Tin tức sự kiện
Quảng Ninh: Quản lý, phát triển cụm công nghiệp

Ngay sau khi Nghị định số 68/2017/NĐ-CP về Quản lý, phát triển cụm công nghiệp (Nghị định 68) được ban hành, Sở Công Thương Quảng Ninh đã triển khai công tác tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn văn bản này, giúp UBND các huyện, doanh nghiệp (DN) trên địa bàn nắm bắt và thực thi nghị định.


Sớm hướng dẫn thực hiện

Theo đó,Sở Công Thương Quảng Ninhđã gửi văn bản tới các Sở, ngành, UBND huyện, hiệp hội và DN công nghiệp trên địa bàn tỉnh để tuyên truyền, đăng tải nội dung Nghị định 68 trên cổng thông tin điện tử của tỉnh. Chủ động xây dựng Dự thảo Quy chế phối hợp quản lý cụm công nghiệp (CCN). Tích cực phối hợp với các đơn vị liên quan thanh tra, kiểm tra chủ đầu tư xây dựng hạ tầng CCN về thực hiện dự án đầu tư trong cụm; chấp hành các quy định pháp luật… Qua đó, kịp thời tháo gỡ vướng mắc cho các nhà đầu tư cấp 1 và thứ cấp trong CCN. Hàng năm, Sở Công Thương đều làm việc trực tiếp với những địa phương có CCN đã thành lập trên địa bàn để hướng dẫn công tác quản lý nhà nước về CCN.

Đầu tư vào CCN1

Cụm công nghiệp Hà Khánh (Quảng Ninh) thu hút đầu tư cơ sở hạ tầng

Theo ông Phạm Quang Thái - Phó giám đốc Sở Công Thương Quảng Ninh, nhờ tích cực triển khai Nghị định 68, công tác quản lý CCN trên địa bàn tỉnh khá thuận lợi, thu hút đáng kể DN đầu tư hạ tầng kỹ thuật cũng như doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kinh doanh vào CCN. Quy hoạch phát triển CCN tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Sở Công Thương chủ trì xây dựng và trình UBND tỉnh cũng đã được phê duyệt. Trên cơ sở quy hoạch này, Quảng Ninh xây dựng và ban hành các chính sách hỗ trợ hấp dẫn, phát huy hiệu quả kinh tế của CCN, đóng góp vào sức tăng trưởng kinh tế - xã hội chung của tỉnh.

Điều chỉnh chính sách phù hợp

Ông Phạm Quang Thái cho biết, Nghị định 68 ra đời đã kịp thời khắc phục những lỗ hổng trong công tác quản lý CCN; tạo hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ; quy định rõ vai trò của các cơ quan ở địa phương; làm cơ sở cho cơ quan quản lý, chủ đầu tư hạ tầng và các đơn vị liên quan chấp hành đúng quy định của nhà nước về quản lý, phát triển CCN.

Tuy nhiên, một số quy định trong Nghị định 68 chưa phù hợp với thực tế và thống nhất với các văn bản quy phạm pháp lý khác, gây khó cho công tác triển khai cũng như quản lý CCN. Cụ thể, quy định về điều kiện thành lập CCN mới có nêu, “trong trường hợp địa bàn cấp huyện đã thành lập CCN thì tỷ lệ lấp đầy trung bình của các CCN đạt trên 50% hoặc tổng quỹ đất công nghiệp cho thuê của các CCN nhỏ hơn 50ha”. Theo quy định trên, CCN được thành lập trước phải triển khai thực hiện xây dựng hoàn thiện hạ tầng, thu hút đầu tư lấp đầy hoặc thỏa mãn điều kiện trên thì mới thành lập được CCN mới.

Nghị định 68 cũng quy định: Trong trường hợp 1 CCN có nhiều DN cùng đề nghị làm chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, căn cứ năng lực tài chính, kinh nghiệm của từng DN và mức độ khả thi của báo cáo đầu tư…, sở Công Thương báo cáo UBND cấp tỉnh quyết định lựa chọn chủ đầu tư; Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với các sở, ngành báo cáo UBND tỉnh quyết định lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật CCN… Những quy định này không phù hợp với Luật Đầu tư, gây khó cho công tác phối hợp quản lý CCN cũng như cấp giấy chứng nhận đầu tư cho DN.

Những vướng mắc trên khiến Quảng Ninh đang gặp khó trong triển khai Nghị định 68, đồng thời ảnh hưởng tới việc thu hút đầu tư phát triển CCN trên địa bàn. Do đó, Cục Công Thương địa phương cần xem xét, đề xuất các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các quy định trên cho phù hợp hơn với thực tế.n

Theo Quy hoạch phát triển CCN tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trên địa bàn tỉnh sẽ có 20 CCN. Hiện, tỉnh đã thành lập, mở rộng được 6 CCN với tổng diện tích trên 292ha.

 

Nguồn: congthuong.vn

 
Hiệu quả từ việc sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời

Hiện nay, việc tiết kiệm năng lượng đang là một yêu cầu tất yếu phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Trong đó, sử dụng năng lượng mặt trời được xem là giải pháp hữu hiệu, mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Bởi vậy, bình nước nóng năng lượng mặt trời đã và đang được người dân, doanh nghiệp tỉnh Thái Bình tin dùng.


Binh nuoc nong

Sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời giúp tiết kiệm điện năng

Bình nước nóng năng lượng mặt trời là sản phẩm hoạt động rất an toàn. Đây là thiết bị không dùng điện mà sử dụng ánh sáng mặt trời được thu qua ống nhiệt thủy tinh chân không hoặc tấm thu nhiệt, rồi biến đổi quang năng thành nhiệt năng để đun nóng nước. Do vậy, sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời sẽ có ưu điểm là không tốn điện, luôn có nước nóng, độ bền cao và chi phí bảo trì thấp. Hiệu quả, tiện ích đem lại rất tốt. Tuy vậy trước đây, nhiều người dân tỉnh Thái Bình từng hoài nghi về những ưu điểm của bình nước nóng năng lượng mặt trời. Họ phân vân rằng: Bình nước nóng năng lượng mặt trời có thực sự tốt? Giá cả đắt đỏ? Độ bền ra sao? Liệu bình nước nóng năng lượng mặt trời có hoạt động được vào ban đêm, những ngày âm u, mưa bão hay không? Cách lắp đặt và sử dụng bình nước nóng có phức tạp?         

Trước những hoài nghi đó, từ năm 2014, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Thái Bình đã phối hợp với Phòng Kinh tế - Hạ tầng các huyện, thành phố trong tỉnh tổ chức các buổi tuyên truyền về lợi ích khi sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời. Cùng với các biện pháp tuyên truyền và nguồn kinh phí của Bộ Công Thương, UBND tỉnh, Trung tâm đã hỗ trợ kinh phí cho hàng trăm hộ dân tại các huyện Đông Hưng, Hưng Hà, Quỳnh Phụ… khi mua và lắp đặt bình nước nóng năng lượng mặt trời với mức 500.000 đồng/hộ. Từ đó, chương trình đã góp phần làm thay đổi nhận thức về sử dụng năng lượng tiết kiệm của người dân trong tỉnh.

Ông Nguyễn Công Xuyên (xóm Bắc Sơn, xã Quỳnh Thọ, huyện Quỳnh Phụ) - một trong những hộ dân được thụ hưởng lợi ích từ chương trình cho biết: “Sau khi lắp đặt và sử dụng hệ thống bình nước nóng năng lượng mặt trời một thời gian, chúng tôi thấy thiết bị thật hữu dụng và mang lại hiệu quả không ngờ. Nhà tôi có 5 người, trước đây, gia đình tôi sử dụng bình nước nóng Ariston 30 lít. Với loại bình này, chỉ tính riêng tiền điện, mỗi tháng, gia đình tôi đã phải chi trả từ 350.000 đến 400.000 đồng. Từ ngày chuyển sang dùng bình nước nóng năng lượng mặt trời, tiền điện sử dụng trong nhà đã giảm được 100.000 đồng/tháng. Với nguồn nước nóng này, chúng tôi không những dùng để tắm gội, rửa bát, nấu cơm mà còn dùng vào nhiều việc khác rất tiện lợi. Do đó, lượng điện năng tiêu thụ được tiết kiệm triệt để. Đặc biệt, sau khi thấy tính hiệu quả của việc sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời nên các hộ gia đình lân cận đã sắm cho mình một bộ phù hợp với nhu cầu sử dụng...”.

Gia đình bà Nguyễn Thị Đường (thôn Nứa, xã Liên Hiệp, huyện Hưng Hà) chia sẻ: “Từ ngày được Trung tâm Khuyến công tỉnh Thái Bình tuyên truyền, hướng dẫn, tôi đã nhận thức được tầm quan trọng của việc tiết kiệm năng lượng. Bởi vậy, năm 2015, gia đình tôi đã chi 6,5 triệu đồng để lắp đặt bình nước nóng năng lượng mặt trời loại 140 lít. Mặc dù chi phí ban đầu khá cao so với thu nhập của gia đình, nhưng qua sử dụng, hàng tháng, gia đình chúng tôi đã tiết kiệm được rất nhiều tiền điện. Không những thế, trong nhà lúc nào cũng sẵn nước nóng để dùng, kể cả những lúc mất điện…”.         

Trao đổi với phóng viên, ông Hà Văn Hải - Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Thái Bình nhấn mạnh: “Bình nước nóng năng lượng mặt trời có độ bền sử dụng liên tục từ 12 - 15 năm, số ngày sử dụng hiệu quả từ 280 - 300 ngày/năm. Đặc biệt, dùng sản phẩm này sẽ không lo chập điện và cháy thiết bị… Để nâng cao ý thức và nhân rộng ứng dụng của bình nước nóng năng lượng mặt trời tới đông đảo người dân hơn nữa, thời gian tới, Trung tâm Khuyến công và các ngành chức năng trong tỉnh sẽ tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn, tư vấn giới thiệu về thiết bị bình nước nóng năng lượng mặt trời công nghệ cao. Đồng thời, Trung tâm cũng tiếp tục triển khai tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để vận động, hỗ trợ nhân dân nâng cao hiểu biết, lựa chọn và sử dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng hiệu quả...”.         

