Tin tức sự kiện
Bộ Công Thương lên 2 kịch bản xăng dầu cho năm 2023

Kịch bản 1 - tăng trưởng 10% so với năm 2022, tương đương 25 triệu 900.000 m3, tấn. Kịch bản 2 - tăng trưởng 15%, tương đương 26 triệu 760.000 m3, tấn. Sản lượng này phải được phân bổ từng tháng, quý. Mỗi tháng quý căn cứ vào số liệu thực hiện trên phần mềm quản lý sẽ áp dụng từ 1/1/2023 để có điều chỉnh phù hợp.

Theo Tienphong.vn

 

 
 
Chính sách hỗ trợ hoạt động sản xuất sạch hơn cho doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ
Cùng với Chiến lược Tăng trưởng xanh, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất theo hướng bền vững như: Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn 2030…


Thông qua đó, ở nhiều địa phương, trong nhiều ngành và lĩnh vực công nghiệp quan trọng đã có các doanh nghiệp điển hình thực hiện các biện pháp sản xuất sạch hơn. Điều này đã góp phần mang lại lợi ích kinh tế và môi trường to lớn không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho toàn xã hội.


Thống kê của Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, cả nước hiện có khoảng 400.000 doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN), chiếm tới 97% tổng số doanh nghiệp; đóng góp 40% GDP và tạo việc làm cho 52% người lao động. Việc tham gia áp dụng và thực hiện sản xuất sạch hơn (SXSH) sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (DN) một cách mạnh mẽ; tạo được lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Mặt khác, khi tham gia thực hiện SXSH, DN công nghiệp sẽ nhận được sự khuyến khích và được hưởng chính sách ưu đãi tài chính của Nhà nước.


Hoạt động tư vấn áp dụng SXSH tại các DN (bao gồm tư vấn đánh giá nhanh và đánh giá chi tiết SXSH) là hoạt động được Nhà nước hỗ trợ thực hiện từ nguồn kinh phí thực hiện Chiến lược SXSH trong công nghiệp đến năm 2020 và kinh phí khuyến công (gồm khuyến công quốc gia và khuyến công địa phương).


Để hướng dẫn về nội dung, tiêu chí và định mức hỗ trợ hoạt động SXSH cho các doanh nghiệp, liên Bộ Tài chính – Bộ Công Thương đã ban hành 02 Thông tư liên tịch hướng dẫn, gồm: Thông tư liên tịch số 221/TTLT-BTC-BCT ngày 25/12/2012 giữa Bộ Tài Chính và Bộ Công Thương về hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện Chiến lược SXSH trong công nghiệp đến năm 2020; và Thông tư liên tịch số 26/2014/TTLT-BTC-BCT ngày 18/2/2014 về hướng dẫn trình tự lập, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công quốc gia và kinh phí khuyến công địa phương.


Theo quy định tại Khoản 2, Điều 3, Thông tư 221: “Mức chi hỗ trợ đánh giá SXSH cho các cơ sở sản xuất công nghiệp tối đa không quá 50% phí tư vấn nhưng không quá 50 triệu đồng/1 cơ sở”. Mức chi cụ thể cho từng nội dung/hoạt động nhằm thực hiện hoạt động tư vấn áp dụng SXSH tại DN được thực hiện theo đúng định mức, chế độ chi tiêu tài chính của các văn bản hiện hành.


SXSH là công cụ hữu hiệu giúp cho DN nâng cao tính cạnh tranh và chỗ đứng trên thị trường do chất lượng sản phẩm tốt hơn và uy tín hơn nhờ các ưu điểm nổi bật sau: Thứ nhất, SXSH làm giảm giá thành sản phẩm thông qua nâng cao hiệu quả sản xuất và nguồn lực; giảm chi phí nguyên nhiên vật liệu, nước và năng lượng đầu vào; tận dụng được các sản phẩm phụ. Thứ hai, giảm chi phí liên quan đến thu gom và xử lý chất thải do giảm lượng chất thải phát sinh vì DN chú trọng đến phòng ngừa ô nhiễm hơn là khắc phục ô nhiễm. Thứ ba, thực hiện tốt hơn các yêu cầu pháp lý về môi trường. Thứ tư, tăng cường ý thức của người lao động về bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường làm việc, góp phần bảo vệ sức khỏe người lao động. Thứ năm, cải thiện hình ảnh của DN về trách nhiệm xã hội và tuân thủ luật pháp; giúp DN tạo dựng sự tin tưởng đối với các bên liên quan (khách hàng, nhà cung cấp, nhà quản lý, địa phương…) trên các lĩnh vực. Thứ sáu, tạo ra các cơ hội thị trường mới và hấp dẫn. Thứ bảy, SXSH gắn liền với Hệ thống quản lý môi trường, Quản lý chất lượng tổng hợp, Quản lý sức khỏe và an toàn. Cuối cùng, thị trường quốc tế không chỉ yêu cầu về chất lượng sản phẩm, giá thành sản phẩm mà còn là đòi hỏi về khía cạnh môi trường và trách nhiệm xã hội của DN.


Mai Hương

 
Quảng Ninh triển khai chương trình “Trường học chung tay tiết kiệm điện” năm 2022

 

Chương trình “Trường học chung tay tiết kiệm điện” là một trong những hoạt động thường niên của Công ty Điện lực Quảng Ninh đã gặt hái được những kết quả khả quan trong việc tuyên truyền sử dụng điện tiết kiệm đến đối tượng là các em học sinh.

Để tăng cường tuyên truyền tiết kiệm điện rộng rãi đến các cơ quan, Ban, Ngành, nhân dân, học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh theo Chỉ thị số 20 của Thủ tướng Chính phủ, Công ty Điện lực Quảng Ninh đã tổ chức triển khai chương trình “Trường học chung tay tiết kiệm điện” năm 2022 tại các trường học trên địa bàn Thành phố Hạ Long, TP.Uông Bí, TX.Đông Triều, huyện Tiên Yên và huyện Ba Chẽ.
Mục đích tổ chức chương trình nhằm nâng cao ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên Quốc Gia như: thủy điện, nhiệt điện, năng lượng mặt trời, năng lượng gió,...  của các em học sinh và vai trò của nhà trường trong việc giáo dục học sinh ý thức sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả.
Chương trình phát động “Trường học chung tay tiết kiệm điện” năm 2022 sẽ được thể hiện qua các tiết mục văn nghệ với chủ đề đất nước, quê hương, trường học chung tay tiết kiệm điện….Thi hùng biện với chủ đề: “Em nghĩ gì về thực trạng sử dụng năng lượng nói chung, điện năng nói riêng hiện nay”. Thi vẽ tranh với chủ đề “Tiết kiệm điện vì lợi ích cộng đồng”. Thi diễn tiểu phẩm với chủ đề: “Tiết kiệm điện vì lợi ích cộng đồng”. Thời gian tổ chức thực hiện trong tháng 10/2022.
Đến nay, chương trình gặt hái được nhiều kết quả quan trọng trong việc tuyên truyền và nâng cao nhận thức, tạo thói quen và kỹ năng sử dụng điện tiết kiệm của mỗi em học sinh, tạo sức lan tỏa trong cộng đồng, góp phần hình thành nên một thế hệ trẻ với nếp sống văn minh và có ý thức trong hoạt động tiết kiệm năng lượng.
Một số kết quả nổi bật tại các địa phương:
Tại thành phố Hạ Long: Chương trình ngoại khóa “Trường học Chung tay Tiết kiệm điện” được tổ chức tại nhiều trường học trên địa bàn thành phố. Riêng tại trường TH&THCS Thống Nhất, chương trình có sự tham gia của gần 1.000 em học sinh, thầy cô giáo và các bậc phụ huynh.
Gần 1.000 em học sinh, thầy cô giáo và các bậc phụ huynh tham gia Chương trình ngoại khóa tại trường TH&THCS Thống Nhất (Ảnh: Đỗ Hương - Ngọc Khánh)
Thay bằng những cách tuyên truyền với lý thuyết khô khan như trước đây, Ban Tổ chức đã khéo léo lồng ghép các kiến thức về tiết kiệm điện vào trong các hoạt động, trò chơi để các em học sinh chủ động tương tác với nhau nhiều hơn, mục đích vừa tạo ra sân chơi bổ ích cho các em, vừa để lượng kiến thức về tiết kiệm điện được chuyển tải đến các em một cách sinh động và dễ nhớ nhất.
Tham gia Chương trình các đội chơi lần lượt trải qua ba phần thi: Chào hỏi, Kiến thức và Năng khiếu. Các tiết mục dự thi được chuẩn bị công phu, chu đáo, qua đó đã truyền tải những thông điệp về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường.
Từ những kiến thức, thông điệp ý nghĩa trong chương trình, mỗi học sinh sẽ là những tuyên truyền viên, những sáng tạo viên xuất sắc trong công cuộc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn năng lượng. Điều đó sẽ phần nào giúp tiết kiệm các nguồn năng lượng, góp phần nâng cao cuộc sống của mỗi người.
Tại hội thi ngoài các phần thi được sân khấu hóa, các em còn được tiếp cận các kiến thức về tiết kiệm điện đầy lý thú qua phần thi khán giả; thể hiện ước mơ của mình qua các bức tranh vẽ... từ đó tạo nên nhiều sự đổi mới, hấp dẫn. Thông qua chương trình các em học sinh mới hiểu tiết kiệm điện không phải là không dám sử dụng mà là sử dụng làm sao cho hiệu quả, an toàn.
Tại thành phố Uông Bí: Điện lực TP Uông Bí phối hợp với Trường Tiểu học Quang Trung tổ chức chương trình dưới hình thức so tài giữa 3 đội chơi đại diện cho các khối lớp. Thông qua các phần thi: chào hỏi, tiểu phẩm tuyên truyền, trưng bày các sản phẩm tranh vẽ và hùng biện, chương trình đã khéo léo lồng ghép, tuyên truyền cho học sinh cách sử dụng thiết bị điện trong gia đình, nhà trường một cách an toàn, tiết kiệm và hiệu quả.
Học sinh trường tiểu học Quang Trung sôi nổi tham gia hoạt động ngoại khoá "Trường học chung tay tiết kiệm điện" (Ảnh: Hồng Hoàn - Hồng Nhung)
Chương trình “Trường học chung tay tiết kiệm điện” được Điện lực thành phố Uông Bí phối hợp tổ chức luân phiên tại các trường Tiểu học trên địa bàn. Với hình thức truyền thông sinh động, chương trình góp phần nâng cao nhận thức, hình thành thói quen tiết kiệm điện cho học sinh, giúp các em trở thành những tuyên truyền viên tích cực tại gia đình, cộng đồng trong hưởng ứng tiết kiệm điện.
Tại thị xã Đông Triều: Điện lực thị xã Đông Triều phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Đông Triều triển khai chương trình tại trường trrung học cơ sở Mạo Khê II. Sự kiện đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các thầy cô giáo, ban giám hiệu nhà trường, các em học sinh, các trường học trong thị xã cùng tham gia đồng hành.
Các em học sinh diễn tiểu phẩm tuyên truyền tiết kiệm điện (Ảnh: Phạm Chiến)
Đến với chương trình các em học sinh đã thành lập 4 đội chơi được thể hiện qua 3 phần thi gồm: Màn chào hỏi, diễn tiểu phẩm và thi hùng biện. Tham gia các phần thi tìm hiểu kiến thức gồm các câu hỏi xoay quanh những vấn đề như sử dụng thiết bị điện nào ít tiêu hao năng lượng; ý nghĩa của việc tiết kiệm điện; cách sử dụng các thiết bị gần gũi như ti vi, tủ lạnh, bàn là, nồi cơm, quạt điện đúng cách; các tiểu phẩm, hùng biện về thực trạng sử dụng năng lượng nói chung, điện năng nói riêng hiện nay và thi vẽ tranh với nội dung chủ đề chung tay gìn giữ nguồn tài nguyên trên Trái đất, bảo vệ cuộc sống và tương lai của chính chúng ta.
Tại huyện Tiên Yên: Điện lực Tiên Yên phối hợp với Trường Trung học cơ sở Tiên Yên tổ chức chương trình với sự tham gia của gần 600 em học sinh cùng các thầy cô giáo trong nhà trường tại Trung tâm Văn hóa Thể thao các dân tộc vùng Đông Bắc huyện Tiên Yên.
Toàn cảnh buổi ngoại khoá (Ảnh: Xuân Thành)
Buổi ngoại khóa đã thu hút các em học sinh tham gia thông qua lồng ghép các trò chơi hoạt động và trả lời các câu xung quanh chủ để sử dụng điện an toàn, tiết kiệm…Sự “đổi mới” từ khâu thiết kế chương trình, cho đến cách thức tổ chức và hiệu quả mang lại từ các hoạt động ngoại khóa mà chương trình “Trường học chung tay tiết kiệm điện” giờ đây đã trở thành ngày hội đáng mong chờ của thầy cô và các em học sinh.
Những tiết mục văn nghệ hát múa, những tiểu phẩm mang đậm tính tuyên truyền được chính các em trình bày, thể hiện càng khẳng định được sự chuyển biến rõ thấy trong suy nghĩ và hành động của các em về tiết kiệm điện. 
Cùng với đó, những câu đố vui, những trò chơi sôi động hay những câu chuyện kể về cách sử dụng điện mà các em đã thực hiện tại gia đình… cũng được các tuyên truyền viên Điện lực khéo léo giải đáp, phân tích hành động đúng, sai và hướng dẫn cụ thể cho các em cách thức sử dụng hiệu quả nhất..
Tại huyện Ba Chẽ: Chương trình được tổ chức tại trường phổ thông dân tộc bán trú THCS Đồn Đạc thu hút sự tham gia của hơn 200 học sinh và đông đảo các thầy, cô giáo đại diện cho các trường trên địa bàn huyện. 
Các tiểu phẩm và phần hùng biện với thông điệp tiết kiệm điện của các em học sinh (Ảnh: Thu Trang)
Tại đây, các em học sinh được cung cấp những kiến thức về vai trò của điện, những kiến thức và kỹ năng trong sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trong trường học, gia đình và xã hội, cụ thể như việc tắt các thiết bị điện khi không dùng, tắt hẳn điện khi không sử dụng, tận dụng tối đa nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời và thông gió tự nhiên, thực hiện việc sử dụng và tiết kiệm điện một cách hiệu quả với nguyên tắc 4 đúng: đúng lúc, đúng chỗ, đúng cách và đúng nhu cầu.
Tại chương trình, các em học sinh đem đến những tiết mục đặc sắc, hấp dẫn lôi cuốn và được đông đảo các bạn hưởng ứng thông qua các phần thi: thi hùng biện, tiểu phẩm và thi vẽ tranh đã mang đến những thông điệp đầy ý nghĩa như: Tiết kiệm điện để bảo vệ môi trường, giữ gìn màu xanh trái đất; tiết kiệm vì lợi ích cộng đồng; lựa chọn và sử dụng thiết bị giúp tiết kiệm điện năng…
Việc tiết kiệm năng lượng trong học đường là vấn đề luôn được xã hội quan tâm, bởi lẽ, trẻ em là tương lai của đất nước, tập thói quen tiết kiệm cho các em học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường là một việc làm vô cùng cần thiết. Điện lực Quảng Ninh hy vọng trong tương lai gần, việc tiết kiệm điện ở trường học sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp hơn, tiết kiệm được nhiều chi phí cho nhà trường và cho ngân sách Nhà nước.
Tố Quyên
 
