Tin tức sự kiện
Hải Hà: Phát triển công nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh

Với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ, huyện Hải Hà đang có những bước tăng trưởng mạnh trong các hoạt động sản xuất công nghiệp. Điều này cũng đặt ra những yêu cầu về giải pháp bảo vệ môi trường (BVMT) phải được chú trọng hơn bao giờ hết.


Hải Hà phat trien xanh

Công nhân làm việc tại Công ty TNHH May mặc Hoa Lợi Đạt (KCN Cảng biển Hải Hà).

Hiện nay, trên địa bàn Hải Hà có 250 cơ sở sản xuất, khai thác hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; trong đó có 11 cơ sở công nghiệp khai thác, 238 cơ sở công nghiệp chế biến và 1 cơ sở điện, nước. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cơ bản đều sản xuất kinh doanh ổn định góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành công nghiệp địa phương. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này cũng tiềm ẩn những nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tự nhiên. Đây cũng chính là mối quan tâm hàng đầu của cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương hiện nay.

Đối với Khu công nghiệp (KCN) Cảng biển Hải Hà, để kiểm soát các nguồn thải phát sinh, huyện đã yêu cầu các doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về môi trường trong hoạt động dự án: Có các công trình xử lý nước thải, khí thải, chất thải đáp ứng các quy chuẩn môi trường hiện hành; được nghiệm thu hoàn thành và được cấp có thẩm quyền cấp phép hoạt động xả thải mới được đi vào hoạt động chính thức...

Hải Hà phat trien xanh1

Trạm xử lý nước thải tập trung của toàn bộ KCN Cảng biển Hải Hà được đặt tại xã Quảng Điền (huyện Hải Hà).

Đối với các loại chất thải rắn phát sinh từ KCN, các dự án đều có khu lưu trữ tách biệt 2 loại: Thông thường và độc hại, từ đó tiến hành xử lý theo từng loại theo đúng quy định. Huyện còn tăng cường phối hợp với Ban Quản lý khu kinh tế, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng và lực lượng chức năng của tỉnh trong kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác bảo vệ môi trường tại KCN; xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của chủ đầu tư và nhà đầu tư thứ cấp tại đây. Đặc biệt là thường xuyên đôn đốc, hướng dẫn lập, thẩm định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; liên tục ghi nhận ý kiến phản ánh từ cộng đồng dân cư tại 4 xã Quảng Phong, Quảng Điền, Quảng Trung, Phú Hải có nguy cơ bị ảnh hưởng và nằm trong phạm vi ảnh hưởng của công trình xả nước thải vào nguồn nước tại KCN.

Đối với các hoạt động khai thác khoáng sản, huyện chủ trương chú trọng quản lý chặt chẽ trong mọi hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng... Trong đó, yêu cầu trước tiên là thực hiện trình tự thủ tục phê duyệt dự án khai thác khoáng sản theo đúng quy định của Luật BVMT. Các cơ sở, doanh nghiệp xin cấp phép đều phải thực hiện nghiêm việc lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và phương án cải tạo phục hồi môi trường trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định. Đồng thời tiến hành thực hiện ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường.

Cùng với các giải pháp nêu trên, Hải Hà cũng đang làm tốt việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về môi trường để giúp các doanh nghiệp ý thức rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ tăng trưởng xanh bền vững. Đồng thời tăng cường sự tham gia của cộng đồng, chung tay cùng với cấp ủy, chính quyền trong công tác BVMT.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Hội thảo sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả: Trách nhiệm và lợi ích của doanh nghiệp

Sáng 14/8, tại TP Hạ Long, Bộ Công Thương phối hợp cùng UBND tỉnh tổ chức Hội thảo sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả: Trách nhiệm và lợi ích của doanh nghiệp.


Dự hội thảo có các đồng chí: Trịnh Quốc Vũ, Phó Vụ trưởng Vụ Tiết kiệm năng lượng và phát triển bền vững (Bộ Công Thương);  Bùi Văn Khắng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh.