Có thể nói, việc tiết kiệm năng lượng là một nhu cầu tất yếu trong sinh hoạt, sản xuất và đời sống nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phục vụ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước một cách bền vững. Chính vì vậy, sử dụng bình nước nóng năng lượng mặt trời đã góp phần tiết kiệm điện năng trong mỗi cơ quan, hộ gia đình, giảm bớt phụ tải cho ngành Điện. Đồng thời, nâng cao chất lượng cuộc sống và cùng toàn xã hội chung tay bảo vệ môi trường.

Nguồn: http://www.congnghieptieudung.vn/

 
Quảng Ninh: Gỡ khó công tác khuyến công

Mặc dù đã đầu tư nguồn lực lớn cho công tác khuyến công, tuy nhiên trong quá trình triển khai, Quảng Ninh vẫn gặp nhiều khó khăn và cần sự hỗ trợ hơn nữa để bảo đảm thực hiện hiệu quả chương trình.


Theo đại diện Sở Công Thương Quảng Ninh, để tham gia bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu (CNNTTB) cấp khu vực và quốc gia, các sản phẩm phải được bình chọn theo 4 cấp: Huyện, tỉnh, khu vực và quốc gia. Tuy nhiên, Quảng Ninh có ít sản phẩm CNNT nên rất khó tìm được sản phẩm đủ tiêu chuẩn tham gia bình chọn. Mặt khác, nguồn kinh phí khuyến công địa phương của tỉnh được cấp trong những năm qua thấp so với nhu cầu đăng ký. Do đó, phải xem xét, lựa chọn, phân bổ cho các cơ sở, doanh nghiệp tại địa bàn và ngành nghề cần ưu tiên.

quang-ninh-go-kho-cong-tac-khuyen-cong

Nhiều đề án khuyến công tỉnh Quảng Ninh được hỗ trợ thực hiện hiệu quả

Cùng đó, Quảng Ninh đang thực hiện Đề án “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; tinh giảm bộ máy, biên chế”. Theo đó, các đơn vị sự nghiệp phải dần tự chủ kinh phí hoạt động và thực hiện cơ chế đặt hàng với UBND tỉnh. Năm 2015 và 2016, Quảng Ninh cấp 50% kinh phí chi thường xuyên cho Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh. Từ năm 2017, tỉnh không cấp kinh phí chi thường xuyên, trung tâm phải tự chủ 100% chi phí. Do vậy, việc đặt hàng với UBND tỉnh để tạo việc làm và thu nhập ổn định cho cán bộ, nhân viên trung tâm thời gian tới rất khó khăn.

Để tháo gỡ những vướng mắc trên, đồng thời giúp trung tâm thực hiện và hoàn thành đầy đủ 9 nội dung của hoạt động khuyến công, đại diện Sở Công Thương Quảng Ninh đề xuất: Bộ Công Thương cho phép tỉnh được lựa chọn các sản phẩm đoạt giải từ Hội thi Sáng tạo khoa học - kỹ thuật để tham gia bình chọn sản phẩm CNNTTB cấp khu vực. Bộ Công Thương, Bộ Tài chính xem xét và ban hành danh mục, định mức kỹ thuật đề án/nhiệm vụ khuyến công nằm trong danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước phải thực hiện đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo quy định.

Ngoài ra, Sở Công Thương cũng đã chủ động xây dựng nhiều giải pháp khắc phục khó khăn, hoàn thành hiệu quả chương trình khuyến công của tỉnh. Theo đó, tập trung hỗ trợ đào tạo nghề; xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật; các sản phẩm chủ lực. Nắm bắt thông tin về công nghệ, sản phẩm, thị trường, thiết bị sản xuất để cung cấp và tư vấn cho các cơ sở sản xuất CNNT. Tăng cường bám sát cơ sở, tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai đầu tư sản xuất, từ đó có những biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời.

Sở Công Thương Quảng Ninh cũng phối hợp cùng các cơ quan liên quan xây dựng chương trình, đề án khuyến công cụ thể, phù hợp với điều kiện của địa phương và gắn với Chương trình mỗi xã, phường một sản phẩm. Kết nối tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của tỉnh vào hệ thống các siêu thị, trung tâm thương mại và doanh nghiệp sản xuất lớn trên địa bàn tỉnh. Giảm thiểu việc xây dựng chương trình, đề án dàn trải, nhỏ lẻ; tăng cường xây dựng những đề án mang tính liên kết; nhân rộng các đề án khuyến công điển hình, hiệu quả.

Năm 2018, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ninh được giao 16 đề án khuyến công. Hiện, phần lớn các đề án đã hoàn thành với kết quả tốt.

Nguồn: congthuong.vn

 

 
Xử lý ô nhiễm không khí trong KCN Việt Hưng

Nằm ở phường Việt Hưng (TP Hạ Long) và có vị trí tiếp giáp với thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, Khu công nghiệp (KCN) Việt Hưng được Chính phủ cho phép thành lập, đầu tư với diện tích tối đa là 300,1ha, được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn I là 179,76ha được triển khai từ năm 2006 trong thời hạn 50 năm và chủ đầu tư hạ tầng hiện nay là Công ty CP Phát triển KCN Việt Hưng. Các ngành, nghề khuyến khích đầu tư vào KCN là: Công nghiệp lắp ráp, chế tạo cơ khí, nội thất tàu thuỷ; sản xuất vật liệu xây dựng; chế biến các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản; sản xuất hàng tiêu dùng và một số ngành công nghiệp khác.


Xu ly o nhiem KCN Viet Hung 1

Hạ tầng giao thông nội bộ và hệ thống cây xanh trong KCN Việt Hưng đã và đang được đầu tư hoàn thiện.

Đến nay, Công ty CP Phát triển KCN Việt Hưng đã đầu tư với tổng số vốn là 230 tỷ đồng. Hiện tại, Công ty đã cho 7 doanh nghiệp thuê lại đất và 1 nhà đầu tư ký hợp đồng nguyên tắc thực hiện dự án trên 12 lô đất với tổng diện tích là 28,2ha. Cùng với việc đầu tư kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất, Công ty cũng luôn chú trọng đến việc thực hiện hạng mục bảo vệ môi trường. Cụ thể, doanh nghiệp đã quy hoạch trạm xử lý nước thải có quy mô 1.800-2.000m3/ngày đêm. Hiện nay, tại đây có trạm xử lý nước thải với quy mô 300 m3/ngày đêm đảm bảo thu gom, xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh của các dự án đang hoạt động trong khu vực. Công ty hoàn thành việc lắp đặt trạm quan trắc tự động nước thải, truyền dữ liệu trực tiếp, liên tục về Sở TN&MT. Mặt khác, doanh nghiệp cũng chủ động đầu tư hệ thống cây xanh, đường giao thông nội bộ tương đối hoàn thiện...

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, do gặp một số vướng mắc, nên tại KCN Việt Hưng vẫn còn một số tồn tại, hạn chế nhất định liên quan đến thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường dẫn đến có các kiến nghị của cử tri. Đặc biệt, cử tri thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ và phường Việt Hưng, TP Hạ Long đã đề nghị tỉnh quan tâm chỉ đạo có giải pháp đảm bảo công tác bảo vệ môi trường KCN Việt Hưng do thời gian qua, Nhà máy sản xuất nến tại đây hoạt động gây ô nhiễm không khí cho khu dân cư sinh sống xung quanh.

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Trần Đăng Chiều, Phó Giám đốc Công ty CP Phát triển KCN Việt Hưng, khẳng định: Những kiến nghị của cử tri liên quan đến việc ô nhiễm không khí của Nhà máy sản xuất nến là hoàn toàn chính đáng. Nhà máy này thuộc Công ty TNHH MTV Nến nghệ thuật AIDI Việt Nam. Doanh nghiệp này đi vào sản xuất từ tháng 6/2016 với dây chuyền 9 máy phun sơn, cốc. Bình quân mỗi tháng, doanh nghiệp sơn, phun khoảng 700.000-800.000 chiếc cốc với thành phẩm khoảng 500-600 tấn sáp, nến và nguyên liệu sử dụng khoảng 700-800kg sơn...

Cũng theo ông Trần Đăng Chiều thì thực hiện kiến nghị giám sát của Đoàn ĐBQH tỉnh tiến hành hồi tháng 8/2018 là yêu cầu doanh nghiệp điều chỉnh phương án thu gom nước sản xuất tại khu vực rửa cốc đựng nến; thực hiện đúng quy định về quản lý chất thải nguy hại và giải pháp xử lý khí thải, mùi trong quá trình sản xuất của dự án trước khi xả ra môi trường, đến nay, Công ty TNHH MTV Nến nghệ thuật AIDI Việt Nam đã triển khai thực hiện các giải pháp để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường như kiến nghị của đoàn kiểm tra. Cụ thể là về điều chỉnh phương án thu gom nước sản xuất tại khu vực rửa cốc đựng nến, Công ty đã tiến hành đấu nối nước thải phát sinh từ khu vực rửa cốc nến vào hệ thống thu gom, xử lý nước thải chung của KCN Việt Hưng; về thực hiện quy định quản lý chất thải nguy hại, doanh nghiệp đã tiến hành cải tạo lại kho lưu trữ chất thải nguy hại đảm bảo theo đúng quy định hiện hành. Còn về giải pháp xử lý khí thải, mùi trong quá trình sản xuất nến trước khi xả ra môi trường, Công ty đã ký hợp đồng với đơn vị nhà thầu để cải tạo lại hệ thống xử lý hơi sơn hiện trạng, nâng cao chức năng hệ thống hút gió, dùng thử các sản phẩm sơn thân thiện với môi trường, từ đó giảm thiểu tác động của khí thải ra môi trường. Hiện tại, trong quá trình cải tạo hệ thống xử lý khí thải, Công ty sẽ hạn chế tối đa quy mô sản xuất, đảm bảo không phát tán nguồn khí thải gây ảnh hưởng môi trường...