 
Quảng Ninh triển khai chương trình “Trường học chung tay tiết kiệm điện” năm 2022

 

Chương trình “Trường học chung tay tiết kiệm điện” là một trong những hoạt động thường niên của Công ty Điện lực Quảng Ninh đã gặt hái được những kết quả khả quan trong việc tuyên truyền sử dụng điện tiết kiệm đến đối tượng là các em học sinh.

Để tăng cường tuyên truyền tiết kiệm điện rộng rãi đến các cơ quan, Ban, Ngành, nhân dân, học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh theo Chỉ thị số 20 của Thủ tướng Chính phủ, Công ty Điện lực Quảng Ninh đã tổ chức triển khai chương trình “Trường học chung tay tiết kiệm điện” năm 2022 tại các trường học trên địa bàn Thành phố Hạ Long, TP.Uông Bí, TX.Đông Triều, huyện Tiên Yên và huyện Ba Chẽ.
Mục đích tổ chức chương trình nhằm nâng cao ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên Quốc Gia như: thủy điện, nhiệt điện, năng lượng mặt trời, năng lượng gió,...  của các em học sinh và vai trò của nhà trường trong việc giáo dục học sinh ý thức sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả.
Chương trình phát động “Trường học chung tay tiết kiệm điện” năm 2022 sẽ được thể hiện qua các tiết mục văn nghệ với chủ đề đất nước, quê hương, trường học chung tay tiết kiệm điện….Thi hùng biện với chủ đề: “Em nghĩ gì về thực trạng sử dụng năng lượng nói chung, điện năng nói riêng hiện nay”. Thi vẽ tranh với chủ đề “Tiết kiệm điện vì lợi ích cộng đồng”. Thi diễn tiểu phẩm với chủ đề: “Tiết kiệm điện vì lợi ích cộng đồng”. Thời gian tổ chức thực hiện trong tháng 10/2022.
Đến nay, chương trình gặt hái được nhiều kết quả quan trọng trong việc tuyên truyền và nâng cao nhận thức, tạo thói quen và kỹ năng sử dụng điện tiết kiệm của mỗi em học sinh, tạo sức lan tỏa trong cộng đồng, góp phần hình thành nên một thế hệ trẻ với nếp sống văn minh và có ý thức trong hoạt động tiết kiệm năng lượng.
Một số kết quả nổi bật tại các địa phương:
Tại thành phố Hạ Long: Chương trình ngoại khóa “Trường học Chung tay Tiết kiệm điện” được tổ chức tại nhiều trường học trên địa bàn thành phố. Riêng tại trường TH&THCS Thống Nhất, chương trình có sự tham gia của gần 1.000 em học sinh, thầy cô giáo và các bậc phụ huynh.
Gần 1.000 em học sinh, thầy cô giáo và các bậc phụ huynh tham gia Chương trình ngoại khóa tại trường TH&THCS Thống Nhất (Ảnh: Đỗ Hương - Ngọc Khánh)
Thay bằng những cách tuyên truyền với lý thuyết khô khan như trước đây, Ban Tổ chức đã khéo léo lồng ghép các kiến thức về tiết kiệm điện vào trong các hoạt động, trò chơi để các em học sinh chủ động tương tác với nhau nhiều hơn, mục đích vừa tạo ra sân chơi bổ ích cho các em, vừa để lượng kiến thức về tiết kiệm điện được chuyển tải đến các em một cách sinh động và dễ nhớ nhất.
Tham gia Chương trình các đội chơi lần lượt trải qua ba phần thi: Chào hỏi, Kiến thức và Năng khiếu. Các tiết mục dự thi được chuẩn bị công phu, chu đáo, qua đó đã truyền tải những thông điệp về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường.
Từ những kiến thức, thông điệp ý nghĩa trong chương trình, mỗi học sinh sẽ là những tuyên truyền viên, những sáng tạo viên xuất sắc trong công cuộc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn năng lượng. Điều đó sẽ phần nào giúp tiết kiệm các nguồn năng lượng, góp phần nâng cao cuộc sống của mỗi người.
Tại hội thi ngoài các phần thi được sân khấu hóa, các em còn được tiếp cận các kiến thức về tiết kiệm điện đầy lý thú qua phần thi khán giả; thể hiện ước mơ của mình qua các bức tranh vẽ... từ đó tạo nên nhiều sự đổi mới, hấp dẫn. Thông qua chương trình các em học sinh mới hiểu tiết kiệm điện không phải là không dám sử dụng mà là sử dụng làm sao cho hiệu quả, an toàn.
Tại thành phố Uông Bí: Điện lực TP Uông Bí phối hợp với Trường Tiểu học Quang Trung tổ chức chương trình dưới hình thức so tài giữa 3 đội chơi đại diện cho các khối lớp. Thông qua các phần thi: chào hỏi, tiểu phẩm tuyên truyền, trưng bày các sản phẩm tranh vẽ và hùng biện, chương trình đã khéo léo lồng ghép, tuyên truyền cho học sinh cách sử dụng thiết bị điện trong gia đình, nhà trường một cách an toàn, tiết kiệm và hiệu quả.
Học sinh trường tiểu học Quang Trung sôi nổi tham gia hoạt động ngoại khoá "Trường học chung tay tiết kiệm điện" (Ảnh: Hồng Hoàn - Hồng Nhung)
Chương trình “Trường học chung tay tiết kiệm điện” được Điện lực thành phố Uông Bí phối hợp tổ chức luân phiên tại các trường Tiểu học trên địa bàn. Với hình thức truyền thông sinh động, chương trình góp phần nâng cao nhận thức, hình thành thói quen tiết kiệm điện cho học sinh, giúp các em trở thành những tuyên truyền viên tích cực tại gia đình, cộng đồng trong hưởng ứng tiết kiệm điện.
Tại thị xã Đông Triều: Điện lực thị xã Đông Triều phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Đông Triều triển khai chương trình tại trường trrung học cơ sở Mạo Khê II. Sự kiện đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo các thầy cô giáo, ban giám hiệu nhà trường, các em học sinh, các trường học trong thị xã cùng tham gia đồng hành.
Các em học sinh diễn tiểu phẩm tuyên truyền tiết kiệm điện (Ảnh: Phạm Chiến)
Đến với chương trình các em học sinh đã thành lập 4 đội chơi được thể hiện qua 3 phần thi gồm: Màn chào hỏi, diễn tiểu phẩm và thi hùng biện. Tham gia các phần thi tìm hiểu kiến thức gồm các câu hỏi xoay quanh những vấn đề như sử dụng thiết bị điện nào ít tiêu hao năng lượng; ý nghĩa của việc tiết kiệm điện; cách sử dụng các thiết bị gần gũi như ti vi, tủ lạnh, bàn là, nồi cơm, quạt điện đúng cách; các tiểu phẩm, hùng biện về thực trạng sử dụng năng lượng nói chung, điện năng nói riêng hiện nay và thi vẽ tranh với nội dung chủ đề chung tay gìn giữ nguồn tài nguyên trên Trái đất, bảo vệ cuộc sống và tương lai của chính chúng ta.
Tại huyện Tiên Yên: Điện lực Tiên Yên phối hợp với Trường Trung học cơ sở Tiên Yên tổ chức chương trình với sự tham gia của gần 600 em học sinh cùng các thầy cô giáo trong nhà trường tại Trung tâm Văn hóa Thể thao các dân tộc vùng Đông Bắc huyện Tiên Yên.
Toàn cảnh buổi ngoại khoá (Ảnh: Xuân Thành)
Buổi ngoại khóa đã thu hút các em học sinh tham gia thông qua lồng ghép các trò chơi hoạt động và trả lời các câu xung quanh chủ để sử dụng điện an toàn, tiết kiệm…Sự “đổi mới” từ khâu thiết kế chương trình, cho đến cách thức tổ chức và hiệu quả mang lại từ các hoạt động ngoại khóa mà chương trình “Trường học chung tay tiết kiệm điện” giờ đây đã trở thành ngày hội đáng mong chờ của thầy cô và các em học sinh.
Những tiết mục văn nghệ hát múa, những tiểu phẩm mang đậm tính tuyên truyền được chính các em trình bày, thể hiện càng khẳng định được sự chuyển biến rõ thấy trong suy nghĩ và hành động của các em về tiết kiệm điện. 
Cùng với đó, những câu đố vui, những trò chơi sôi động hay những câu chuyện kể về cách sử dụng điện mà các em đã thực hiện tại gia đình… cũng được các tuyên truyền viên Điện lực khéo léo giải đáp, phân tích hành động đúng, sai và hướng dẫn cụ thể cho các em cách thức sử dụng hiệu quả nhất..
Tại huyện Ba Chẽ: Chương trình được tổ chức tại trường phổ thông dân tộc bán trú THCS Đồn Đạc thu hút sự tham gia của hơn 200 học sinh và đông đảo các thầy, cô giáo đại diện cho các trường trên địa bàn huyện. 
Các tiểu phẩm và phần hùng biện với thông điệp tiết kiệm điện của các em học sinh (Ảnh: Thu Trang)
Tại đây, các em học sinh được cung cấp những kiến thức về vai trò của điện, những kiến thức và kỹ năng trong sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả trong trường học, gia đình và xã hội, cụ thể như việc tắt các thiết bị điện khi không dùng, tắt hẳn điện khi không sử dụng, tận dụng tối đa nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời và thông gió tự nhiên, thực hiện việc sử dụng và tiết kiệm điện một cách hiệu quả với nguyên tắc 4 đúng: đúng lúc, đúng chỗ, đúng cách và đúng nhu cầu.
Tại chương trình, các em học sinh đem đến những tiết mục đặc sắc, hấp dẫn lôi cuốn và được đông đảo các bạn hưởng ứng thông qua các phần thi: thi hùng biện, tiểu phẩm và thi vẽ tranh đã mang đến những thông điệp đầy ý nghĩa như: Tiết kiệm điện để bảo vệ môi trường, giữ gìn màu xanh trái đất; tiết kiệm vì lợi ích cộng đồng; lựa chọn và sử dụng thiết bị giúp tiết kiệm điện năng…
Việc tiết kiệm năng lượng trong học đường là vấn đề luôn được xã hội quan tâm, bởi lẽ, trẻ em là tương lai của đất nước, tập thói quen tiết kiệm cho các em học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường là một việc làm vô cùng cần thiết. Điện lực Quảng Ninh hy vọng trong tương lai gần, việc tiết kiệm điện ở trường học sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp hơn, tiết kiệm được nhiều chi phí cho nhà trường và cho ngân sách Nhà nước.
Tố Quyên
 