Hoi thao TKNL

Quang cảnh hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, đồng chí Bùi Văn Khắng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, khẳng định, tỉnh Quảng Ninh luôn nhận thức sâu sắc và chia sẻ những khó khăn của ngành năng lượng nói chung, ngành điện nói riêng.

Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương, thời gian qua, tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương, Công ty Điện lực Quảng Ninh tăng cường các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả. Năm 2018, sản lượng điện tiết kiệm toàn tỉnh đạt trên 64 triệu kWh. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, nhất là ở khu vực dịch vụ và công nghiệp - xây dựng, dư địa tiết kiệm năng lượng tại Quảng Ninh còn rất lớn.

Đồng chí mong muốn, qua hội thảo, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn và các cơ quan quản lý nhà nước cùng trao đổi, tìm giải pháp thực hiện hiệu quả các chương trình quốc gia sử dụng năng lượng, tiết kiệm, hiệu quả.

Tại hội thảo, các đại biểu cũng đã tập trung thảo luận những vấn đề về sử dụng năng lượng với các nội dung: Định hướng quốc gia về năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, giai đoạn 2019 - 2030; hiện trạng hệ thống điện quốc gia và những thách thức trong việc cung cấp điện tầm nhìn đến năm 2030; lợi ích từ chương trình điều chỉnh phụ tải (DR); nâng cao trách nhiệm, vai trò của địa phương trong công tác phối hợp tiết kiệm điện và thực hiện chương trình quản lý nhu cầu phụ tải; các giải pháp tiết kiệm điện cho ngành công nghiệp.

Hoi thao TKNL1

Công ty Điện lực Quảng Ninh tổ chức ký kết thỏa thuận tham gia chương trình điều chỉnh phụ tải (DR) với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Nhân dịp này, Công ty Điện lực Quảng Ninh đã tổ chức ký kết thỏa thuận tham gia chương trình điều chỉnh phụ tải (DR) với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, nhằm mục đích thúc đẩy việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Theo: baoquangninh.com.vn

 
Quảng Ninh: Tìm giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ

Mặc dù ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đã và đang là động lực tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, nhưng tại Quảng Ninh đây vẫn là lĩnh vực thiếu và yếu. Thực tế này đang đòi hỏi tỉnh phải có những giải pháp phát triển mạnh mẽ ngành CNHT.  


Chưa đáp ứng nhu cầu

Báo cáo của Sở Công Thương Quảng Ninh cho thấy, tính đến hết năm 2018, trên địa bàn có 78 doanh nghiệp (DN) hoạt động phát triển CNHT. Trong đó, có 15 DN dệt may, 3 DN da giầy, 3 DN điện - điện tử, 3 DN lắp ráp ô tô, 53 DN cơ khí chế tạo và 1DN hỗ trợ cho công nghệ cao.

Theo kết quả khảo sát, trình độ công nghệ của các DN trên địa bàn tỉnh hiện nay còn ở mức thấp. Phần lớn sản phẩm CNHT do các DN sản xuất và cung ứng cho thị trường có chất lượng chưa cao, khả năng cạnh tranh hạn chế so với các sản phẩm cùng loại. Vì thế, rất khó vươn ra xuất khẩu và vẫn chưa đủ đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, chủng loại, mẫu mã, số lượng cho các DN sản xuất trong nước. Đơn cử như lĩnh vực dệt may, hiện công nghiệp sản xuất nguyên, phụ liệu ngành này trên địa bàn tỉnh ít phát triển. Năm 2018, toàn tỉnh có một số DN tham gia sản xuất, tuy nhiên, quy mô nhỏ, phân tán, hoạt động chủ yếu dưới dạng gia công.QN tim giai phap pt CNHT

CNHT ngành dệt may chưa phát triển

liệu và phụ liệu, chưa hình thành các cụm liên kết ngành trong sản xuất CNHT ngành da giầy tại các vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh.