Xu ly o nhiem KCN Viet Hung 2

Hệ thống quạt gió xử lý khí thải mới được Công ty TNHH MTV Nến nghệ thuật AIDI Việt Nam đầu tư góp phần giảm ô nhiễm không khí phát tán ra khu dân cư.

Trò chuyện với một số người dân sinh sống gần KCN Việt Hưng về tình trạng ô nhiễm không khí do việc sản xuất nến gây ra, chúng tôi đã nhận được những nhận xét tương đối đồng thuận. Anh Nguyễn Văn Tạm, trú tại tổ 3, khu Vạn Yên, phường Việt Hưng, cho biết: Trước đây, khí thải từ Nhà máy sản xuất nến phát tán ra rất khó chịu, nhưng nay cũng đã thấy đỡ hơn rất nhiều... Còn chị Nguyễn Thị Thảo, trú tại tổ 4, khu Vạn Yên thì đề nghị: Mặc dù hiện tại tình hình ô nhiễm không khí đã được cải thiện, nhưng chúng tôi mong muốn rằng các cơ quan chức năng cần yêu cầu doanh nghiệp xử lý triệt để tình trạng này. Đặc biệt là cần phải thường xuyên kiểm tra, giám sát nhằm tránh tình trạng khắc phục nửa vời, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của nhân dân sinh sống quanh khu vực.

 Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Đầu tư vào CCN: Vì sao doanh nghiệp chưa "mặn mà"?

Cụm công nghiệp (CCN) không chỉ phục vụ cho việc di dời cơ sở tiểu thủ công nghiệp ra khỏi khu dân cư mà còn phát triển ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp theo hướng tập trung, thúc đẩy kinh tế địa phương, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, việc thu hút đầu tư vào CCN còn gặp nhiều khó khăn.


Đầu tư vào CCN1

Sau nhiều năm, tổng mức đầu tư CCN Hà Khánh tăng từ 159 tỷ đồng theo phê duyệt dự án đã lên tới gần 300 tỷ đồng. 

Hiện nay, toàn tỉnh đã có 7 CCN được thành lập. Trong đó, 3 CCN (Kim Sen, Hà Khánh, Nam Sơn) đã đi vào hoạt động, 1 CCN (Cẩm Thịnh) đang triển khai xây dựng hạ tầng, 1 CCN (Hoành Bồ) chuẩn bị đầu tư, 2 CCN (Quang Hanh, Phương Đông - Phương Nam) chưa có nhà đầu tư. Con số trên cho thấy số CCN đã được đưa vào hoạt động còn rất khiêm tốn. Đáng chú ý, tất cả các CCN đã đi vào hoạt động đều được triển khai đầu tư từ rất lâu như: CCN Kim Sen từ năm 2007, CCN Hà Khánh năm 2010, CCN Nam Sơn năm 2015. Điều này cho thấy để đầu tư cơ sở hạ tầng CCN đảm bảo hoạt động đòi hỏi doanh nghiệp mất nhiều thời gian.

Chi phí đầu tư hạ tầng CCN là rất lớn. Đơn cử như CCN Hà Khánh, sau nhiều năm, chủ đầu tư mới cơ bản hoàn thành các hạng mục hạ tầng kỹ thuật của CCN, nhưng tổng mức đầu tư trên 159 tỷ đồng theo phê duyệt dự án đã lên tới gần 300 tỷ đồng. Hay như CCN Nam Sơn, tính đến nay, tổng kinh phí đã đầu tư các hạng mục hạ tầng cơ bản như: Giải phóng mặt bằng, xây dựng 3 tuyến đường bê tông, vỉa hè, cây xanh, tường rào... là trên 101,2 tỷ đồng. 

Thời gian đầu tư dài, kinh phí lớn... khiến cho việc đầu tư cơ sở hạ tầng CCN chưa đồng bộ. Điển hình như CCN Nam Sơn, hiện hệ thống điện ngoài hàng rào chưa được đầu tư; chưa hoàn thiện sân, đường gom ngoài hàng rào thuộc tỉnh lộ 329 gây khó khăn cho kết nối giao thông. 

Việc thu hút doanh nghiệp thứ cấp vào hoạt động tại CCN còn nhiều khó khăn. Hiện, toàn tỉnh chưa có CCN nào đạt tỷ lệ lấp đầy 90%. Bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Giám đốc Chi nhánh Công ty CP Hoàng Thái tại huyện Ba Chẽ, cho biết: Đầu tư vào CCN Nam Sơn nói riêng và CCN nói chung, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều khó khăn. Chi phí giải phóng mặt bằng, hỗ trợ di dời, xây dựng cơ sở hạ tầng rất lớn.

Thời gian đầu tư dài, thu hồi vốn chậm, giao thông không thuận lợi. Việc thu hút đầu tư thứ cấp đối với các địa phương vùng sâu, vùng xa… gặp nhiều khó khăn hơn do điều kiện kinh tế không có nhiều lợi thế cạnh tranh, số lượng doanh nghiệp nói chung và cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nói riêng còn ít. Ngoài là đơn vị vừa đầu tư xây dựng và quản lý vận hành hạ tầng CCN, vừa xây dựng Kho bảo quản, lưu trữ kết hợp khu xử lý thực phẩm, hiện CCN mới chỉ có 3 nhà đầu tư thứ cấp là Công ty CP Thủy sản Ba Chẽ, Công ty TNHH MTV Hàng xuất khẩu ANT, Công ty CP Hoàng Hưng HT.

Đầu tư vào CCN2

TP Cẩm Phả cắm mốc giới bàn giao mặt bằng cho Công ty CP Công nghiệp Cẩm Thịnh triển khai xây dựng hạ tầng CCN Cẩm Thịnh.Ảnh: Nguyễn Cường (CTV)

Nguyên nhân khác khiến việc thu hút đầu tư vào CCN gặp nhiều khó khăn là do trước năm 2016 từ trung ương đến địa phương đều chưa có chính sách riêng hỗ trợ. Cùng với đó, ngày 2/3/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 07/CT-TTg yêu cầu tạm dừng việc bổ sung quy hoạch, thành lập, mở rộng CCN trên cả nước. Đến năm 2015, Văn phòng Chính phủ, Bộ Công Thương mới có văn bản phê duyệt kết quả rà soát, thông báo quy hoạch danh mục CCN nên CCN mới được thành lập, quy hoạch chi tiết, đầu tư xây dựng hạ tầng.

Còn theo ý kiến của nhiều doanh nghiệp thì chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển CCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2017-2020 theo Nghị quyết số 48/2016/NQ-UBND chưa phù hợp. Trong đó, mức hỗ trợ cho doanh nghiệp triển khai các hạng mục còn tương đối thấp so với thực tế. Cụ thể, hỗ trợ không quá 10 tỷ đồng chi phí đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, không quá 100 triệu đồng cho dự án đầu tư thứ cấp chi phí đào tạo, xúc tiến thương mại, xây dựng nhà xưởng...

Để được hưởng cơ chế này thì doanh nghiệp phải ứng vốn đầu tư ít nhất 3 năm để giải phóng mặt bằng, san gạt, hoàn thiện hạng mục đầu tư hạ tầng kỹ thuật. Khi đã hoàn thiện xong, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện về thủ tục, thiết kế, hồ sơ thì sẽ được tỉnh hỗ trợ, trong khi đó vốn đầu tư cho hạng mục nêu trên là không nhỏ. Nghị quyết chỉ có hiệu lực trong thời gian tương đối ngắn là 3 năm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ rà phá bom, lập quy hoạch phân khu, hạ tầng kỹ thuật dùng chung… nhưng không hỗ trợ chi phí giải phóng mặt bằng. Trong khi đó, chi phí giải phóng mặt bằng chiếm kinh phí không nhỏ.

Những vướng mắc từ thực tế khiến cho các CCN khó khăn không chỉ trong việc thu hút đầu tư cơ sở hạ tầng mà cả doanh nghiệp thứ cấp, do đó, như CCN Quang Hanh dù được thành lập từ năm 2015 song đến nay vẫn chưa có nhà đầu tư.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Sản xuất công nghiệp tăng trưởng ở mức cao nhất

Năm 2018 ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc của chỉ số sản xuất công nghiệp Quảng Ninh (ước tăng 9,15%) gấp gần 3 lần so với mức tăng của năm 2017, là mức tăng trưởng cao nhất trong những năm gần đây.


SX CN tăng trưởng mức cao

Sản lượng của hầu hết các sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong lĩnh vực chế biến, chế tạo tăng mạnh.(Trong ảnh: Sản xuất tại Công ty TNHH Dầu thực vật Cái Lân).

Duy trì đà tăng trưởng của những năm nước, năm 2018 chỉ số sản xuất công nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng ở mức cao với 2 con số, ước tăng 12,73% so với năm 2017. Đây là lĩnh vực có mức tăng trưởng cao nhất trong 4 lĩnh vực công nghiệp.

Có được kết quả này là nhờ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến, chế tạo trong và ngoài nước trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, sản phẩm tạo được sức cạnh tranh, thị trường tiêu thụ được mở rộng. Một số sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong lĩnh vực chế biến, chế tạo tăng mạnh như: Dầu thực vật ước đạt 276.000 tấn, tăng 12,6%; bột mì ước đạt 389.000 tấn, tăng 16,12%; bia các loại ước đạt 30,6 triệu lít, tăng 12,5% so với cùng kỳ...

Sự tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang dẫn dắt tăng trưởng chung của toàn ngành trong năm 2018. Đồng thời, tiếp tục từng bước trở thành động lực chính thúc đẩy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Điều này là kết quả bước đầu cho định hướng của Quảng Ninh trong việc phát triển công nghiệp bền vững, tăng hàm lượng khoa học công nghệ, chuyển đổi phương thức từ “nâu” sang “xanh”.