 
Công nghiệp chế biến, chế tạo - động lực dẫn dắt tăng trưởng

Nghị quyết số 01-NQ/TU (ngày 16/11/2020) về “Phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030” được tỉnh chỉ đạo thực hiện quyết liệt nhằm tạo động lực dẫn dắt tăng trưởng cho toàn ngành công nghiệp, đóng góp quan trọng phát triển KT-XH của tỉnh.

 
 
Bộ Công Thương quyết liệt các giải pháp tiết kiệm năng lượng hiện thực hoá mục tiêu Net zero

 

Việc triển khai có hiệu quả các giải pháp tiết kiệm năng lượng giúp đảm bảo nguồn cung cho ngành sản xuất của Việt Nam, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Kể từ khi cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine nổ ra hồi đầu năm 2022, giá năng lượng và các mặt hàng nguyên vật liệu phục vụ cho công nghiệp sản xuất đã tăng lên nhanh chóng. Điển hình là dầu thô có lúc bị đẩy lên đến hơn 130 USD/thùng, đe dọa về sự xuất hiện của một cuộc khủng hoảng năng lượng mới trên toàn thế giới. 
Đối với Việt Nam - một quốc gia đang phát triển cần ưu tiên nhiều nguồn lực cho công nghiệp sản xuất, việc các nguồn năng lượng tăng giá trở thành bài toán khó, buộc chúng ta phải giải quyết nhanh chóng. Đã có nhiều giải pháp được đưa ra, trong đó, ưu tiên hàng đầu là đẩy mạnh các giải pháp, nâng cao hiệu quả tiết kiệm năng lượng, triển khai mô hình phát triển bền vững. 

Tiết kiệm năng lượng là tiền đề quan trọng giúp Việt nam sớm đạt được cam kết cân bằng phát thải khí nhà kính năm năm 2050.
Chỉ đạo quyết liệt
Đóng vai trò chủ đạo trong việc tham mưu cho Chính phủ xây dựng các chính sách, giải pháp nhằm đẩy mạnh việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao, phát triển bền vững, Bộ Công Thương trong thời gian qua đã xây dựng nhiều định hướng, nội dung triển khai cụ thể. Mục tiêu chung nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, thực hiện cam kết của Việt Nam tại Thỏa thuận Paris về ứng phó với biến đổi khí hậu cũng như tại Hội nghị thượng đỉnh về Biến đổi khí hậu COP26 về thực hiện lộ trình giảm phát thải khí nhà kính về 0 vào năm 2050.
Thứ nhất, tăng cường các hoạt động truyền thông: Trong đó tập trung chủ yếu vào việc vận động, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân và doanh nghiệp về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển bền vững. Phối hợp với Hội nhà báo tổ chức Giải báo chí toàn quốc tuyên truyền về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; tổ chức các giải thưởng hiệu quả năng lượng; giải thưởng năng lượng bền vững, tổ chức các hội nghị, tọa đàm chia sẻ, thúc đẩy đầu tư, thực hiện những giải pháp tiết kiệm năng lượng, sản xuất sạch, chuyển giao công nghệ sạch trong công nghiệp…

Bộ Công Thương chủ động tham mưu cho chính phủ xây dựng các chính sách, giải pháp nhằm đẩy mạnh việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Thứ hai, đẩy mạnh thực hiện các hoạt động hỗ trợ đầu tư: kiến nghị với cấp có thẩm quyền để xây dựng và thực thi các cơ chế về tài chính, tạo điều kiện cho doanh nghiệp được tiếp cận các cơ chế tài chính ưu đãi, hướng tới mục tiêu đầu tư vào các giải pháp công nghệ tiết kiệm năng lượng, sản xuất sạch, thay thế dây chuyền, máy móc cũ bằng hệ thống máy móc hiện đại, hiệu quả sử dụng công nghệ cao hơn. Hỗ trợ kỹ thuật và tài chính nhằm thúc đẩy các dự án đầu tư, sản xuất, kinh doanh về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với các hoạt động như sản xuất, chế tạo, cải tạo, chuyển đổi thị trường phương tiện, trang thiết bị, máy móc, dây chuyền sản xuất.
Thứ ba, thông qua các nguồn lực của Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả và Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững: tiến hành tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực cho cán bộ các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương và cán bộ quản lý năng lượng tại các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm. Tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn chuyên ngành về các giải pháp quản lý công nghệ trong tiết kiệm năng lượng, sản xuất sạch để giúp cho doanh nghiệp công nghiệp có thể áp dụng các sáng kiến, giải pháp, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng của doanh nghiệp.

Hỗ trợ kỹ thuật và tài chính nhằm thúc đẩy Tiết kiệm năng lượng trong doanh nghiệp là giải pháp được Bộ Công Thương ưu tiên
Giải pháp đồng bộ
Dựa trên các nội dung định hướng của Bộ Công Thương, Vụ Tiết kiệm năng lượng và phát triển bền vững đã tiến hành triển khai một số giải pháp cụ thể, nhằm hiện thực hóa các mục tiêu đề ra.
Giải pháp 1: Rà soát, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Hiện Bộ Công Thương đang nghiên cứu và chuẩn bị báo cáo rà soát sửa đổi Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả để trình Chính phủ. Cùng với đó, xây dựng và hoàn thiện các văn bản dưới luật như các nghị định, thông tư.
Giải pháp 2: Hỗ trợ kỹ thuật và tài chính nhằm thúc đẩy các dự án đầu tư, sản xuất, kinh doanh về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững. Tập trung hỗ trợ các hoạt động về kiểm toán năng lượng, xây dựng hệ thống quản lý năng lượng, xây dựng và thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn trong một số ngành công nghiệp thuộc lĩnh vực công thương.

Luôn luôn đổi mới phương pháp truyền thông về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đến các đối tượng khác nhau
Giải pháp 3: Tăng cường năng lực về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cho các đơn vị liên quan trong triển khai chương trình, trong đó nâng cao vai trò của người quản lý năng lượng, kiểm toán viên năng lượng.
Giải pháp 4: Truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, sản xuất sạch, thực hiện lối sống xanh, sử dụng các sản phẩm có thể tái chế, thay thế các sản phẩm nhựa bằng các sản phẩm thân thiện môi trường. 
Giải pháp 5: Xây dựng cơ chế tài chính thúc đẩy đầu tư tiết kiệm năng lượng. Thúc đẩy các dự án hợp tác quốc tế cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư thực hiện đầu tư tiết kiệm năng lượng. Tăng cường làm rõ các cơ chế đầu tư, ưu đãi về lãi suất, thuế, đầu tư đất đai. Đề xuất thành lập quỹ tiết kiệm năng lượng.
Giải pháp 6: Tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc, hướng dẫn thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện quy định của pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, sản xuất và tiêu dùng bền vững.
Ngày 1/11/2021, tại Hội nghị lần thứ 26 các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (COP26), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có bài phát biểu, cam kết những mục tiêu của Việt Nam trong việc tiết kiệm năng lượng, chuyển đổi sử dụng năng lượng tái tạo, xây dựng và triển khai các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính mạnh mẽ bằng nguồn lực của mình, cùng với sự hợp tác và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, nhất là các nước phát triển, cả về tài chính và chuyển giao công nghệ. Mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
 
Quang Ngọc
 
 
Thúc đẩy thiết bị gia dụng tiết kiệm năng lượng với phương pháp "tiếp cận kép"

 

Ghi nhãn rõ ràng hơn kết hợp với tiêu chuẩn tối thiểu chặt chẽ có thể cắt giảm lượng điện lãng phí trong nhà.

Trong 25 năm qua, các chính phủ châu Âu đã khuyến khích người tiêu dùng có ý thức hơn về môi trường khi mua tủ lạnh, máy giặt và các thiết bị gia dụng khác. Giờ đây, họ đang thắt chặt các yêu cầu về hiệu suất năng lượng để buộc các nhà sản xuất cải tiến sản phẩm và yêu cầu các nhãn năng lượng rõ ràng hơn.

Giảm tiêu thụ năng lượng hộ gia đình là điều cần thiết nếu các quốc gia muốn cắt giảm lượng phát thải carbon và đạt mục tiêu hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5 độ C.

Được biết hiện có hơn 120 quốc gia quy định hiệu suất năng lượng tối thiểu cho các thiết bị và yêu cầu dán nhãn hiệu quả năng lượng.

Nhãn năng lượng EU trên một thiết bị gia dụng. Ảnh: Shutterstock.

Việc ghi nhãn lần đầu tiên được Ủy ban Châu Âu (EU) quy định vào năm 1994 cho một số thiết bị. Hệ thống đánh giá hiệu suất năng lượng được sử dụng trên nhãn từ “G” kém nhất đến “A” tốt nhất. Tuy nhiên, tháng 3 năm nay, nhãn đã được đơn giản hóa với ba thang điểm A +, A ++ và A +++”. Điều này đã khiến người tiêu dùng bối rối.

Hiện việc dán nhãn nghiêm ngặt hơn nên rất ít sản phẩm ban đầu có thể đạt được xếp hạng “A” về hiệu quả năng lượng. Việc này, theo EU, là giúp mở rộng phạm vi phát triển thị trường cho các sản phẩm hiệu quả hơn trong tương lai.

