, bố trí tăng kinh phí cho hoạt động khuyến công của Tỉnh theo yêu cầu, nhiệm vụ thực tế hàng năm; hình thành mạng lưới cộng tác viên khuyến công cấp huyện, xã để nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến công…

Nguồn: http://arit.gov.vn/

 
Cơ hội lớn cho doanh nghiệp phát triển sản phẩm công nghiệp hỗ trợ

Với những chính sách ưu tiên, ưu đãi của Quảng Ninh, doanh nghiệp đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Không những vậy, nếu doanh nghiệp phát triển đúng theo định hướng và nhu cầu thị trường, thì “đầu ra” cho sản phẩm công nghiệp hỗ trợ rất rộng mở.


Co hoi lon

Nhu cầu sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may đang rất lớn.(Trong ảnh: Sản xuất sợi tại Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Texhong Ngân Hà, Khu công nghiệp Cảng biển Hải Hà).Ảnh: Thái Cảnh

Thực tế ở nước ta, dù năng lực sản xuất các sản phẩm hỗ trợ trong nước trong những năm vừa qua đã dần được cải thiện, nhưng khả năng cung ứng thực tế vẫn còn nhiều bất cập, nhập siêu linh kiện, phụ tùng còn rất lớn, tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành công nghiệp rất thấp. Số liệu thống kê của Bộ Công Thương công bố cho thấy, công nghiệp hỗ trợ ở các ngành dệt may mới đạt khoảng 40-45%. Hay như tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành điện tử tin học, viễn thông chỉ đạt 15%; điện tử chuyên dụng hay công nghiệp công nghệ cao là 5%. Tuy nhiên, hầu hết các linh kiện nội địa hóa lại đều do các công ty FDI cung cấp, còn doanh nghiệp trong nước chỉ chủ yếu cung cấp vật tư tiêu hao, bao bì, in ấn… với giá trị rất nhỏ so với nhu cầu của thị trường.

Đối với tỉnh Quảng Ninh, dù là tỉnh có thế mạnh về công nghiệp, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp nội tỉnh có thể cung ứng các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ vô cùng hạn chế. Do vậy, xác định vai trò quan trọng của ngành công nghiệp hỗ trợ đối với sự phát triển ngành công nghiệp nói chung và nền kinh tế nói riêng, trên cơ sở định hướng của Chính phủ, tỉnh đã xây dựng và triển khai Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2019-2025.

Kế hoạch xác định rõ mục tiêu là đẩy mạnh phát triển sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ phục vụ sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong nước và hướng tới xuất khẩu tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Phấn đấu đến năm 2020, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh đáp ứng khoảng 30% và đến năm 2025 đáp ứng khoảng 50% nhu cầu sản xuất công nghiệp trong tỉnh.

Được biết, 2 lĩnh vực sẽ được tỉnh ưu tiên giai đoạn 2019-2025 là: Công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may và công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí, chế tạo. Cụ thể, đối với công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may, tỉnh tập trung phát triển các sản phẩm phục vụ nhu cầu nguyên vật liệu và phụ liệu đáp ứng đầu vào cho các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn trong tỉnh; phát triển Khu công nghiệp hỗ trợ dệt may tỉnh Quảng Ninh (trên cơ sở Khu công nghiệp Cảng biển Hải Hà) thành trung tâm công nghiệp hỗ trợ dệt may khu vực phía Bắc.

Co hoi lon1

Công ty TNHH Yazaki chi nhánh Quảng Ninh (Khu công nghiệp Đông Mai) được đầu tư trên địa bàn TX Quảng Yên đã thu hút hàng nghìn lao động.Ảnh: Thanh Hằng

Đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí, chế tạo, sẽ tập trung nâng cao năng lực sản xuất các sản phẩm ngành đúc, gia công kim loại, khuôn mẫu, nhiệt luyện, luyện kim... Đặc biệt ưu tiên thu hút đầu tư hình thành khu công nghiệp hỗ trợ chuyên sản xuất chế tạo ra những sản phẩm công nhiệp công nghệ cao công nghiệp hỗ trợ có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao trên thị trường (Khu công nghiệp Việt Hưng giai đoạn II); các lĩnh vực hỗ trợ công nghiệp đóng tàu gồm: Chế tạo động cơ, chế tạo xích neo, chế tạo thiết bị bơm, sản xuất hộp số và hệ thống truyền động tàu thủy, chế tạo thiết bị nội thất phương tiện vận tải, sản xuất cấu kiện thép và dây điện...