SX CN tăng trưởng mức cao 1

Hệ thống tuabin phát điện của Công ty CP Nhiệt điện Cẩm Phả.

Trái lại với năm 2017, năm nay ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ của ngành khai khoáng với mức tăng trưởng ước đạt 6,7%. Sản lượng than sạch ước đạt 38,2 triệu tấn, tăng 6,8% so với năm 2017; than sạch xuất khẩu ước đạt 2 triệu tấn, tăng 40,3%; giá trị sản xuất của công nghiệp khai thác mỏ ước đạt 54.356 tỷ đồng, tăng 6,34%. 

Sở dĩ, chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2018 tăng mạnh là nhờ sự tăng trưởng đồng đều ở cả 4 ngành: Chế biến, chế tạo; khai khoáng; sản xuất, phân phối điện, khí đốt và cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải. Trong đó, sản xuất điện thương phẩm của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh ước đạt 29,1 tỷ kWh, tăng 7,5% so với năm 2017. Nguyên nhân là bởi năm nay cả nước đối mặt với các đợt nắng nóng liên tục, nhiệt độ trung bình tăng cao, rét muộn, do đó nhu cầu sử dụng điện của các doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân tăng cao.

SX CN tăng trưởng mức cao 2

Kiểm tra sản phẩm ngói không nung tại Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền (TX Đông Triều).

Hơn nữa, từ đầu năm đến nay, lượng mưa trên cả nước tương đối thấp đã tạo điều kiện cho các nhà máy nhiệt điện tích cực sản xuất. Thêm vào đó, tổ máy số 1 với công suất 300MW của Nhà máy Nhiệt điện Thăng Long đã đưa vào phát điện thương mại làm tăng sản lượng điện trên địa bàn tỉnh cũng như góp phần bổ sung năng lượng.

Có được kết quả nêu trên, bên cạnh sự đồng hành của tỉnh, các sở, ngành và địa phương, nhất là trong việc kịp thời trao đổi, lắng nghe, tháo gỡ vướng mắc thì các doanh nghiệp cũng chủ động đầu tư công nghệ, mở rộng thị trường, đẩy mạnh tiêu thụ. Như Công ty CP Xi măng Cẩm Phả đã đầu tư dây chuyền công nghệ silo với phần mềm quản lý ERP; Công ty CP Cơ khí mỏ và Đóng tàu TKV ký kết hợp đồng liên doanh với Công ty Đóng tàu STCC (Nga) thực hiện đóng tàu composite; Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền đầu tư dây chuyền sản xuất ngói không nung cao cấp phục vụ thị trường xuất khẩu... qua đó, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng sản xuất công nghiệp, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu năm 2018, thúc đẩy kinh tế địa phương./.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Áp dụng SXSH giúp doanh nghiệp giảm hơn 10% chi phí sản xuất

Sản xuất sạch hơn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn cả lợi ích về mặt môi trường. Sản xuất sạch hơn giúp doanh nghiệp cải thiện hiệu suất sản xuất; sử dụng nguyên liệu, nước, năng lượng có hiệu quả hơn; đồng thời tái sử dụng phần bán thành phẩm có giá trị và giảm ô nhiễm. Bên cạnh đó, sản xuất sạch hơn sẽ giúp giảm chi phí xử lý và thải bỏ các chất thải rắn, nước thải, khí thải; từ đó cải thiện sức khỏe nghề nghiệp và và an toàn cũng như tạo nên hình ảnh doanh nghiệp tốt hơn.


Nhiều năm qua, sản xuất sạch hơn đã trở thành một trong những chiến lược quan trọng của ngành công nghiệp cả nước nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng. 

hiều năm qua, sản xuất sạch hơn đã trở thành một trong những chiến lược quan trọng của ngành công nghiệp cả nước nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng. SXSH GIAM 10

Ảnh minh họa

Tỉnh Đắk Lắk phấn đấu đến năm 2020, 90% cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh nhận thức được lợi ích của sản xuất sạch hơn trong công nghiệp; 50% cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh áp dụng sản xuất sạch hơn; các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn tiết kiệm được từ 8-13% mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trên đơn vị sản phẩm; 90% doanh nghiệp lớn có bộ phận chuyên trách và cán bộ chuyên trách được đào tạo về sản xuất sạch hơn trên địa bàn tỉnh có đủ năng lực hướng dẫn, tư vấn, hỗ trợ áp dụng sản xuất sạch hơn cho các cơ sở sản xuất công nghiệp.

Nhằm từng bước giúp doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp cận với công nghệ sản xuất sạch hơn cũng như khuyến khích thêm nhiều doanh nghiệp áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn, trong thời gian vừa qua, Trung tâm Khuyến công và  Tư vấn Phát triển công nghiệp Đắk Lắk đã tổ chức nhiều chương trình nhằm nâng cao nhận thức về sản xuất sạch hơn cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Cụ thể, năm 2018, Trung tâm Khuyến công đã tổ chức lớp tập huấn về áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp và phổ biến tuyên truyền chính sách khuyến công trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk cho đối tượng là cán bộ quản lý nhà nước, lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn. 

Thông qua lớp tập huấn, các học viên nắm bắt được việc áp dụng liên tục các biện pháp quản lý sản xuất, giải pháp kỹ thuật, công nghệ nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu chất thải, tăng cường hiệu quả sử dụng tài nguyên, hiệu quả sản xuất kinh doanh của cơ sở sản xuất công nghiệp. Khóa tập huấn cũng giúp học viên hiểu được các lợi ích của sản xuất sạch hơn, từ đó giúp các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh tiếp cận và bước đầu làm quen với công nghệ sản xuất sạch hơn. 

Toàn tỉnh Đắk Lắk hiện có trên 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề như: Chế biến nông lâm nghiệp; sản xuất vật liệu xây dựng; khai thác và chế biến,…Thực tế, từ khi áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp, một số doanh nghiệp đã giảm được trên 10% chi phí sản xuất và 15-20% các chất thải ô nhiễm…, góp phần bảo vệ môi trường, tạo tiền đề để đưa ngành công nghiệp của tỉnh phát triển bền vững.

Nguồn: http://www.sxsh.vn/

 

 
Quảng Ninh: Siết chặt công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp cụm công nghiệp

(TN&MT) -Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 5 KCN và 3 CCN đã đi vào hoạt động. Việc thu hút các nhà đầu tư vào các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) trong thời gian qua đã tạo ra hàng vạn việc làm cho người lao động và góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ninh. Song bên cạnh những kết quả đạt được, Quảng Ninh đang đối mặt với những bất cập, tồn tại về vấn đề bảo vệ môi trường trong các KCN, CCN trên địa bàn.


QN BVMT 1

Trạm xử lý nước thải tập trung tại KCN Việt Hưng (TP Hạ Long).

Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh, trên địa bàn tỉnh hiện có 5 KCN (Cái Lân, Hải Yên, Đông Mai, Việt Hưng, Cảng biển Hải Hà - giai đoạn 1) có 94 dự án còn hiệu lực (9 dự án hạ tầng KCN, 1 dự án hạ tầng về cảng biển và 84 dự án đầu tư thứ cấp); 3 CCN là Kim Sen, Hà Khánh và Nam Sơn có 135 dự án. Cả 5 KCN đều có trạm xử lý nước thải tập trung, đảm bảo thu gom, xử lý toàn bộ nước thải phát sinh từ các dự án thứ cấp. Tuy nhiên, mới chỉ có 3 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung đã đầu tư hệ thống quan trắc tự động theo quy định, còn lại 2 KCN vẫn chưa lắp đặt hệ thống này.

Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng một số nhà đầu tư thứ cấp chưa thực hiện đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung trong KCN mà xả thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên, gây ô nhiễm môi trường. Điều đáng nói là, tại 3 CCN đang hoạt động, mới có duy nhất CCN Hà Khánh (TP. Hạ Long) đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung với quy mô 1.500m3/ngày đêm. Còn lại 2 CCN Kim Sen (TX. Đông Triều) và CCN Nam Sơn (huyện Ba Chẽ) chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung.

QN BVMT2

Công nhân làm việc tại Công ty TNHH Khoa học Kỹ thuật Texhong Ngân Long (KCN Hải Yên, TP.Móng Cái).

Về cơ bản các KCN đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, đảm bảo thu gom toàn bộ nước thải phát sinh của KCN. Nước thải được các nhà đầu tư thứ cấp xử lý sơ bộ sau đó đấu nối về trạm xử lý chung để tiếp tục xử lý; chất lượng nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.

Tại KCN Cái Lân, giai đoạn I, được Công ty CP Xi măng và xây dựng Quảng Ninh xây dựng trạm xử lý nước thải quy mô 2.000m3/ngày đêm từ năm 2002 và đến nay vận hành ổn định, công suất khoảng 500-700m3/ngày đêm, đảm bảo thu gom, xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh.

Còn lại các KCN cũng đã đầu tư xây dựng trạm thu gom, xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh của các dự án đang hoạt động. Riêng KCN Đông Mai (TX. Quảng Yên), chủ đầu tư hạ tầng KCN này đang chuẩn bị đầu tư Dự án đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải giai đoạn I, công suất 1.100m3/ngày đêm.

Hiện 5 KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đều đã có trạm thu gom, xử lý nước thải. Tuy nhiên, theo kết quả kiểm tra của ngành chức năng, vẫn còn một số dự án hoạt động trong các KCN còn xảy ra vi phạm pháp luật về môi trường, nhất là các đơn vị, doanh nghiệp thứ cấp như: Công ty TNHH Tiên Đồng, Công ty TNHH Hóa học thế kỷ mới, Công ty TNHH Sợi hóa học thế kỷ mới (KCN Cái Lân) sai phạm: nước thải không được thu gom, xử lý triệt để, chất thải nguy hại không được thu gom, xử lý triệt để, kho xử lý chất thải nguy hại cũng không đảm bảo tiêu chuẩn.