Các xếp hạng mới này áp dụng cho các thiết bị bao gồm tủ lạnh và tủ đông, máy rửa bát, máy giặt, TV và màn hình, bóng đèn và đèn. Những năm tới xếp hạng sẽ dần được được mở rộng sang các sản phẩm khác. Đồng thời, EU cũng đã cấm các thiết bị kém hiệu quả năng lượng nhất.

Kết hợp với nhau, các nhãn năng lượng và các yêu cầu về hiệu suất tối thiểu sẽ tạo ra mức tiết kiệm năng lượng tương đương với mức tiêu thụ năng lượng tổng của Tây Ban Nha và Ba Lan.

Các biện pháp bổ sung bao gồm yêu cầu nhà sản xuất cung cấp phụ tùng thay thế trong vòng 10 năm sau khi thiết bị không còn được bán nữa, để khuyến khích mọi người sử dụng thiết bị hiệu quả lâu hơn.

Tại Vương quốc Anh, các tiêu chuẩn về dán nhãn và hiệu quả năng lượng của EU đã được thông qua trong luật.

Tháng trước, chính phủ Anh đã công bố kế hoạch về các biện pháp khuyến khích các nhà sản xuất thiết bị gia dụng và doanh nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm ít tiêu thụ năng lượng và dễ sửa chữa hơn.

Bà Kadri Simson, Ủy viên phụ trách năng lượng EU, cho biết hoàn toàn tin tưởng rằng chế độ ghi nhãn mới sẽ giúp thay đổi hành vi người tiêu dùng. “Tôi luôn tin tưởng vào tác động của các chính sách và trong trường hợp này, chúng tôi có dữ liệu”. Bà cho biết một cuộc khảo sát toàn EU vào năm 2019 cho thấy 79% người tiêu dùng EU cho biết nhãn năng lượng đã ảnh hưởng quyết định mua hàng của họ.

Tuy nhiên, một số người cho rằng bằng chứng về tác động của nhãn đối với người tiêu dùng khá “mơ hồ”. Đặc biệt ở các nước đang phát triển, nơi các tiêu chuẩn tối thiểu về hiệu quả năng lượng cho sản phẩm gia dụng ít phổ biến.

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy phương pháp kết hợp nhãn năng lượng cho thiết bị gia dụng với các tiêu chuẩn tối thiểu bắt buộc về hiệu quả năng lượng có thể dẫn đến việc giảm đáng kể việc sử dụng năng lượng.

Theo báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), ở các quốc gia có chính sách lâu dài về mức tiêu thụ năng lượng tối thiểu và xếp hạng năng lượng, các thiết bị thường tiêu thụ ít hơn 30% năng lượng so với trước đó.

Hiệu quả sử dụng năng lượng của các quốc gia. Nguồn: IEA.

Chuyên gia năng lượng Jan Rosenow khẳng định “nhãn năng lượng có ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng. Đồng thời sẽ hiệu quả hơn nếu kết hợp với các quy định dần loại bỏ các thiết bị kém hiệu quả nhất ra khỏi thị trường. Chẳng hạn với bóng đèn. Người tiêu dùng đã chuyển dần từ đèn sợi đốt sang đèn huỳnh quang, compact, LED… và hiện giờ các loại đèn hiệu quả năng lượng đang chiếm lĩnh thị trường”.

Việc hợp nhất các tiêu chuẩn dán nhãn năng lượng quốc gia thành các tiêu chuẩn quốc tế có thể đẩy nhanh tiến độ sử dụng năng lượng hiệu quả trên toàn cầu. 

Tại Hội nghị khí hậu COP26, 14 quốc gia, trong đó có Anh, Đức, Ấn Độ, Brazil và Nigeria, đã cam kết tăng gấp đôi hiệu suất năng lượng của bốn nhóm sản phẩm vào năm 2030. Các sản phẩm này. gồm hệ thống chiếu sáng, tủ lạnh, điều hòa không khí và động cơ công nghiệp, chiếm khoảng 40% lượng điện tiêu thụ toàn cầu.

Theo IEA, kết hợp các tiêu chuẩn ghi nhãn với các biện pháp khác, như trợ cấp hoặc ưu đãi thuế đối với các thiết bị có hiệu suất năng lượng cao, cũng sẽ tạo ra hiệu quả cao.

Các chuyên gia cho biết, sự phát triển về công nghệ, như thiết bị “thông minh” và dữ liệu sử dụng năng lượng, sẽ góp phần nâng cao nhận thức về hiệu quả sử dụng năng lượng của hộ gia đình và cắt giảm chi tiêu năng lượng. Chẳng hạn, một chiếc máy giặt thông minh có thể tự động khởi động khi nhận được tín hiệu từ lưới điện rằng chi phí năng lượng đang ở mức thấp nhất trong giờ thấp điểm.

Thanh Thanh (theo Financial Times)

 

 
Trên 85% người tiêu dùng quan tâm, sử dụng sản phẩm dán nhãn năng lượng

 

Theo khảo sát của Bộ Công Thương, tính đến năm 2020 tỷ lệ người dân quan tâm sử dụng sản phẩm có dán nhãn năng lượng đạt khoảng 85%.

Từ đầu năm 2022 đến nay, cuộc khủng hoảng năng lượng trên thế giới đang diễn ra phức tạp và khó lường, giá dầu thô trên thế giới đã có lúc bị đẩy lên đến hơn 130 USD/thùng. Việc đảm bảo cung cấp năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo nhu cầu sinh hoạt của người dân ngày càng trở nên khó khăn và cấp bách.
Chính vì vậy, song song với việc khai thác các nguồn năng lượng sơ cấp để đáp ứng nhu cầu về năng lượng của nền kinh tế và toàn xã hội, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một giải pháp thiết thực giúp cải thiện hiệu quả nền kinh tế. Đây được coi là giải pháp quan trọng giúp bảo tồn nguồn năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính, đóng góp cho công cuộc giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu. 
Một trong những giải pháp quan trọng để sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được Bộ Công Thương khuyến cáo là sử dụng các sản phẩm, thiết bị có dán nhãn năng lượng, đặc biệt là nhãn năng lượng hiệu suất cao nhất.
Những sản phẩm được dán nhãn năng lượng là những sản phẩm đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn bắt buộc về hiệu suất năng lượng, giúp người mua biết được các thông tin, chỉ số và khả năng tiết kiệm điện của các thiết bị, từ đó có thể lựa chọn được sản phẩm chất lượng, hiệu suất năng lượng cao, tốn ít điện năng.

Ba loại nhãn năng lượng trên thị trường hiện nay: Nhãn năng lượng nhận biết, nhãn năng lượng so sánh và nhãn hiệu suất năng lượng cao nhất (từ trái qua phải)
Thông qua các hình thức tuyên truyền, phổ biến kiến thức về lợi ích của các sản phẩm có dán nhãn năng lượng, tính đến năm 2020, theo khảo sát của Bộ Công Thương đã có trên 85% người tiêu dùng quan tâm, sử dụng sản phẩm có dán nhãn năng lượng. Đặc biệt, người tiêu dùng đang có xu hướng và ngày càng yêu thích, mong muốn, thậm chí là sẵn sàng chi ra một khoản tiền không nhỏ để được sử dụng những sản phẩm chất lượng tốt, tiết kiệm năng lượng, hiệu suất cao. Đây là một tín hiệu đáng mừng về ý thức tiết kiệm năng lượng của người dân.
Tuy nhiên, để việc tiết kiệm năng lượng thật sự hiệu quả, ông Trịnh Quốc Vũ - Phó Vụ trưởng Vụ Tiết kiệm năng lượng và Phát triển bền vững, Bộ Công Thương cho biết ngoài việc lựa chọn các sản phẩm có dán nhãn năng lượng, người tiêu dùng cần phân biệt rõ các loại nhãn năng lượng để chọn được sản phẩm có hiệu suất năng lượng cao, phù hợp với nhu cầu sử dụng.
Hiện nay trên thị trường, có 3 loại nhãn năng lượng đó là nhãn năng lượng nhận biết, loại nhãn này cho biết mức năng lượng tiêu thụ tối thiểu mà doanh nghiệp đã đạt được để sản phẩm được phép lưu thông trên thị trường. Loại thứ 2 là nhãn năng lượng so sánh, càng nhiều sao càng tiết kiệm, giữa các mức sao sẽ có sự khác nhau về hiệu suất năng lượng, từ 1 sao đến 5 sao. Loại thứ 3 là nhãn hiệu suất năng lượng cao nhất, người tiêu dùng có thể dễ dàng nhận diện sản phẩm hiệu suất cao nhất và tra cứu thông tin từ mã QR dán trên sản phẩm, thiết bị”, ông Trịnh Quốc Vũ cho biết.
Người tiêu dùng ngày càng quan tâm hơn đến những sản phẩm dán nhãn năng lượng
Người tiêu dùng nên cân nhắc lựa chọn mua những sản phẩm phù hợp với nhu cầu sử dụng, ví dụ gia đình có từ 4 - 5 thành viên nên chọn mua tủ lạnh có công suất từ 120 - 150 lít, không nên sử dụng tủ lạnh quá lớn, tiêu hao nhiều điện năng. Hay như phòng ngủ có diện tích dưới 15m2 nên lựa chọn điều hòa không khí công suất 9.000 BTU. Đồng thời, người tiêu dùng cũng cần quan tâm đến bộ quy trình chứng nhận đối với sản phẩm thiết bị để có thể lựa chọn được những sản phẩm chất lượng nhất.
Trước bối cảnh thế giới có nhiều biến động về năng lượng, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả càng trở nên quan trọng và cần thiết. Sử dụng hiệu quả năng lượng không những giúp cho người tiêu dùng và doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí điện năng mà còn góp phần giảm áp lực nguồn cung cho ngành điện.
Chương trình dán nhãn năng lượng và quản lý hiệu suất năng lượng tối thiểu tại Việt Nam được bắt đầu triển khai từ năm 2011 theo hình thức tự nguyện và chính thức áp dụng bắt buộc 2 năm sau đó (năm 2013). Chương trình này được thực hiện thông qua việc xây dựng 50 bộ tiêu chuẩn quốc gia quy định hiệu suất năng lượng cho 19 chủng loại thiết bị tiêu thụ năng lượng, trong đó có 4 chủng loại chính: sản phẩm gia dụng, các sản phẩm dùng trong khu công nghiệp, các sản phẩm dùng trong kinh doanh và các các sản phẩm trong phương tiện giao thông. 
Ông Đặng Hải Dũng - Phó Chánh Văn phòng ban chỉ đạo tiết kiệm năng lượng, Bộ Công Thương cho biết, Bộ Công Thương đang rà soát hệ thống tiêu chuẩn hiện hành và cơ sở hạ tầng phục vụ dán nhãn năng lượng. Sắp tới dự kiến sẽ bổ sung khoảng 6 sản phẩm vào chương trình quản lý hiệu suất năng lượng, chương trình dán nhãn cũng như chương trình hiệu suất năng lượng tối thiểu.
Sản phẩm mục tiêu lớn trong giai đoạn này là sản phẩm bếp từ, bếp hồng ngoại, điều hòa VRV (điều hòa công suất lớn), bóng đèn led và một số sản phẩm khác cũng đang trong quá trình nghiên cứu và sẽ trình Chính phủ để ban hành trong thời gian tới. Dự kiến đến năm 2025 sẽ công bố những quy định về sản phẩm hiệu suất năng lượng mới này.​
Minh Khuê
 
 
Sẽ bổ sung 6 sản phẩm vào chương trình quản lý hiệu suất bắt buộc phải dán nhãn năng lượng

 

Nhãn năng lượng là biện pháp quy định việc in cung cấp thông tin mức tiêu thụ năng lượng dán trên thiết bị điện, giúp người dùng có thể lựa chọn được sản phẩm chất lượng, hiệu suất năng lượng cao, tiêu tốn ít điện năng.