Với định hướng phát triển này, Quảng Ninh phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành dệt may trong và ngoài tỉnh đạt trên 30%, và đến năm 2025 đạt trên 50% nhu cầu sản xuất công nghiệp trong tỉnh. Đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí, chế tạo, phấn đấu đến năm 2025, cung ứng khoảng 50% nhu cầu trong tỉnh.

Để đạt tới mục tiêu này, từ nay đến năm 2020, tỉnh ưu tiên cho việc kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh trở thành nhà cung ứng sản phẩm cho khách hàng trong và ngoài nước; xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Đi cùng với đó là những hỗ trợ cho doanh nghiệp trong áp dụng hệ thống quản lý đáp ứng yêu cầu của các chuỗi sản xuất toàn cầu trong quản trị doanh nghiệp, quản trị sản xuất; đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của ngành sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ...

Nhìn từ nhu cầu thị trường cho sản phẩm công nghiệp hỗ trợ đang rất lớn, cùng với đó là những chính sách ưu đãi của tỉnh, thiết nghĩ, các doanh nghiệp nên nắm bắt cơ hội để đầu tư lĩnh vực tiềm năng này, sớm tạo ưu thế cạnh tranh trên thị trường.

Công nghiệp hỗ trợ được coi là ngành sản xuất nền tảng của ngành công nghiệp, thông qua việc cung cấp linh kiện, phụ tùng và các quy trình kỹ thuật. Theo các chuyên gia kinh tế, trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, công nghiệp quốc gia không thể tồn tại và phát triển được nếu không có ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển, bởi đây là yếu tố quan trọng quyết định giá thành sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm cuối cùng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Quảng Ninh: Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình phát triển Công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2019 - 2025

UBND tỉnh Quảng Ninh vừa ban hành Kế hoạch số 37/KH-UBND ngày 18/02/2019 về Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình phát triển Công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2019 - 2025.


Quang Ninh CN ho tro

Theo đó, mục tiêu của Chương trình là đẩy mạnh phát triển sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ phục vụ sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong nước và hướng tới xuất khẩu, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Phấn đấu đến năm 2020, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh đáp ứng khoảng 30% và đến năm 2025 đáp ứng khoảng 50% nhu cầu sản xuất công nghiệp trong tỉnh; Đối tượng tham gia: Các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh.

Về nội dung bao gồm: Kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh trở thành nhà cung ứng sản phẩm cho khách hàng trong và ngoài nước; xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ; Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý đáp ứng yêu cầu của các chuỗi sản xuất toàn cầu trong quản trị doanh nghiệp, quản trị sản xuất; Hỗ trợ đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của các ngành sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ; Hỗ trợ nghiên cứu phát triển, ứng dụng chuyển giao và đổi mới công nghệ trong sản xuất linh kiện, phụ tùng, nguyên liệu và vật liệu; Xây dựng và vận hành trang thông tin về công nghiệp hỗ trợ.

Nguồn kinh phí thực hiện: Căn cứ nội dung của Kế hoạch và các chính sách liên quan; hàng năm Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan xây dựng nhiệm vụ, dự toán kinh phí thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh gửi Sở Tài chính thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt làm cơ sở triển khai thực hiện.

Chi tiết Kế hoạch số 37/KH-UBND: Tại đây

TTKC&TVPTCN Quảng Ninh

 
« Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối »

Trang 2 trong tổng số 20

Hình ảnh hoạt động

  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Dành cho quảng cáo



Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay230
mod_vvisit_counterHôm qua433
mod_vvisit_counterTrong tuần3230
mod_vvisit_counterTuần trước2274
mod_vvisit_counterTrong tháng7091
mod_vvisit_counterTháng trước0
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ421708

Khách trực tuyến: 44
IP của bạn: 172.69.63.122
Hôm nay 25 tháng 08 năm 2019