Chủ đề công tác năm 2018 của tỉnh Quảng Ninh đặt ra là “Bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường tự nhiên”, vì vậy, Sở TN&MT các ngành chức năng cần tăng cường công tác kiểm tra giám sát, tập trung vào các nhà đầu tư thứ cấp tại các KCN thực hiện các giải pháp xử lý, giảm thiểu phát sinh khí thải gây ô nhiễm theo báo cáo đánh giá tác động môi trường được duyệt. Bởi hiện nay, trong các KCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có một số dự án phát sinh khí thải, nước thải công nghiệp, cụ thể như: Nhà máy Dầu thực vật Cái Lân, dự án sản xuất hợp kim wolfram xuất khẩu, nhà máy sản xuất sợi hóa học thế kỷ mới tại KCN Cái Lân; nhà máy sản xuất dầu (DMC) và silicone tại KCN Hải Yên; dự án gia công nguyên liệu và tinh chế đất hiếm, dự án xây dựng nhà máy chế biến dăm gỗ nguyên liệu giấy xuất khẩu tại KCN Việt Hưng...

Đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, yêu cầu các nhà đầu tư thứ cấp phải thực hiện nghiêm việc đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung trong KCN, CCN, cũng như lắp đặt hệ thống quan trắc tự động để truyền dữ liệu về trung tâm của Sở Tài nguyên và Môi trường, xử lý chất thải rắn theo quy định.  

Cùng với việc việc kêu gọi, thu hút các nhà đầu tư vào KCN, CCN, tỉnh Quảng Ninh cần quan tâm đầu tư kết cấu hạ tầng đồng bộ, cũng như tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các đơn vị, doanh nghiệp sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, cũng như xử lý nghiêm đối với những trường hợp vi phạm nhằm đảm bảo môi trường xanh- sạch- đẹp thân thiện với môi trường.

Nguồn: www.baotainguyenmoitruong.vn

 
TP Cẩm Phả: Phát triển công nghiệp theo hướng tập trung

Với mục tiêu phát triển công nghiệp theo hướng tập trung, thời gian qua TP Cẩm Phả đã chú trọng các giải pháp nhằm di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp ra khỏi khu dân cư, góp phần ổn định sản xuất kinh doanh, bảo vệ môi trường. 


tp CAM PHA 1Lãnh đạo TP Cẩm Phả khảo sát thực địa mặt bằng CCN Cẩm Thịnh trước khi bàn giao cho Công ty CP Công nghiệp Cẩm Thịnh đầu tư.Ảnh: Bảo Long (Trung tâm TT-VH Cẩm Phả)

Xác định hình thành các cụm công nghiệp (CCN) là cơ sở quan trọng để di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư, từ năm 2014, UBND TP Cẩm Phả đã quy hoạch 4 CCN trên địa bàn, gồm: CCN Bắc Quang Hanh, CCN Cẩm Thịnh, CCN Mông Dương và CCN Dương Huy. Năm 2015, UBND tỉnh đã ra quyết định thành lập 2 CCN là Cẩm thịnh, Bắc Quang Hanh và thu hút nhà đầu tư cho 2 CCN này. Đầu tháng 11 vừa qua, UBND TP Cẩm Phả đã bàn giao 48,9ha mặt bằng cho Công ty CP Công nghiệp Cẩm Thịnh triển khai dự án xây dựng CCN Cẩm Thịnh (trên địa bàn 2 phường Cẩm Phú và Cẩm Thịnh), CCN đầu tiên được triển khai xây dựng trong hệ thống 4 CCN được TP Cẩm Phả quy hoạch.

Vốn là đơn vị doanh nghiệp được đánh giá có tiềm lực, ngay sau lễ bàn giao mặt bằng, Công ty CP Công nghiệp Cẩm Thịnh đã tập trung thiết bị máy móc, nhân lực để xây dựng hạ tầng theo thiết kế, cam kết đưa CCN vào hoạt động từ cuối quý I/2019, trước tiến độ UBND tỉnh giao 3 tháng. Theo ông Hoàng Hồng Quân, Trưởng Phòng Kinh tế thành phố, đây là tín hiệu mừng để TP Cẩm Phả phát triển công nghiệp theo hướng tập trung, là nền tảng để sớm hiện thực hóa mục tiêu di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp ra ngoài khu dân cư, một trong những vấn đề nhức nhối nhiều năm qua của thành phố, qua đó đảm bảo môi trường và sự phát triển bền vững trên địa bàn.

tp CAM PHA 2

Cơ sở chế biến gỗ dân dụng tại phường Cẩm Thành thuộc diện di dời vào các CCN.

Qua báo cáo rà soát mới nhất của Cẩm Phả, toàn thành phố hiện còn 229 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nằm trong khu dân cư, chủ yếu là các cơ sở sản xuất, chế biến lâm sản, gỗ, mộc dân dụng; sản xuất, gia công cơ khí; giết mổ gia súc, gia cầm; thu gom phế liệu; kinh doanh, sản xuất vật liệu xây dựng... Tất cả có đặc thù hoạt động sản xuất gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và cuộc sống người dân.

Từ đầu năm đến nay, TP Cẩm Phả đã xử phạt 84 cơ sở sản xuất trên địa bàn vì vi phạm quy định về môi trường với tổng số tiền 447 triệu đồng, trong đó quá nửa là các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nằm xen kẽ trong dân, thuộc diện buộc phải di dời. Riêng đối với các cơ sở thu gom phế liệu, 2 năm gần đây thành phố đã rà soát, kiểm tra và triển khai thu hồi 107 giấy phép kinh doanh đã cấp do không đảm bảo các điều kiện theo quy định, trong đó buộc 11 cơ sở ngừng sản xuất, 7 cơ sở chuyển đổi nghề.

tp CAM PHA 3

Đơn vị chức năng TP Cẩm Phả kiểm tra một cơ sở thu mua phế liệu tại phường Mông Dương.Ảnh: Thành Công

Để phát triển ổn định, lâu dài, hiện hầu hết các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư trên địa bàn TP Cẩm Phả đã nhất trí thuê đất, di dời đến các CCN phù hợp khi CCN đi vào hoạt động. Cụ thể, trong 229 cơ sở thuộc danh mục di dời, có 2 cơ sở không đăng ký nhu cầu thuê đất là Cơ sở chế biến gỗ của ông Trần Văn Sơn và Cơ sở gia công sắt của ông Nguyễn Đức Hùng (ở phường Cẩm Thành); 17 cơ sở cam kết tự chuyển đổi nghề và 15 cơ sở cam kết ngừng hoạt động, số còn lại đều đã chuẩn bị di dời.

Hiện nay, TP Cẩm Phả đang tiếp tục duy trì các giải pháp nhằm triển khai quyết liệt, hiệu quả việc di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp ra khỏi khu dân cư, chú trọng hình thành các CCN theo quy hoạch nói chung.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Hà Nội phấn đấu 50% DN phân phối áp dụng sản xuất sạch hơn đến năm 2020

Ngày 31/10/2018, UBND TP Hà Nội ban hành Kế hoạch số 206/KH-UBND về hành động thực hiện Chương trình sản xuất và tiêu dùng bền vững thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2020.


Kế hoạch hướng tới mục tiêu thúc đẩy hành động sản xuất và tiêu dùng bền vững nhằm đảm bảo phát triển nhanh, hiệu quả; đồng thời thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững theo hướng tiếp cận vòng đời sản phẩm, đẩy mạnh liên kết trong các khâu của vòng đời sản phẩm.

Theo Kế hoạch, thành phố phấn đấu tỷ lệ đóng góp của các ngành công nghiệp xanh, công nghiệp môi trường, tái chế chất thải trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt từ 42% đến 45%; Khoảng 50% các doanh nghiệp trong lĩnh vực phân phối có nhận thức, được hướng dẫn, áp dụng các giải pháp về sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng.

Ha Noi

Ảnh minh họa

Đồng thời, giảm tỷ lệ sử dụng bao bì khó phân hủy tại các chợ dân sinh và các siêu thị, trung tâm thương mại đạt từ 50% đến 65%; Tỷ lệ các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp áp dụng đổi mới công nghệ theo hướng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường đạt từ 60% đến 70%.

Góp phần đạt chỉ tiêu quốc gia, phấn đấu tỷ lệ chất thải được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng hoặc sản xuất phân hữu cơ đối với chất thải được thu gom đối với: Chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 85%, chất thải rắn công nghiệp đạt 75%, chất thải rắn xây dựng đạt 50%.

Phấn đấu 100% các doanh nghiệp tham gia chuỗi sản xuất cung ứng nông sản, thực phẩm an toàn trên địa bàn Thành phố ứng dụng hệ thống thông tin điện tử sử dụng mã QR truy xuất nguồn gốc, minh bạch thông tin đến người tiêu dùng.

Kế hoạch cũng nêu lên các nội dung thực hiện như tuyên truyền nâng cao nhận thức về sản xuất, tiêu dùng bền vững các sản phẩm thay thế nhựa và túi nilon trên địa bàn Thành phố Hà Nội; Tập huấn chuyên đề nâng cao nhận thức, năng lực của doanh nghiệp về hoạt động sản xuất và tiêu dùng bền vững; Phổ biến triển khai mô hình kinh doanh xanh, kết nối lĩnh vực phân phối - dịch vụ bền vững.

Đánh giá tiềm năng thị trường và khả năng cung ứng, phân phối các sản phẩm thân thiện với môi trường của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn Thành phố; Đánh giá cơ hội cạnh tranh, tham gia vào mạng lưới sản xuất và tiêu dùng bền vững toàn cầu đối với ngành công nghiệp hỗ trợ có sản phẩm tham gia xuất khẩu trên địa bàn Thành phố.

Sở Công Thương chủ trì, phối hợp các Sở, ngành; UBND các quận, huyện thị xã và các đơn vị, tổ chức liên quan xây dựng, triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình sản xuất và tiêu dùng bền vững thành phố Hà Nội giai đoạn đến 2020; Hàng năm, xây dựng Kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện; Dự toán kinh phí thực hiện theo quy định.