Chương trình dán nhãn năng lượng là biện pháp quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy việc sử dụng thiết bị hiệu suất cao, loại bỏ dần các sản phẩm công nghệ lạc hậu hướng tới việc xây dựng văn hóa tiêu dùng bền vững trong cộng đồng.
Ông Đặng Hải Dũng - Phó Chánh văn phòng Ban chỉ đạo Tiết kiệm năng lượng, Bộ Công Thương đã có những chia sẻ cụ thể về những kết quả đã đạt được của chương trình dán nhãn năng lượng cũng như lộ trình triển khai chương trình trong giai đoạn tới.

Ông Đặng Hải Dũng - Phó Chánh văn phòng Ban chỉ đạo Tiết kiệm điện và năng lượng, Bộ Công Thương 

PV: Ông có thể cho biết chương trình dán nhãn năng lượng của Bộ Công Thương có ý nghĩa như thế nào đối với mục tiêu về tiết kiệm năng lượng và đối với người tiêu dùng?
Ông Đặng Hải Dũng: Chương trình chuyển đổi thị trường và quản lý hiệu suất năng lượng của phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng được Luật hóa tại Chương IX- Quản lý phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng (Điều 37, 38,39,40) của Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Các quy định chi tiết được hướng dẫn tại Nghị định 21 và Quyết định số 51/2011/QĐ-TTg (hiện nay được thay thế bởi Quyết định số 04/2017/QĐ-TTg) về quy định Danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng và áp dụng mức hiệu suất năng lượng tối thiểu. 
Chương trình dán nhãn năng lượng quy định bắt buộc các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phương tiện, thiết bị phải công khai minh bạch về hiệu suất năng lượng của các sản phẩm sử dụng năng lượng trong các khâu sản xuất, kinh doanh trên thị trường. Đồng thời, các phương tiện, thiết bị lạc hậu, hiệu suất năng lượng thấp dưới mức tối thiểu sẽ bị cấm sản xuất và kinh doanh trên thị trường. 
Nhãn năng lượng là biện pháp quy định việc in cung cấp thông tin mức tiêu thụ năng lượng của thiết bị và nhãn được dán lên phương tiện, thiết bị giúp người mua biết được các thông tin, chỉ số và khả năng tiết kiệm điện của các thiết bị, từ đó có thể lựa chọn được sản phẩm chất lượng, hiệu suất năng lượng cao, tốn ít điện năng.

Nhãn năng lượng bắt buộc: gồm Nhãn năng lượng nhận biết (hình tam giác) và nhãn năng lượng so sánh (Từ 1 sao đến 5 sao)
PV: Bộ Công Thương đã triển khai hoạt động dán nhãn năng lượng như nào thưa ông?
Ông Đặng Hải Dũng: Chương trình dán nhãn năng lượng và quản lý hiệu suất năng lượng tối thiểu tại Việt Nam được bắt đầu triển khai từ năm 2011 theo hình thức tự nguyện và chính thức áp dụng bắt buộc 2 năm sau đó (năm 2013). 
Chương trình này được thực hiện thông qua việc xây dựng 50 bộ tiêu chuẩn quốc gia quy định hiệu suất năng lượng cho 19 chủng loại thiết bị tiêu thụ năng lượng, trong đó có 4 chủng loại chính: sản phẩm gia dụng, các sản phẩm dùng trong khu công nghiệp, các sản phẩm dùng trong kinh doanh và các các sản phẩm trong phương tiện giao thông. 
Việc kiểm tra, giám sát tuân thủ quy định về tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng của phương tiện, thiết bị kinh doanh trên thị trường được thực hiện thông qua 12 phòng thí nghiệm trên toàn quốc đảm bảo tính chính xác, công khai minh bạch, tránh  gian lận trong việc công bố hiệu suất năng lượng.

Nhãn năng lượng tự nguyện (Nhãn hiệu suất sao năng lượng cao nhất)  dành cho các sản phẩm có hiệu suất năng lượng cao nhất trên thị trường. 
PV: Vậy các kết quả nổi bật Chương trình dán nhãn năng lượng đã thực hiện là gì?
Ông Đặng Hải Dũng: Chương trình dán nhãn năng lượng đã đạt được những kết quả chính sau:
 
Ngay sau khi Quyết định 51/2011/QĐ-TTg ra đời đã ngay lập tức loại bỏ mỗi năm 45 triệu bóng đèn sợi đốt công suất lớn hơn 60W ra khỏi thị trường chiếu sáng dân dụng và mở ra thị trường để phát triển các loại đèn hiệu suất cao như đèn CFL, đèn LED. Chương trình đã có tác động tích cực trong việc nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng đèn chiếu sáng hiệu suất cao trong sinh hoạt và sản xuất. 
Đến nay, nước ta đã có gần 100% các hộ gia đình, doanh nghiệp sử dụng bóng đèn tiết kiệm điện (CFL, LED) trong chiếu sáng, chỉ còn số ít sử dụng bóng đèn sợi đốt trong sản xuất (như trồng hoa màu, thanh long, nuôi gia cầm...).
Chương trình dán nhãn năng lượng cho sản phẩm điều hòa không khí đã dán nhãn cho gần như toàn bộ điều hòa không khí gia dụng (<40.000BTU) kinh doanh trên thị trường. Trong đó 62,8% mẫu lưu hành trên thị trường đạt mức hiệu suất cao từ 4 sao đến 5 sao. Việc nâng cấp tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng cho sản phẩm điều hòa không khí từ 2,54 lên 3,8 và lên 4,2 vào năm 2015 đã tiết kiệm điện năng trong lĩnh vực điều hòa không khí mỗi năm hơn 100 triệu kWh và giúp cắt giảm công suất phụ tải tương đương với việc tiết kiệm đầu tư xây dựng một nhà máy nhiệt điện với công suất 300MW.
Chương trình thay thế bình đun nước nóng điện bằng bình đun nước nóng năng lượng mặt trời do Bộ Công Thương phát động từ năm 2008, EVN đã chỉ đạo các Tổng công ty điện lực và các công ty điện lực thành viên phối hợp với các nhà sản xuất trong nước tuyên truyền, quảng bá và hỗ trợ người dân sử dụng bình đun nước nóng bằng năng lượng mặt trời trên phạm vi toàn quốc (mức hỗ trợ 1 triệu đồng/bình). EVN đã thực hiện thành công chương trình của Bộ Công Thương và của EVN, với tổng số bình thực hiện là: 110.000 bình (trong đó có 96.000 bình nước nóng năng lượng mặt trời thực hiện theo chương trình của EVN và số còn lại 14.000 bình thực hiện theo chương trình của Bộ Công Thương).
 
Chương trình đã có tác dụng kích cầu thị trường rất lớn, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của thị trường bình nước nóng năng lượng mặt trời là 30 - 40% (giai đoạn 2013 - 2015). Tới năm 2015 thị trường đã tiêu thụ hơn 700.000 bình nước nóng năng lượng mặt trời, tiết kiệm hơn 1 tỷ kWh/năm (tương đương với tiền điện tiết kiệm là 1.600 tỷ đồng/năm).
Ngoài các sản phẩm đã có đánh giá và định lượng cụ thể như trên, các dữ liệu công bố hiệu suất năng lượng, sự chuyển dịch mức hiệu suất năng lượng trên thị trường phương tiện thiết bị cũng được ghi nhận đối với các sản phẩm khác như động cơ điện, máy biến áp phân phối, tủ lạnh, quạt điện, nồi cơm điện...cũng góp phần tiết kiệm hàng tỷ USD cho quốc gia trong vấn đề sản xuất điện.
 
PV: Xin ông cho biết hiện nay trên thị trường có những loại nhãn năng lượng gì? Cách nhận biết các loại nhãn đó? Cũng như đánh giá của Bộ Công Thương về người tiêu dùng khi họ nhận biết và sử dụng những sản phẩm có dán nhãn năng lượng?
Ông Đặng Hải Dũng: Trong chương trình thiết kế nhãn năng lượng thì có 2 loại nhãn năng lượng chính là nhãn năng lượng bắt buộc và nhãn năng lượng tự nguyện. Trong đó, riêng đối với nhãn  năng lượng bắt buộc cũng chia làm 2 loại nhãn theo quy định của Thủ tướng đó là nhãn năng lượng nhận biết, loại nhãn này cho biết mức năng lượng tiêu thụ tối thiểu mà doanh nghiệp đã đạt được để sản phẩm được phép lưu thông trên thị trường. Loại thứ 2 là nhãn năng lượng so sánh, nhãn này sẽ thể hiện bằng các sao, giữa các mức sao sẽ có sự khác nhau về hiệu suất năng lượng, giúp cho người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm hiệu suất cao và thuận tiện trong việc lựa chọn sản phẩm phù hợp với thu nhập.
Người tiêu dùng ngày càng quan tâm hơn đến những sản phẩm dán nhãn năng lượng
Nhãn năng lượng tự nguyện (nhãn hiệu suất năng lượng cao nhất) là loại nhãn khác với nhãn bắt buộc. Với loại nhãn này chúng tôi đang triển khai vận động doanh nghiệp tự công bố hiệu suất năng lượng của sản phẩm mà doanh nghiệp mình sản xuất/ nhập khẩu và nộp hồ sơ về cơ quan quản lý nhà nước. Trong trường hợp có tranh chấp thì hồ sơ này sẽ làm cơ sở pháp lý để xử lý.
Nằm trong khuôn khổ các hoạt động truyền thông của Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019 – 2030. Bộ Công Thương đã tổ chức giải thưởng "Sản phẩm hiệu suất năng lượng cao nhất". Giải thưởng này nhằm tôn vinh các doanh nghiệp đứng đầu có sản phẩm sử dụng năng lượng hiệu suất cao cung cấp cho thị trường Việt Nam, khuyến khích xu hướng tiêu dùng xanh, hướng tới sử dụng các sản phẩm ít tiêu hao năng lượng. 
Tính đến nay, đã có hơn 300 sản phẩm được công nhận và dán nhãn hiệu suất năng lượng cao nhất, 20 thương hiệu đã được Bộ Công Thương tôn vinh. Các sản phẩm bao gồm: điều hòa không khí, máy giặt, đèn led chiếu sáng, máy biến áp, động cơ điện.
Người tiêu dùng có thể dễ dàng nhận diện sản phẩm hiệu suất cao nhất và tra cứu thông tin từ mã QR dán trên sản phẩm, thiết bị.
Thông tin chi tiết về Chương trình Sản phẩm hiệu suất năng lượng cao nhất xem tại: https://tietkiemnangluong.com.vn/top-runner
Nhãn hiệu suất năng lượng cao nhất sẽ dành cho các sản phẩm có hiệu suất năng lượng cao nhất trên thị trường. Dựa vào cơ sở dữ liệu thu thập được, chúng tôi sẽ lọc ra các sản phẩm mà hiệu suất cao hơn cả 5 sao theo tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam. Sau khi được Bộ Công Thương, các hiệp hội, phòng thử nghiệm đánh giá và chứng nhận, các sản phẩm đạt tiêu chuẩn sẽ được dán nhãn hiệu suất năng lượng cao nhất. Các mức hiệu suất năng lượng của nhãn này sẽ được cập nhật hằng năm chứ không cố định để đáp ứng tốc độ thay đổi công nghệ mà các nhà sản xuất đưa ra.
Đối với việc triển khai dán nhãn năng lượng, chúng tôi đã có những khảo sát, đánh giá nhận thức của người tiêu dùng về các sản phẩm có dán nhãn năng lượng. Cụ thể, năm 2015 theo khảo sát của Bộ Công Thương có đến 90% doanh nghiệp đã tuân thủ quy định dán nhãn năng lượng. Tuy nhiên tỷ lệ nhận biết ở giai đoạn 2015 vẫn còn hạn chế, người tiêu dùng cũng không quan tâm nhiều nên mức độ này chỉ đạt khoảng 60-70%. 
Đến năm 2020 qua các phiếu đánh giá khảo sát trả về cho thấy gần như 99% việc dán nhãn đã được các doanh nghiệp và các nhà nhập khẩu, phân phối tuân thủ rất cao. Chính họ cũng là nhân tố giúp tuyên truyền về lợi ích của các sản phẩm có dán nhãn năng lượng, từ đó góp phần nâng cao ý thức lựa chọn sản phẩm sử dụng của người dân, khiến tỷ lệ người dân quan tâm sử dụng sản phẩm có dán nhãn năng lượng đạt khoảng trên 85%.
Số còn lại sẽ nằm ở nhóm người dân trong khu vực vùng sâu vùng xa, khu vực khó tiếp cận với những thay đổi trong công nghệ và phân khúc những khách hàng vẫn đang quan tâm về giá thành hơn là chất lượng, họ cần những sản phẩm giá thành thấp để dễ trang bị.
PV: Xin ông cho biết lộ trình dán nhãn năng lượng sẽ được triển khai như thế nào trong giai đoạn tới?
Ông Đặng Hải Dũng: Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng đã có nội dung chỉ đạo về việc cần loại bỏ dần những phương tiện, thiết bị, công nghệ lạc hậu ra khỏi thị trường. Do đó, Bộ Công Thương phối hợp với các Bộ ngành cũng đang nghiên cứu để bổ sung thêm các phương tiện, danh mục cần phải quản lý hiệu suất năng lượng.
Hiện tại, chúng tôi đang rà soát hệ thống tiêu chuẩn hiện hành và cơ sở hạ tầng phục vụ dán nhãn năng lượng. Sắp tới dự kiến sẽ bổ sung khoảng 6 sản phẩm vào chương trình quản lý hiệu suất năng lượng, chương trình dán nhãn cũng như chương trình hiệu suất năng lượng tối thiểu.
Sản phẩm mục tiêu lớn trong giai đoạn này chúng tôi đang dự thảo là sản phẩm bếp từ, bếp hồng ngoại, điều hòa VRV (điều hòa công suất lớn), bóng đèn led và một số sản phẩm khác cũng đang trong quá trình nghiên cứu và sẽ trình Chính phủ để ban hành trong thời gian tới. Dự kiến đến năm 2025 sẽ công bố những quy định về sản phẩm hiệu suất năng lượng mới này.​
Xin cảm ơn ông!
 