Các sở, ban, ngành Thành phố; UBND các quận, huyện, thị xã có trách nhiệm huy động các nguồn vốn kết hợp với ngân sách hỗ trợ để đảm bảo thực hiện Kế hoạch…

Nguồn: http://www.sxsh.vn/

 

 

 
Nghị định 68/2017/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý phát triển cụm công nghiệp

Đây là ý kiến của Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng tại Hội thảo đánh giá 1 năm triển khai thực hiện Nghị định số 68/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp được Bộ Công Thương tổ chức vào chiều 30/10 vừa qua.


Nghị định 68

Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng phát biểu khai mạc Hội thảo

Tại Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng khẳng định, sau hơn 1 năm triển khai thực hiện Nghị định tại các Bộ, ngành và các địa phương đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Cụ thể, Nghị định số 68 đã tạo hành lang pháp lý, chính sách quản lý, phát triển cụm công nghiệp (CCN) thống nhất, rõ ràng từ công tác quy hoạch, thành lập, mở rộng CCN đến đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và sản xuất kinh doanh trong CCN, làm cơ sở cho các cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương, các doanh nghiệp (DN) và đơn vị liên quan chấp hành chủ trương, quy định của Nhà nước về phát triển CCN. Trong đó, một số chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển CCN đã thể hiện sự quan tâm, hỗ trợ của Chính phủ đối với phát triển CCN, nhất là phát triển DN vừa và nhỏ. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc… cần có giải pháp cụ thể và sự vào cuộc của các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, tháo gỡ kịp thời.

 Theo báo cáo đánh giá chung tình hình triển khai thực hiện Nghị định 68 một năm qua của Cục Công Thương địa phương, việc phát triển CCN đã góp phần thu hút đầu tư phát triển công nghiệp ở địa phương theo định hướng quy hoạch; đã có chuyển biến tích cực trong việc thu hút các DN, nhà đầu tư tiềm năng ở các lĩnh vực, ngành nghề có lợi thế, tạo ra giá trị gia tăng cao. Thông qua hoạt động sản xuất của các DN trong CCN cũng đã thúc đẩy nhanh chóng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của các địa phương. Các CCN làng nghề đã góp phần tích cực di dời các DN, cơ sở gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường…

 Để có được kết quả đó cũng là nhờ Bộ Công Thương cùng các Bộ ngành liên quan đã chủ động, kịp thời chủ trì, phối hợp xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định, tổ chức các hội nghị phổ biến, quán triệt tới các địa phương để triển khai thực hiện và thực hiện tốt các nội dung, quy định. Bên cạnh đó, các địa phương cũng đã khẩn trương phổ biến, tuyên truyền, triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư hạ tầng, phát triển CCN; công tác quy hoạch, thành lập, đầu tư hạ tầng và quản lý CCN ngày càng được nhận thức đúng mức, tổ chức thực hiện theo trình tự, quy định của pháp luật.

 Cũng trong khuôn khổ Hội thảo, đại diện Sở Công Thương một số tỉnh/thành phố như: Hà Nội, Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Hà Tĩnh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Thuận, Long An, Tiền Giang... đã chia sẻ những vấn đề thực tế trong quá trình triển khai Nghị định, những khó khăn, vướng mắc, đề xuất giải pháp tiếp tục thực hiện, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền./.

Nguồn: http://www.congnghieptieudung.vn/

 
Vai trò và chính sách về sử dụng tiết kiệm năng lượng và hiệu quả của Quảng Ninh

Thực hiện Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả số 50/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010; Nghị định số 21/2011/NĐ- CP ngày 29/3/2011 của Chính phủ Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Chỉ thị số 30/CT- TTg ngày 27/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường kiểm soát dự án đầu tư sử dụng nhiều năng lượng, tài nguyên gây ô nhiễm môi trường,

Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 708/QĐ-UBND ngày 15/3/2016 Phê duyệt chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên đại bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016- 2020.

Theo đó, toàn tỉnh phấn đấu giai đoạn 2016- 2020, tiết kiệm từ 8 - 10% tổng điện năng tiêu thụ so với dự báo nhu cầu năng lượng; ứng dụng rộng rãi trang thiết bị hiệu suất cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ tiết kiệm năng lượng, thay thế dần các trang thiết bị có hiệu suất thấp, tiến tới loại bỏ các trang thiết bị công nghệ lạc hậu. 

Bên cạnh đó, phấn đấu giảm mức tiêu hao năng lượng ít nhất 10% đối với một số nhóm ngành sử dụng nhiều năng lượng; áp dụng quy trình quản lý, vận hành tiên tiến đảm bảo sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong sản xuất, đặc biệt đối với cơ sở sử dụng nhiều năng lượng. 

Đồng thời, đẩy mạnh việc thực hiện tiết kiệm trong các khâu truyền tải, phân phối, kinh doanh và sử dụng điện, phấn đấu giảm tổn thất điện năng xuống từ 5,0- 5,2% vào năm 2020; tổn thất điện năng lưới điện hạ áp khu vực nông thôn xuống 7- 8% (năm 2015 là 10%); 100% các công trình xây dựng mới hoặc cải tạo lại tuân thủ các quy định Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia các công trình xây dựng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Ứng dụng các giải pháp, thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao, tiết kiệm điện nhằm giảm từ 30- 40% tổng mức tiêu thụ điện năng so với dự báo. Đến năm 2020 hoàn thành việc thay thế đèn chiếu sáng công cộng công suất lớn bằng đèn tiết kiệm điện hiện đại tại các tuyến phố trên địa bàn thành phố Hạ Long và một số tuyến phố chính tại trung tâm các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh; đầu tư ứng dụng, lắp đặt thiết bị điều khiển hiện đại, tiết kiệm cho hệ thống chiếu sáng công cộng.

Ngoài ra, phát triển hệ thống giao thông vận tải đáp ứng nhu cầu vận tải với chất lượng ngày càng cao, tiết kiệm nhiên liệu, hạn chế gây ô nhiễm môi trường. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ mới, sử dụng năng lượng tái tạo thay thế nhiên liệu truyền thống trong giao thông vận tải; triển khai dịch vụ hoạt động vận tải khách du lịch bằng xe ô tô điện tại các địa phương: Cô Tô, Vân Đồn, Hạ Long, Móng Cái, Uông Bí, Đông Triều.

Kế hoạch đã đưa ra các nội dung nhằm thực hiện các mục tiêu nói chung, bao gồm: Nâng cao vai trò quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức cộng đồng, thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường dự kiến thực hiện 17 phóng sự, 110 bài viết, 20 hội nghị, hội thảo và 10 hoạt hoạt động ngoại khoá.

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, các công trình tòa nhà và cơ quan, công sở, trong hoạt động giao thông vận tải, trong chiếu sáng công cộng, trong sản xuất nông nghiệp, trong gia đình, trong quản lý và kinh doanh điện.

Là cơ quan thường trực của Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của tỉnh, thời gian qua Sở Công Thương Quảng Ninh đã tổ chức nhiều hoạt động để triển khai chương trình.

 

Sau đây mời quý vị cùng theo dõi Phóng sự  Vai trò và chính sách về sử dụng tiết kiệm năng lượng và hiệu quả của Quảng Ninh - Tập 1, Tập 2, Tập 3

 

TTKC&TVPTCN Quảng Ninh

 

 
Phát triển bền vững ngành Công Thương theo hướng tăng trưởng xanh, phát thải carbon thấp ứng phó với biến đổi khí hậu

Phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo là nhiệm vụ quan trọng góp phần xanh hóa nền kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng có nguồn gốc nhiên liệu hóa thạch hướng đến mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và góp phần giảm phát thải khí nhà kính ứng phó với biến đổi khí hậu.


bao-ve-moi-truong

Cơ chế, chính sách quốc gia về phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu ngành Công Thương giai đoạn 2011-2020

Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 432/TTg ngày 12 tháng 4 năm 2012 với các quan điểm, mục tiêu rõ ràng về phát triển bền vững đất nước, phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường. Khai thác hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo. Phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường, cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học. Hạn chế tác hại của thiên tai, chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng. Trong đó, ngành Công Thương đóng vai trò then quan trọng góp phần thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế bền vững với các nhiệm vụ cụ thể:

- Xây dựng và thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh, đảm bảo phát triển nền kinh tế theo hướng các bon thấp. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Từng bước thị trường hóa giá năng lượng, nâng dần tỷ trọng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo trong tổng tiêu thụ năng lượng ở Việt Nam. Xây dựng hệ thống hạch toán kinh tế môi trường và đưa thêm môi trường và các khía cạnh xã hội vào khuôn khổ hạch toán tài khoản quốc gia (SNA).

- Phát triển bền vững công nghiệp với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm công nghiệp, xây dựng nền “công nghiệp xanh”, ưu tiên phát triển các ngành, các công nghệ, sản phẩm thân thiện với môi trường, đẩy mạnh phát triển công nghệ cao tại các đô thị lớn. Từng bước phát triển ngành công nghiệp môi trường.

- Đẩy mạnh áp dụng rộng rãi sản xuất sạch hơn để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên vật liệu, năng lượng, nước, đồng thời giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, bảo vệ chất lượng môi trường, sức khỏe con người, đảm bảo phát triển bền vững.

- Xây dựng văn hóa tiêu dùng văn minh, hài hòa và thân thiện với thiên nhiên. Từng bước thực hiện dán nhãn sinh thái, mua sắm xanh. Phát triển thị trường sản phẩm sinh thái và sáng kiến cộng đồng về sản xuất và tiêu dùng bền vững. Áp dụng những chính sách điều chỉnh những hành vi tiêu dùng không hợp lý.