Tố Quyên
 
Công nghiệp chế biến, chế tạo - Điểm sáng trong đại dịch Covid-19

Để tạo sự bứt phá và lợi thế cạnh tranh trong giai đoạn mới, ngay đầu của nhiệm kỳ 2020-2025, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU "Về phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030". Đến nay, sau 2 năm thực hiện trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Nghị quyết đã đi vào cuộc sống, khẳng định hiệu quả, tạo ra lực đẩy mạnh mẽ để công nghiệp chế biến, chế tạo (CBCT) phát triển nhanh, bền vững, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng của tỉnh.

 
 
Chế biến, chế tạo: Phấn đấu trở thành ngành công nghiệp chủ lực

Sau gần 2 năm triển khai Nghị quyết 01-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, nghị quyết đầu tiên của nhiệm kỳ mới về phát triển nhanh, bền vững ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giai đoạn 2020-2025, định hướng đến năm 2030, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của tỉnh đã đạt được những bước phát triển đột phá, trở thành động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

 
 
Bảo vệ môi trường tại các cụm công nghiệp

Hiện nay, các cụm công nghiệp (CCN) trên địa bàn tỉnh đang tích cực tiếp nhận các cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp với quy hoạch đô thị của tỉnh di dời vào. Để đảm bảo hoạt động hiệu quả, đúng hướng, công tác đảm bảo an toàn, vệ sinh môi trường trong các CCN đang được các cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư thực hiện triệt để, đồng bộ.

 
 
Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cụm công nghiệp bền vững

Dự kiến kế hoạch xây dựng Nghị định mới về cụm công nghiệp thay thế Nghị định 68/2017, 66/2020 trình lên Thủ tướng tháng 6/2023, có thể thông qua năm 2023.

Thông tin được Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết tại “Hội nghị về cơ chế, chính sách phát triển cụm công nghiệp” diễn ra ngày 9/11 tại tỉnh Bình Dương.

Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cụm công nghiệp bền vững
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, chủ trì hội nghị

Đạt được nhiều kết quả nhưng còn nhiều khó khăn, vướng mắc

Tại Hội nghị về cơ chế, chính sách quản lý phát triển cụm công nghiệp đại diện cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp đều nhìn nhận: Nghị định số 68/2017, Nghị định số 66/2020 của Chính phủ đã tạo hành lang pháp lý quản lý, phát triển cụm công nghiệp thống nhất từ quy hoạch, thành lập, mở rộng cụm công nghiệp đến đầu tư xây dựng hạ tầng, sản xuất trong cụm công nghiệp. Nghị định cũng đã quy định một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển cụm công nghiệp, thể hiện sự quan tâm, hỗ trợ của Chính phủ đối với phát triển cụm công nghiệp. Cũng như kịp thời quy định, hướng dẫn thực hiện công tác quy hoạch cụm công nghiệp theo pháp luật quy hoạch, việc lựa chọn DN làm chủ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp…

Mặt khác, thông qua hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp trong cụm công nghiệp đã thúc đẩy nhanh chóng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của các địa phương theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho một bộ phận lao động trên địa bàn, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước “ly nông bất ly hương” và xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó, các cụm công nghiệp làng nghề đã góp phần tích cực di dời các doanh nghiệp, cơ sở gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường.

Bên cạnh những kết quả đạt được, tại hội nghị các đại biểu cũng đã thẳng thắn chỉ ra những vướng mắc và đề xuất giải pháp gỡ vướng, nhằm hoàn thiện khung pháp lý phát triển cụm công nghiệp.

Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cụm công nghiệp bền vững
Bà Trương Thị Mỹ Dung - Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai

Từ thực tế địa phương, tại Hội nghị, bà Trương Thị Mỹ Dung - Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai, phản ánh: Bên cạch những kết quả đạt được, công tác quản lý, phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo Nghị định số 68/2017, Nghị định số 66/2020 vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc như: Quy định của pháp luật về đầu tư và về quản lý cụm công nghiệp chưa thống nhất trong việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp, dẫn đến việc lúng túng trong công tác triển khai, thực hiện.

Cụ thể, áp dụng theo Nghị định số 66, việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp được thực hiện trong giai đoạn thành lập cụm công nghiệp và bằng phương pháp chấm điểm do Hội đồng đánh giá lựa chọn chủ đầu tư quyết định. Trong khí áp dụng theo Luật Đầu tư, việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp được thực hiện thông qua việc đấu giá quyền sử dụng đất hoặc trong quá trình chấp thuận chủ trương đầu tư. Đồng thời chấp thuận nhà đầu tư (dự án đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 25/2020 của Chính phủ và không phải thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư).

Ngoài ra, tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp còn chậm, chưa đáp ứng được mặt bằng sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, nguyên nhân chủ yếu là do thời gian thực hiện thủ tục pháp lý kéo dài, trung bình tổng thời gian để hoàn tất hồ sơ khoảng 2-3 năm. Do đó, nhiều cụm phải mất nhiều thời gian hơn do gặp khó khăn về vấn đề đất đai (trong trường hợp vướng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng). Sau khi hoàn tất thủ tục, chủ đầu tư mới thực hiện khởi công xây dựng mất thêm khoảng từ 1-2 năm, mới được tiếp nhận dự án sản xuất kinh doanh vào đầu tư. Tuy nhiên, Nghị định số 68/2017 và Nghị định số 66/2020 không có quy định cụ thể, hướng dẫn chi tiết về việc điều chỉnh tiến độ dự án cụm công nghiệp công nghiệp đối với chủ đầu tư chậm tiến độ thực hiện dự án đã đăng ký theo Quyết định thành lập cụm công nghiệp.

Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cụm công nghiệp bền vững
Ông Nguyễn Thanh Toàn - Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Bình Dương

Đồng qua điểm trên, ông Nguyễn Thanh Toàn - Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Bình Dương - cũng phản ánh: Nghị định số 68/2017 và Nghị định số 66/2020 là các Nghị định chuyên ngành quản ly nhà nước về cụm công nghiệp. Hiện tại chưa có Luật chuyên ngành về cụm công nghiệp, do đó việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, chồng chéo với các văn bản quy phạm pháp luật khác (đặc biệt là Luật Đầu tư).

Cụ thể, Căn cứ quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 32 Luật Đầu tư năm 2020 và khoản 2 Điều 33 Nghị định số 31/2021 của Chính phủ hướng dẫn Luật Đầu tư năm 2020 thì dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp là dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, do đó phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020.

Tuy nhiên tại điểm a, khoản 1 Điều 18 Nghị định số 68/2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp quy định: “Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp….. không phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư” và khoản 1, Điều 6 Thông tư 28/2020/TT-BCT ngày 16/11/2020 của Bộ Công thương quy định: Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp không phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định số 68/2017.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Lê Trần Minh Huy – Trưởng Ban quản lý cụm công nghiệp Uyên Hưng (trực thuộc Công ty Cổ phần Lâm sản và Xuất nhập khẩu Tổng họp Bình Dương) cũng nêu một số khó khăn trong quá trình thực hiện dự án Cụm công nghiệp Uyên Hưng (thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).

Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cụm công nghiệp bền vững

Hội nghị về cơ chế, chính sách phát triển cụm công nghiệp có sự tham dự của đông đảo đại diện các Bộ, ngành và trên 30 địa phương khu vực miền Trung, Tây Nguyên và phía Nam

Cụ thể, theo quy định pháp luật áp dụng đối với Cụm công nghiệp Uyên Hưng thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất thông qua Hội đồng giải tỏa đền bù, tuy nhiên trên thực tế các hộ còn lại không thực hiện được theo phương án giải tỏa đền bù đã duyệt, Hội đồng bồi thường đã vận dụng chính sách lãi suất trượt giá và nhiều lần cùng cơ quan chức năng vận động các hộ dân nhưng không có hộ nào đồng thuận.

Dự án Cụm công nghiệp Uyên Hưng được thực hiện trãi qua nhiều thời kỳ thay đổi của các quy định về pháp luật. Việc điều chỉnh diện tích cụm công nghiệp dưới 75ha phải đảm bảo cơ cấu sử dụng đất theo đúng như quy định của pháp luật hiện hành. Trong khi đó, Cụm công nghiệp Uyên Hưng đã đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật theo các quy định tại thời điểm phê duyệt dự án, và đã đi vào hoạt động ổn định. Điều nay gây khó khăn về công tác điều chỉnh quy hoạch của dự án.

Khi thực hiện điều chỉnh diện tích cụm công nghiệp dưới 75ha, phát sinh nhiều khó khăn về pháp lý do hiện chưa có hướng dẫn giải quyết các thủ tục phát sinh khi điều chỉnh giảm diện tích đối với phần đất đã thực hiện bồi thường cũng như gây khó khăn cho các nhà đầu tư thứ cấp (đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài) khi phải điều chỉnh lại hồ sơ pháp lý liên quan.

Bên cạnh đó, dự án Cụm công nghiệp Uyên Hưng có nhiều trường hợp hộ dân không đồng ý giải tỏa bồi thường, gây nên hiện trạng da beo, đất nằm xen kẹt giữa dự án Cụm công nghiệp Uyên Hưng. Trường hợp này vẫn chưa có hướng giải quyết triệt để, dẫn đến việc doanh nghiệp không thể thi công hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng đúng như quy hoạch được phê duyệt từ đó không được các cơ quan chức năng nghiệm thu hạ tầng toàn dự án của Cụm công nghiệp Uyên Hưng. Điều này dẫn đến công ty không thể khai thác đầu tư các quỹ đất còn lại.

Từ những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình xây dựng, phát triển các cụm công nghiệp các đại diện các sở ngành, doanh nghiệp đã có nhiều đề xuất, kiến nghị các giải pháp phù hợp với thực tiễn, nhằm hoàn thiện khung pháp lý về phát triển cụm công nghiệp hiệu quả và bền vững.

Hoàn thiện khung pháp lý – phát triển cụm công nghiệp bền vững

Phát biểu kết luận hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân - khẳng định: Nghị định 68, Nghị định 66 đã góp phần thúc đẩy phát triển cụm công nghiệp, giúp công tác quản lý bài bản và hiệu quả hơn. Từ đó, tạo động lực cho phát triển ngành công nghiệp nói chung và tiểu thủ công nghiệp nói riêng. Song trong quá trình thực thi, có một số nội dung phát sinh từ sự chồng chéo giữa các băn bản quy phạm pháp luật, thực tiễn và những tồn tại từ lịch sử, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung 2 nghị định trên.

Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cụm công nghiệp bền vững
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, phát biểu kết luận hội nghị

“Bộ Công Thương sẽ tổng hợp tất cả các ý kiến đóng góp của các đại biểu, hoàn thiện Báo cáo đánh giá 5 năm triển khai thực hiện Nghị định số 68/2017 và 2 năm thực hiện Nghị định số 66/2020, báo cáo Thủ tướng, Chính phủ một cách toàn diện nhất, đầy đủ nhất” - Thứ trưởng Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân cam kết.

Đồng thời, Thứ trưởng Bộ Công Thương cũng thông tin một số điểm cơ bản về công tác quy hoạch, thực thi, chọn chủ đầu tư, vấn đề ưu đại đầu tư, chuyển đổi công tư… trong định hướng sửa đổi Nghị định Nghị định 68 và 66.

Theo đó, về công tác quy hoạch sẽ cố gắng tích hợp đồng bộ và đơn giản hoá tối đa thủ tục hành chính hoặc thực hiện một cửa liên thông để giải quyết. “Trong tinh thần khi xây dựng Nghị định mới chúng tôi kiến nghị Chính phủ giao về cho địa phương tự chủ hoàn toàn về quy hoạch các cụm công nghiệp”- Thứ trưởng thông tin.

Liên quan đến chọn chủ đầu tư, trong nghị định mới sẽ tích hợp toàn bộ các quy trình các thủ tục làm sao một quy trình và thủ tục. Đối với vấn đề ưu đại, hỗ trợ, sẽ cụ thể hóa luôn trong Nghị định mới. Không nói chung chung, trách sự hiểu sai, hiểu nhầm của các cơ quan khác nhau...

Nghị định mới thay thế Nghị định 66 và Nghị đinh 68 hướng tới phát triển cụm công nghiệp bài bản, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Cùng với đó tận dụng ưu thế địa phương, sử dụng hiệu quả cao nhất tài nguyên đất, trong đó ưu tiên thu hút các ngành nghề có hàm lượng công nghệ cao. “Dự kiến kế hoạch xây dựng Nghị định mới thay thế Nghị định 68/2017 và 66/2020 trình lên Thủ tướng, Chính phủ tháng 6/2023 để có thể thông qua trong năm 2023” - Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh.

Minh Khuê
https://congthuong.vn/thao-go-vuong-mac-hoan-thien-khung-phap-ly-de-phat-trien-cum-cong-nghiep-ben-vung-226366.html
 
Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cụm công nghiệp bền vững

Dự kiến kế hoạch xây dựng Nghị định mới về cụm công nghiệp thay thế Nghị định 68/2017, 66/2020 trình lên Thủ tướng tháng 6/2023, có thể thông qua năm 2023.

Thông tin được Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết tại “Hội nghị về cơ chế, chính sách phát triển cụm công nghiệp” diễn ra ngày 9/11 tại tỉnh Bình Dương.

Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cụm công nghiệp bền vững
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, chủ trì hội nghị

Đạt được nhiều kết quả nhưng còn nhiều khó khăn, vướng mắc

Tại Hội nghị về cơ chế, chính sách quản lý phát triển cụm công nghiệp đại diện cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp đều nhìn nhận: Nghị định số 68/2017, Nghị định số 66/2020 của Chính phủ đã tạo hành lang pháp lý quản lý, phát triển cụm công nghiệp thống nhất từ quy hoạch, thành lập, mở rộng cụm công nghiệp đến đầu tư xây dựng hạ tầng, sản xuất trong cụm công nghiệp. Nghị định cũng đã quy định một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển cụm công nghiệp, thể hiện sự quan tâm, hỗ trợ của Chính phủ đối với phát triển cụm công nghiệp. Cũng như kịp thời quy định, hướng dẫn thực hiện công tác quy hoạch cụm công nghiệp theo pháp luật quy hoạch, việc lựa chọn DN làm chủ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp…

Mặt khác, thông qua hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp trong cụm công nghiệp đã thúc đẩy nhanh chóng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của các địa phương theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho một bộ phận lao động trên địa bàn, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước “ly nông bất ly hương” và xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó, các cụm công nghiệp làng nghề đã góp phần tích cực di dời các doanh nghiệp, cơ sở gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường.

Bên cạnh những kết quả đạt được, tại hội nghị các đại biểu cũng đã thẳng thắn chỉ ra những vướng mắc và đề xuất giải pháp gỡ vướng, nhằm hoàn thiện khung pháp lý phát triển cụm công nghiệp.

Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cụm công nghiệp bền vững
Bà Trương Thị Mỹ Dung - Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai

Từ thực tế địa phương, tại Hội nghị, bà Trương Thị Mỹ Dung - Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai, phản ánh: Bên cạch những kết quả đạt được, công tác quản lý, phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo Nghị định số 68/2017, Nghị định số 66/2020 vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc như: Quy định của pháp luật về đầu tư và về quản lý cụm công nghiệp chưa thống nhất trong việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp, dẫn đến việc lúng túng trong công tác triển khai, thực hiện.

Cụ thể, áp dụng theo Nghị định số 66, việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp được thực hiện trong giai đoạn thành lập cụm công nghiệp và bằng phương pháp chấm điểm do Hội đồng đánh giá lựa chọn chủ đầu tư quyết định. Trong khí áp dụng theo Luật Đầu tư, việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp được thực hiện thông qua việc đấu giá quyền sử dụng đất hoặc trong quá trình chấp thuận chủ trương đầu tư. Đồng thời chấp thuận nhà đầu tư (dự án đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp không thuộc đối tượng điều chỉnh của Nghị định số 25/2020 của Chính phủ và không phải thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư).

Ngoài ra, tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng cụm công nghiệp còn chậm, chưa đáp ứng được mặt bằng sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, nguyên nhân chủ yếu là do thời gian thực hiện thủ tục pháp lý kéo dài, trung bình tổng thời gian để hoàn tất hồ sơ khoảng 2-3 năm. Do đó, nhiều cụm phải mất nhiều thời gian hơn do gặp khó khăn về vấn đề đất đai (trong trường hợp vướng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng). Sau khi hoàn tất thủ tục, chủ đầu tư mới thực hiện khởi công xây dựng mất thêm khoảng từ 1-2 năm, mới được tiếp nhận dự án sản xuất kinh doanh vào đầu tư. Tuy nhiên, Nghị định số 68/2017 và Nghị định số 66/2020 không có quy định cụ thể, hướng dẫn chi tiết về việc điều chỉnh tiến độ dự án cụm công nghiệp công nghiệp đối với chủ đầu tư chậm tiến độ thực hiện dự án đã đăng ký theo Quyết định thành lập cụm công nghiệp.

Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cụm công nghiệp bền vững
Ông Nguyễn Thanh Toàn - Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Bình Dương

Đồng qua điểm trên, ông Nguyễn Thanh Toàn - Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Bình Dương - cũng phản ánh: Nghị định số 68/2017 và Nghị định số 66/2020 là các Nghị định chuyên ngành quản ly nhà nước về cụm công nghiệp. Hiện tại chưa có Luật chuyên ngành về cụm công nghiệp, do đó việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, chồng chéo với các văn bản quy phạm pháp luật khác (đặc biệt là Luật Đầu tư).

Cụ thể, Căn cứ quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 32 Luật Đầu tư năm 2020 và khoản 2 Điều 33 Nghị định số 31/2021 của Chính phủ hướng dẫn Luật Đầu tư năm 2020 thì dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp là dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, do đó phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020.

Tuy nhiên tại điểm a, khoản 1 Điều 18 Nghị định số 68/2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp quy định: “Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp….. không phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư” và khoản 1, Điều 6 Thông tư 28/2020/TT-BCT ngày 16/11/2020 của Bộ Công thương quy định: Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp không phải thực hiện thủ tục quyết định chủ trương đầu tư theo quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định số 68/2017.

Ở góc độ doanh nghiệp, ông Lê Trần Minh Huy – Trưởng Ban quản lý cụm công nghiệp Uyên Hưng (trực thuộc Công ty Cổ phần Lâm sản và Xuất nhập khẩu Tổng họp Bình Dương) cũng nêu một số khó khăn trong quá trình thực hiện dự án Cụm công nghiệp Uyên Hưng (thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).

Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cụm công nghiệp bền vững

Hội nghị về cơ chế, chính sách phát triển cụm công nghiệp có sự tham dự của đông đảo đại diện các Bộ, ngành và trên 30 địa phương khu vực miền Trung, Tây Nguyên và phía Nam

Cụ thể, theo quy định pháp luật áp dụng đối với Cụm công nghiệp Uyên Hưng thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất thông qua Hội đồng giải tỏa đền bù, tuy nhiên trên thực tế các hộ còn lại không thực hiện được theo phương án giải tỏa đền bù đã duyệt, Hội đồng bồi thường đã vận dụng chính sách lãi suất trượt giá và nhiều lần cùng cơ quan chức năng vận động các hộ dân nhưng không có hộ nào đồng thuận.

Dự án Cụm công nghiệp Uyên Hưng được thực hiện trãi qua nhiều thời kỳ thay đổi của các quy định về pháp luật. Việc điều chỉnh diện tích cụm công nghiệp dưới 75ha phải đảm bảo cơ cấu sử dụng đất theo đúng như quy định của pháp luật hiện hành. Trong khi đó, Cụm công nghiệp Uyên Hưng đã đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật theo các quy định tại thời điểm phê duyệt dự án, và đã đi vào hoạt động ổn định. Điều nay gây khó khăn về công tác điều chỉnh quy hoạch của dự án.

Khi thực hiện điều chỉnh diện tích cụm công nghiệp dưới 75ha, phát sinh nhiều khó khăn về pháp lý do hiện chưa có hướng dẫn giải quyết các thủ tục phát sinh khi điều chỉnh giảm diện tích đối với phần đất đã thực hiện bồi thường cũng như gây khó khăn cho các nhà đầu tư thứ cấp (đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài) khi phải điều chỉnh lại hồ sơ pháp lý liên quan.

Bên cạnh đó, dự án Cụm công nghiệp Uyên Hưng có nhiều trường hợp hộ dân không đồng ý giải tỏa bồi thường, gây nên hiện trạng da beo, đất nằm xen kẹt giữa dự án Cụm công nghiệp Uyên Hưng. Trường hợp này vẫn chưa có hướng giải quyết triệt để, dẫn đến việc doanh nghiệp không thể thi công hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng đúng như quy hoạch được phê duyệt từ đó không được các cơ quan chức năng nghiệm thu hạ tầng toàn dự án của Cụm công nghiệp Uyên Hưng. Điều này dẫn đến công ty không thể khai thác đầu tư các quỹ đất còn lại.