Triển khai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và tổ chức thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp tổng thể và chi tiết cho từng lĩnh vực quan trọng nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững theo hướng tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính, thân thiện với môi trường ngành Công Thương giai đoạn 2011-2020, cụ thể:

-Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2035 (Quyết định số 879/QĐ-TTg ngày 09 tháng 6 năm 2014), Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 (Quyết định số 2146/QĐ-TTg ngày 01 tháng 12 năm 2014);

- Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (Quyết định số 76/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2016), Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến 2020 (Quyết định số 1419/QĐ-TTg ngày 07 tháng 9 năm 2009);

- Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả qua các giai đoạn từ 2006-2015;

- Và gần đây nhất là Kế hoạch cơ cấu lại ngành Công Thương giai đoạn 2018-2020, xét đến 2025 phê duyệt tại Quyết định số 598/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó các nhiệm vụ trọng tâm chuyển dịch theo hướng tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu được đề cập như sau:

+ Tăng cường áp dụng hệ thống tổ chức sản xuất tiên tiến và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong sản xuất công nghiệp, gắn sản xuất công nghiệp với bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; sử dụng tài nguyên và năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong sản xuất công nghiệp; xây dựng danh mục các dự án, nhà máy sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao và triển khai theo lộ trình thay thế và loại bỏ dần các thiết bị lạc hậu trong các nhà máy và đóng cửa các nhà máy gây ô nhiễm;

+ Bổ sung và hoàn thiện các chính sách về bảo vệ môi trường đối với một số ngành công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; xây dựng, điều chỉnh và thực hiện hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật trong ngành công nghiệp, môi trường phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam;

+ Thu hút đầu tư phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và năng lượng mới nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đảm bảo thực hiện các mục tiêu về tăng trưởng xanh, giảm thiểu biến đổi khí hậu và cung cấp đầy đủ năng lượng với giá hợp lý, làm động lực phát triển cho các ngành công nghiệp khác.

Một số kết quả phát triển ngành Công Thương theo hướng tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu

Thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ xanh hóa sản xuất, Bộ Công Thương đã triển khai nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả tài nguyên, nguyên, nhiên vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, giảm phát thải các chất gây ô nhiễm môi trường, tạo ra các sản phẩm thân thiện với môi trường. Cụ thể:

Trong giai đoạn 2010 đến nay, các hoạt động sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đã phát hành 86 bản tin và tờ rơi phục vụ công tác tuyên truyền đến các đối tượng có liên quan, công bố 44 tài liệu phục vụ công tác đào tạo, tập huấn về sản xuất sạch hơn cho các chuyên gia, các nhà sản xuất và các nhà quản lý, ban hành 22 Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật cho các ngành/lĩnh vực sản xuất công nghiệp,…các tài liệu này được cập nhật và xây dựng mới thường xuyên và có khả năng ứng dụng thực tế tại các doanh nghiệp, giúp các đơn vị nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm và đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng giai đoạn 2011-2015 được đánh giá đã đạt mục tiêu đề ra, tiết kiệm được 11,262 triệu tấn dầu quy đổi, góp phần quan trọng trong việc giảm tiêu thụ các dạng nhiên liệu hóa thạch, giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực năng lượng trên phạm vi cả nước. Nhận thức của cộng đồng, các doanh nghiệp và toàn xã hội đạt nhiều kết quả quan trọng, thái độ và hành vi của người tiêu dùng cũng như các nhà sản xuất có nhiều chuyển biến rõ rệt, thể hiện rõ trên thị trường các sản phẩm tiết kiệm năng lượng ngày càng được khách hàng tin tưởng, lựa chọn.

Triển khai Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững, Bộ Công Thương đã và đang từng bước xây dựng hệ thống phân phối xanh thông qua hệ thống các trung tâm thương mại, siêu thị lớn trên phạm vi cả nước nhằm thúc đẩy hoạt động quảng bá và phát triển thị trường các sản phẩm thân thiện với môi trường, phát thải carbon thấp. Điều này vừa đáp ứng nhu cầu của thị trường và thỏa mãn sự quan tâm của khách hàng đối với các sản phẩm mới, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.

Đối với các hoạt động sản xuất công nghiệp, Bộ Công Thương đã ban hành các thông tư quy định về định mức tiêu hao năng lượng, mức hiệu suất năng lượng tối thiểu cho các ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng như thép, hóa chất, bia, nước giải khát, công nghiệp sản xuất giấy, nhựa và sẽ tiếp tục hoàn thiện và ban hành các văn bản áp dụng đối với các ngành công nghiệp khác.

Phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo là nhiệm vụ quan trọng góp phần xanh hóa nền kinh tế, giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng có nguồn gốc nhiên liệu hóa thạch hướng đến mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và góp phần giảm phát thải khí nhà kính ứng phó với biến đổi khí hậu. Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ Công Thương đã trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành các văn bản pháp luật và thúc đẩy và tổ chức thực hiện hoạt động phát triển năng lượng tái tạo như Chiến lược quốc gia về phát triển năng lượng tái tạo đến năm 2030, tầm nhìn 2050, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển các dạng năng lượng tái tạo như phát điện từ rác thải, điện sinh khối, điện gió, điện mặt trời, đã ban hành nhiều quy định cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp phát triển các dự án điện tái tạo ở Việt Nam như Hợp đồng mẫu, trình tự, thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch phát triển và sử dụng điện sinh khối,…

Một số thuận lợi, khó khăn và nhiệm vụ, giải pháp phát triển bền vững ngành Công Thương theo hướng tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu

Thuận lợi

Chuyển dịch nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh và phát thải carbon thấp đang là xu thế chung của toàn thế giới. Do đó, các cơ chế, chính sách về phát triển công nghiệp, thương mại ở nhiều quốc gia ngày càng hoàn thiện theo hướng sử dụng hiệu quả năng lượng, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, giảm phát thải khí nhà kính.

Định hướng lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo xuyên suốt của Chính phủ về phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu đã giúp cho quá trình hoàn thiện các cơ chế chính sách, chiến phát triển các ngành/lĩnh vực, đặc biệt là quá trình tái cơ cấu, cơ cấu lại ngành công nghiệp ngày càng đi vào chiều sâu và chất lượng, hiệu quả.

Những thành tựu đạt được trong Chương tình nghị sự Agenda 21 của Việt Nam đã tạo đà cho sự phát triển kinh tế và các ngành, lĩnh vực và có điều kiện kế thừa, phát huy những bài học kinh nghiệm tốt trong giai đoạn phát triển mới.

Sự hỗ trợ có hiệu quả của các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu, đề xuất các cơ chế chính sách về phát triển bền vững đối với lĩnh vực năng lượng và công nghiệp, đồng thời nâng cao năng lực triển khai các nhiệm vụ mới như tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính, xanh hóa sản xuất.

Nhận thức của cộng đồng, doanh nghiệp về những cơ hội, lợi ích của việc triển khai các giải pháp tiết kiệm năng lượng, phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo, sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững ngày càng nâng cao. Thái độ, hành vi của người tiêu dùng về các sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng đã và đang chiếm ưu thế trên thị trường, góp phần định hướng phát triển các nhà sản xuất theo hướng tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính giúp cho quá trình xanh hóa sản xuất thuận lợi hơn.

Khó khăn

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, quá trình xanh hóa sản xuất, giảm phát thải khí nhà kính và hướng đến các mục tiêu phát triển bền vững, ngành Công Thương còn nhiều khó khăn, thách thức như:

Biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, khó lường, đe dọa nghiêm trọng những thành quả phát triển và sự ổn định, bền vững của ngành. Tác động của thiên tai, lũ lụt ở Việt Nam trong những năm gần đây đã gây thiệt hại nặng nề đối với sự phát triển bền vững của ngành Công Thương như cơ sở hạ tầng năng lượng, công nghiệp và thương mại.

Nhận thức của nhiều doanh nghiệp và người dân đối với tầm quan trọng của chiến lược phát triển lâu dài theo hướng phát thải carbon thấp còn hạn chế. Do đó, sự quan tâm, đầu tư công nghệ sạch, phát thải carbon thấp chưa tương xứng với yêu cầu phát triển một cách lâu dài và bền vững của ngành Công Thương.

Nhu cầu về tài chính để thực hiện tăng trưởng xanh vô cùng lớn, trong khi nguồn lực dài hạn cho việc này lại đang rất hạn chế. Các Dự án về tăng trưởng xanh được đánh giá đem lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Tuy nhiên, nhận thức về vấn đề này vẫn còn hạn chế cả ở lĩnh vực tài chính, ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp. Do đó, việc phát triển các dự án về tăng trưởng xanh vẫn chưa đạt như mong muốn.

Việc giảm phát thải khí nhà kính bắt buộc chưa có quy định của pháp luật, các hướng dẫn kỹ thuật của quốc tế và trong nước vẫn chưa được hoàn thiện. Do đó, đây vẫn còn là vấn đề rất mới đối với Việt Nam nói chung và lĩnh vực công nghiệp nói riêng. Do đó, nguồn lực về con người và chuyển giao công nghệ về tăng trưởng xanh chưa được xã hội quan tâm và đầu tư tương xứng.

Những cơ hội và thách thức trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay vẫn là bài toán mở cho các doanh nghiệp Việt Nam quyết định trong việc chuyển dịch sang nền kinh tế carbon thấp, tăng trưởng xanh.

Các cơ chế, chính sách mới về biến đổi khí hậu sẽ tác động không nhỏ đến chiến lược phát triển lâu dài đối với ngành công nghiệp như cơ chế mua bán phát thải carbon, chính sách về dấu vết carbon trong sản xuất và lưu thông hàng hóa trên thị trường, chính sách tài chính toàn cầu về hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch,…

Các nhiệm vụ, giải pháp phát triển ngành Công Thương theo hướng tăng trưởng xanh, phát thải carbon thấp, ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu

Để khắc phục những khó khăn, thách thức nêu trên, tranh thủ các cơ hội mới trong quá trình chuyển dịch nền kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh, phát triển bền vững, ngành Công Thương cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài, cụ thể:

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các cơ chế chính sách của quốc gia, những vấn đề mới như các rào cản kỹ thuật, xu thế phát triển theo hướng phát thải thấp, tăng trưởng xanh của các quốc gia trên thế giới và khu vực, đặc biệt là ở các thị trường lớn có tính dẫn dắt nền kinh tế toàn cầu như Trung Quốc, Mỹ, EU,…

- Nhà nước cần triển khai các cơ chế, chính sách vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính khuyến khích trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính.