Từ những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình xây dựng, phát triển các cụm công nghiệp các đại diện các sở ngành, doanh nghiệp đã có nhiều đề xuất, kiến nghị các giải pháp phù hợp với thực tiễn, nhằm hoàn thiện khung pháp lý về phát triển cụm công nghiệp hiệu quả và bền vững.

Hoàn thiện khung pháp lý – phát triển cụm công nghiệp bền vững

Phát biểu kết luận hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân - khẳng định: Nghị định 68, Nghị định 66 đã góp phần thúc đẩy phát triển cụm công nghiệp, giúp công tác quản lý bài bản và hiệu quả hơn. Từ đó, tạo động lực cho phát triển ngành công nghiệp nói chung và tiểu thủ công nghiệp nói riêng. Song trong quá trình thực thi, có một số nội dung phát sinh từ sự chồng chéo giữa các băn bản quy phạm pháp luật, thực tiễn và những tồn tại từ lịch sử, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung 2 nghị định trên.

Tháo gỡ vướng mắc, hoàn thiện khung pháp lý để phát triển cụm công nghiệp bền vững
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân, phát biểu kết luận hội nghị

“Bộ Công Thương sẽ tổng hợp tất cả các ý kiến đóng góp của các đại biểu, hoàn thiện Báo cáo đánh giá 5 năm triển khai thực hiện Nghị định số 68/2017 và 2 năm thực hiện Nghị định số 66/2020, báo cáo Thủ tướng, Chính phủ một cách toàn diện nhất, đầy đủ nhất” - Thứ trưởng Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân cam kết.

Đồng thời, Thứ trưởng Bộ Công Thương cũng thông tin một số điểm cơ bản về công tác quy hoạch, thực thi, chọn chủ đầu tư, vấn đề ưu đại đầu tư, chuyển đổi công tư… trong định hướng sửa đổi Nghị định Nghị định 68 và 66.

Theo đó, về công tác quy hoạch sẽ cố gắng tích hợp đồng bộ và đơn giản hoá tối đa thủ tục hành chính hoặc thực hiện một cửa liên thông để giải quyết. “Trong tinh thần khi xây dựng Nghị định mới chúng tôi kiến nghị Chính phủ giao về cho địa phương tự chủ hoàn toàn về quy hoạch các cụm công nghiệp”- Thứ trưởng thông tin.

Liên quan đến chọn chủ đầu tư, trong nghị định mới sẽ tích hợp toàn bộ các quy trình các thủ tục làm sao một quy trình và thủ tục. Đối với vấn đề ưu đại, hỗ trợ, sẽ cụ thể hóa luôn trong Nghị định mới. Không nói chung chung, trách sự hiểu sai, hiểu nhầm của các cơ quan khác nhau...

Nghị định mới thay thế Nghị định 66 và Nghị đinh 68 hướng tới phát triển cụm công nghiệp bài bản, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Cùng với đó tận dụng ưu thế địa phương, sử dụng hiệu quả cao nhất tài nguyên đất, trong đó ưu tiên thu hút các ngành nghề có hàm lượng công nghệ cao. “Dự kiến kế hoạch xây dựng Nghị định mới thay thế Nghị định 68/2017 và 66/2020 trình lên Thủ tướng, Chính phủ tháng 6/2023 để có thể thông qua trong năm 2023” - Thứ trưởng Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh.

Minh Khuê
https://congthuong.vn/thao-go-vuong-mac-hoan-thien-khung-phap-ly-de-phat-trien-cum-cong-nghiep-ben-vung-226366.html
 
“Dọn đường” đón nhà đầu tư

Với chiến lược ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông có tính liên kết cao, Quảng Ninh đã và đang tạo sức hút lớn với các nhà đầu tư nước ngoài.

Nguồn vốn FDI đổ vào tỉnh năm 2021 đạt trên 1 tỷ USD, gấp gần 3 lần năm trước đó.

Điểm “hạ cánh” lý tưởng

9 tháng năm 2022, tỉnh Quảng Ninh cấp mới, điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 13 dự án FDI, tổng vốn là 186,2 triệu USD. Như vậy đến nay, trên địa bàn tỉnh có 153 dự án FDI đang hoạt động, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 10,31 tỷ USD. Trong đó có 91 dự án tại các khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế(KKT) với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 4,36 tỷ USD (cả dự án đầu tư hạ tầng KCN); 62 dự án ngoài KCN, KKT với trên 5,95 tỷ USD vốn đầu tư.

Tiêu biểu như tại KCN Sông Khoai có dự án công nghệ tế bào quang điện Jinko Solar PV Việt Nam, vốn đầu tư gần 500 triệu USD; dự án công nghệ tấm Silic Jinco Solar Việt Nam, vốn đầu tư trên 365 triệu USD. Tại KCN Đông Mai có dự án nhà máy sản xuất thiết bị gia dụng, xe đạp điện Multi Sunny Việt Nam, vốn đầu tư 10 triệu USD; dự án nhà máy Lioncore Việt Nam, vốn 30 triệu USD. Haytại KCN Cảng biển Hải Hà có dự án nhà máy may số 2 của Công ty TNHH May mặc Hoa Lợi Đạt Việt Nam, vốn đầu tư 8 triệu USD; dự án khoa học kỹ thuật bảo vệ môi trường Texhong giai đoạn 1 có số vốn gần 30 triệu USD.

“Dọn đường” đón nhà đầu tư

Mới đây, ngay tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng Ninh năm 2022 với chủ đề “Quảng Ninh hội tụ và lan tỏa”, hai nhà đầu tư lớn đã ký kết biên bản ghi nhớ, cam kết đầu tư hơn 1,7 tỷ USD vào Quảng Ninh. Trong đó, Công ty CP Hóa dầu Stavian Quảng Yên cam kết đầu tư vào KCN Bắc Tiền Phong của DEEP C để triển khai dự án sản xuất hạt nhựa polypropylene (PP) với vốn đầu tư 1,5 tỷ USD. Nhà đầu tư thứ hai là Công ty Vietnam Investment Q Limited (thuộc Công ty TNHH Indochina Kajima Development, liên doanh giữa Indochina Capital và Tập đoàn Kajima, Nhật Bản) đã ký kết thỏa thuận giữ đất (7,6ha tại Lô đất CN5, KCN Bắc Tiền Phong) với DEEP C, để xây dựng phát triển hệ thống nhà xưởng và nhà kho xây sẵn, với vốn đầu tư dự kiến 23,9 triệu USD.

Ngoài ra, cũng có 3 dự án khác được trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ngay tại hội nghị với tổng vốn hơn 68,7 triệu USD. Trong đó, giấy chứng nhận đầu tiên được trao cho Công ty TNHH Phát triển công nghiệp BW Bắc Tiền Phong với Dự án Phát triển công nghiệp BW Bắc Tiền Phong CN2.1C, tổng mức đầu tư 20,5 triệu USD để xây dựng phát triển hệ thống nhà xưởng, nhà kho xây sẵn chất lượng cao và hiện đại tại KCN Bắc Tiền Phong. Tiếp theo là Dự án Kho Jinko Solar Việt Nam (Jinko 3) của Công ty TNHH Công nghiệp Jinko Solar (Việt Nam) tại KCN Sông Khoai, tổng mức đầu tư 35,56 triệu USD. Cuối cùng là Dự án đầu tư Khu nhà ở xã hội tại phường Đông Mai, TX Quảng Yên do Công ty Jinko Solar Việt Nam thực hiện, với tổng mức đầu tư gần 12,65 triệu USD...

Ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng giao thông

Chiến lược phát triển của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian tới sẽ vẫn là ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông có tính liên kết cao, hạ tầng các KKT, KCN, hạ tầng cảng biển và dịch vụ cảng biển để tạo ra trung tâm kết nối dịch vụ, giao thông quốc tế, nhằm tạo bàn đạp thu hút đầu tư ngoài nhà nước để hoàn thiện hạ tầng cảng biển và dịch vụ cảng biển tại một số khu vực trọng tâm có nhiều tiềm năng như: Con Ong - Hòn Nét, Hải Hà, Vạn Ninh, Nam Tiền Phong...

9 tháng năm 2022, tỉnh đã đón tiếp 32 đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc. Trong đó có 23 đoàn là các nhà đầu tư, doanh nghiệp đến tìm hiểu cơ hội đầu tư tại địa phương, tăng 77% so với cùng kỳ năm 2021. Tiêu biểu như: Đoàn Đại sứ quán Anh và Tập đoàn BP; đoàn Công ty Autoliv và đối tác Navigos, CBRE; đoàn Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam; đoàn Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Quảng Ninh (VAFIE); đoàn các tập đoàn, doanh nghiệp, nhà đầu tư thuộc Hội đồng tư vấn kinh doanh APEC tại kỳ họp ABAC 3...Điều đó cho thấy, sức hấp dẫn của tỉnh Quảng Ninh với các nhà đầu tư, doanh nghiệp là rất lớn.

Nhà máy sản xuất tấm Silic Jinko Solar tại khu công nghiệp Sông Khoai, thị xã Quảng Yên
Nhà máy sản xuất tấm Silic Jinko Solar tại khu công nghiệp Sông Khoai, thị xã Quảng Yên

“Chúng tôi rất cẩn trọng khi chọn một địa điểm đầu tư và Quảng Ninh chính là điểm đến hội tụ mọi yêu cầu của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Hệ thống giao thông kết nối tốt, đặc biệt tại các khu công nghiệp là những điểm mạnh để các doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư vào Quảng Ninh thời gian tới”- ông Bruno Jaspaert - Giám đốc điều hành KCN DEEP C, chia sẻ.

Để tăng cường liên kết vùng, kết nối khu vực, Quảng Ninh đang tiếp tục hoàn thiện thủ tục đầu tư, dự kiến khởi công trong quý III/2021 đường ven sông nối cao tốc Hạ Long - Hải Phòng với TX. Đông Triều, dài 41,2km, tổng mức đầu tư trên 9.400 tỷ đồng. Tuyến đường này có vai trò quan trọng trong mạng lưới giao thông đối ngoại, đối nội, đồng thời là trục phát triển không gian, kết nối các đô thị quan trọng trên hành lang kinh tế phía Tây của tỉnh. Đồng thời đánh thức tiềm năng, lợi thế to lớn mà mỗi địa phương đang sở hữu, giữ vai trò động lực, hạt nhân mới thúc đẩy tăng trưởng phía Tây cũng như hạt nhân đô thị Hạ Long; tạo động lực thúc đẩy sự phát triển, tăng sức hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư...

Ông Soichi Inoue (Công ty TNHH Marubeni Việt Nam): Với những nhà đầu tư lớn đã chọn Quảng Ninh là nơi "hạ cánh", thì sức hút mạnh nhất là sự rõ ràng và minh bạch trong chính sách, tốc độ xử lý công việc của các cấp chính quyền, cũng như cơ sở hạ tầng giao thông ngày càng đồng bộ.
Tiến Dũng - Thùy Lan
https://congthuong.vn/don-duong-don-nha-dau-tu-225939.html
 
 
« Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối »

Trang 1 trong tổng số 52

Hình ảnh hoạt động

  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Dành cho quảng cáo



Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay527
mod_vvisit_counterHôm qua969
mod_vvisit_counterTrong tuần1496
mod_vvisit_counterTuần trước3663
mod_vvisit_counterTrong tháng9468
mod_vvisit_counterTháng trước0
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ915123

Khách trực tuyến: 13
IP của bạn: 3.229.117.149
Hôm nay 29 tháng 11 năm 2022