- Mở rộng cơ hội tiếp cận các nguồn lực tài chính, chuyển giao công nghệ phát thải thấp, tăng trưởng xanh cho các doanh nghiệp.

- Xây dựng cơ chế chính sách và hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện các nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính thông qua các cơ chế mới về biến đổi khí hậu như mua bán carbon, trao đổi tín chỉ carbon.

- Tổ chức và triển khai có hiệu quả Quyết định số 598/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch cơ cấu lại ngành công nghiệp giai đoạn 2018-2020, xét đến 2025, trong đó một số nhiệm vụ liên quan đến tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường sẽ được triển khai bao gồm:

Tăng cường áp dụng hệ thống tổ chức sản xuất tiên tiến và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong sản xuất công nghiệp, gắn sản xuất công nghiệp với bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; sử dụng tài nguyên và năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong sản xuất công nghiệp; xây dựng danh mục các dự án, nhà máy sản xuất công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao và triển khai theo lộ trình thay thế và loại bỏ dần các thiết bị lạc hậu trong các nhà máy và đóng cửa các nhà máy gây ô nhiễm.

Bổ sung và hoàn thiện các chính sách về bảo vệ môi trường đối với một số ngành công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; xây dựng, điều chỉnh và thực hiện hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật trong ngành công nghiệp, môi trường phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam.

Thu hút đầu tư phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và năng lượng mới nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đảm bảo thực hiện các mục tiêu về tăng trưởng xanh, giảm thiểu biến đổi khí hậu và cung cấp đầy đủ năng lượng với giá hợp lý, làm động lực phát triển cho các ngành công nghiệp khác./.

Theo: http://www.moit.gov.vn/

 
HỘI NGHỊ TẬP HUẤN KHUYẾN CÔNG TẠI TỈNH HÒA BÌNH

Ngày 26/10/2018, Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Hòa Bình tổ chức Hội nghị Tập huấn công tác khuyến công năm 2018.


Hội nghị đã phổ biến những điểm mới, tinh thần mới của các văn bản về khuyến công vừa được Bộ Công Thương và Bộ Tài Chính ban hành, thu hút sự quan tâm của nhiều cán bộ Sở Công Thương, các doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành khu vực phía Bắc.

Trong diễn đàn Hội nghị, cán bộ khuyến công, các doanh nghiệp các tỉnh thành đã được nghe và thảo luận các điểm mới tại một số Thông tư của Bộ Công Thương, Bộ Tài Chính về quy trình xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện các đề án Khuyến công Quốc gia (KCQG); cách thức quản lý kinh phí (tạm ứng, thanh quyết toán) đối với các đề án KCQG; tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, hướng dẫn truy cập, cập nhật cơ sở dữ liệu về công nghiệp địa phương.

Tap huan Hoa Binh

Toàn cảnh hội nghị tập huấn

Phát biểu tại hội nghị ông Ngô Quang Trung - Cục trưởng Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) nhận định: Hoạt động khuyến công là hoạt động hỗ trợ sản xuất, ứng dụng kỹ thuật vào cuộc sống.

Các thông tư sửa đổi là những văn bản pháp lý quan trọng trên cơ sở tiếp tục và kế thừa những nội dung tích cực đã đạt được và khắc phục những bất cập, tồn tại của các văn bản trước đó; đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong hoạt động khuyến công với các điểm mới và nội dung được mở rộng.

Ông Trung cũng cho rằng: “Để công tác khuyến công được triển khai hiệu quả, các doanh nghiệp cần chủ động trong việc tiếp thu nguồn thông tin và đề xuất các chính sách phù hợp”.

Thông qua buổi tập huấn các địa phương, các đơn vị sẽ nắm bắt rõ hơn về cách thức xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, lập, sử dụng và quản lý kinh phí khuyến công; tăng cường năng lực trong việc khảo sát, xây dựng, thẩm định, nghiệm thu, thanh quyết toán các đề án, tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu; nâng cao nhận thức về ý nghĩa vai trò của hoạt động khuyến công. Qua đó, công tác khuyến công sẽ được chuẩn hóa đi vào nề nếp; quy trình triển khai các hoạt động khuyến công được tuân thủ tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương, đơn vị thực hiện nhiệm vụ để hỗ trợ khuyến khích các cơ sở công nghiêp nông thôn đầu tư, phát triển sản xuất có hiệu quả; góp phần đưa chính sách khuyến công tiến thêm những bước dài, đi vào cuộc sống./.

Lê Sỹ Trình

 
Đẩy mạnh đổi mới công tác khuyến công để hội nhập kinh tế quốc tế

Để các hoạt động khuyến công được thực hiện phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa, các cơ sở công nghiệp nông thôn bắt kịp với sự chuyển dịch của nền kinh tế, ngày 25/10, tại Hòa Bình, Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Hòa Bình tổ chức Hội thảo Công tác Khuyến công và các vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế.


Tại hội thảo, các đại biểu đã thảo luận những nội dung về công tác khuyến công tại địa phương, công tác chủ động phòng vệ thương mại của cơ sở công nghiệp nông thôn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, những cơ hội và thách thức với các cơ sở công nghiệp nông thôn trong Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Cơ hội và thách thức đối với cơ sở công nghiệp nông thôn

Trong bối cảnh hiện nay, hội nhập quốc tế toàn cầu diễn ra rất sâu rộng trên toàn thế giới, mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài cho các các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng. Thị trường nước ngoài rất tiềm năng, mang lại nguồn lợi nhuận lớn hơn rất nhiều so với thị trường trong nước. Tuy nhiên điều này dễ khiến cho một số doanh nghiệp Việt chỉ nhằm vào lợi ích kinh tế mà quên đi lợi ích tổng thể.

Hoi thao Hoa Binh

Thực tế cho thấy, đa phần các doanh nghiệp nhỏ và vừa có năng lực tài chính, hoạt động kinh doanh và trình độ khoa học kỹ thuật cũng như khả năng tiếp cận công nghệ còn hạn chế, vì vậy chưa xoay chuyển được mô hình sản xuất kinh doanh để bắt kịp xu thế.

Theo ông Phùng Gia Đức, Điều tra viên thuộc Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), nếu các doanh nghiệp Việt xuất khẩu mà không có chiến lược rõ ràng, xuất khẩu với số lượng quá lớn, xuất khẩu giá quá thấp so với giá thị trường thế giới… sẽ dẫn đến mâu thuẫn về lợi ích đối với các ngành sản xuất trong nước và nước ngoài, khiến chính phủ các nước điều tra và áp dụng thuế phòng vệ thương mại đối với doanh nghiệp Việt Nam.

“Việc này hoàn toàn có thể tránh nếu doanh nghiệp có chiến lược rõ ràng, hiểu về thị trường, có chính sách phù hợp về giá. Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà sản xuất trong nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp cần có sự phối hợp thông tin với cơ quan Chính phủ của Việt Nam, cơ quan đại diện và đối tác nước ngoài” – ông Phùng Gia Đức nhấn mạnh.

Thay đổi để hội nhập

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được kỳ vọng trở thành động lực cho sự phát triển vượt bậc của các doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, công tác khuyến công cần tập trung khai thác các tiềm năng, phát triển công nghiệp khu vực nông thôn nhằm hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn phát triển sản phẩm mới có giá trị kinh tế, thân thiện với môi trường, đồng thời cung cấp các kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế cho các cán bộ làm công tác khuyến công, các doanh nghiệp và cơ sở công nghiệp nông thôn.

Ông Vũ Xuân Khải, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Hòa Bình khẳng định: “Để hội nhập toàn cầu, doanh nghiệp cần nỗ lực thay đổi trình độ quản trị doanh nghiệp, sẵn sàng đón làn sóng công nghệ mới, biến thành động lực phát triển, đem lại lợi ích cho chính doanh nghiệp mình. Bên cạnh đó, đối với người lao động, cần phải nhanh chóng tiếp cận khoa học công nghệ, làm chủ được thiết bị, máy móc, nâng cao năng suất lao động”.

Đặc biệt, doanh nghiệp cần chú trọng đổi mới, cải tiến công nghệ, gia tăng giá trị sản phẩm. Từ đó, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn và các tổ chức cá nhân tham gia quản lý, thực hiện các công tác khuyến công tại các tỉnh, thành phố thuộc khu vực phía Bắc nhanh chóng tiếp cận các kiến thức, chính sách, bắt kịp Cách mạng công nghiệp 4.0.

Bổ sung ý kiến của ông Vũ Xuân Khải, ông Phùng Gia Đức, cho biết: “Các cơ quan quản lý nhà nước đã thường xuyên cập nhật thông tin từ thị trường trong và ngoài nước để cung cấp đến các doanh nghiệp Việt thông qua website của Bộ Công Thương. Bên cạnh đó, nguồn thông tin hữu ích cũng được cung cấp thông qua các buổi tập huấn, hội thảo của Bộ Công Thương, Cục Phòng vệ thương mại, Cục Công Thương địa phương và Sở Công Thương các tỉnh thành... Chính vì vậy, để tiếp cận với nguồn kiến thức, các doanh nghiệp cần chủ động tham khảo các nguồn thông tin chính thống đã được chắt lọc”.

Theo: congthuong.vn

 

 
« Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối »

Trang 1 trong tổng số 17

Hình ảnh hoạt động

  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Dành cho quảng cáo



Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay52
mod_vvisit_counterHôm qua281
mod_vvisit_counterTrong tuần52
mod_vvisit_counterTuần trước2270
mod_vvisit_counterTrong tháng5516
mod_vvisit_counterTháng trước599
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ361579

Khách trực tuyến: 12
IP của bạn: 162.158.79.154
Hôm nay 17 tháng 12 năm 2018