Theo đánh giá khảo sát của Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp – Sở Công Thương Quảng Ninh, tiềm năng phát triển CNHT ở địa phương mới chỉ ở giai đoạn tìm hướng đi, chưa đáp ứng được nhu cầu của các ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp; các DN sản xuất sản phẩm hỗ trợ còn rất ít. Bên canh đó, công nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh yếu kém; sản phẩm hỗ trợ còn nghèo nàn về chủng loại, kiểu dáng, mẫu mã đơn điệu, giá thành cao hơn nhiều sản phẩm cùng loại nhập khẩu; nhân lực phục vụ CNHT chưa đáp ứng được cả về số lượng và chất lượng... Do vậy, ngành CNHT Quảng Ninh chưa thể tham gia chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa toàn cầu.

Ưu tiênphục vụ sản xuất công nghiệp

Để gỡ khó cho ngành CNHT, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 37/KH-UBND ngày 18/2/2019 về triển khai thực hiện chương trình phát triển CNHT trên địa bàn Quảng Ninh giai đoạn 2019-2025. Theo đó, sẽ tập trung đẩy mạnh phát triển sản xuất các sản phẩm CNHT phục vụ sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong nước và hướng tới xuất khẩu, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Phấn đấu đến năm 2020, sản phẩm CNHT trên địa bàn tỉnh đáp ứng khoảng 30%, và đến năm 2025 đáp ứng khoảng 50% nhu cầu sản xuất công nghiệp trong tỉnh.

Ông Nguyễn Duy Tuấn - Giám đốc Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh - cho biết: Để đưa ngành CNHT trên địa bàn đi đúng hướng và đạt được kết quả như mong đợi, trung tâm sẽ từng bước thực hiện kết nối, hỗ trợ DN CNHT trên địa bàn mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, trở thành nhà cung ứng sản phẩm cho khách hàng trong và ngoài nước. Cùng với đó, trung tâm cũng thực hiện kêu gọi xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này và hỗ trợ DN áp dụng hệ thống quản lý, đáp ứng yêu cầu của các chuỗi sản xuất toàn cầu trong quản trị DN, quản trị sản xuất.

Trước mắt, Trung tâm sẽ tập trung hỗ trợ đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của các ngành sản xuất sản phẩm CNHT; nghiên cứu phát triển, ứng dụng chuyển giao và đổi mới công nghệ trong sản xuất linh kiện, phụ tùng, nguyên liệu, vật liệu. Đồng thời, xây dựng và vận hành hiệu quả trang thông tin về CNHT để các DN nắm bắt được thông tin, định hướng đúng đắn trong việc phát triển và hội nhập.

Để thực hiện thành công Kế hoạch phát triển CNHT, hàng năm, Sở Công Thương Quảng Ninh sẽ chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan xây dựng nhiệm vụ, dự toán kinh phí thực hiện Chương trình phát triển CNHT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và gửi Sở Tài chính thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt làm cơ sở triển khai thực hiện.

Nguồn: congthuong.vn

 
Sở Công Thương: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh

Thời gian qua, Sở Công Thương đã có nhiều giải pháp để đảm bảo duy trì, nâng cao điểm số, thứ hạng của các chỉ số Par Index, PCI, DDCI, Sipas… năm 2019.


So CT giai phap nang cao nang luc

Năm 2018, Quảng Ninh đứng đầu toàn quốc về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI. Tuy nhiên, Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp lại giảm sâu về thứ hạng, từ thứ 3 xuống 27, bao gồm 24 chỉ số thành phần, với 5 cơ quan chủ trì phụ trách. Sở Công Thương chủ trì 10 chỉ số thành phần, trong đó có 2 chỉ số tăng điểm; 1 chỉ số giữ nguyên; 7 chỉ số giảm điểm. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành (DDCI) năm 2018 của Sở Công Thương đạt 75,59, tăng 13,3 điểm so với 2017, xếp vị trí thứ 7/21. Chỉ số cải cách hành chính (Par Index) đạt 86,95 điểm, đứng thứ 12/20. Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước của tỉnh (Sipas) đạt 93,43 điểm, xếp thứ 7/20.

Trong năm 2018, Sở Công Thương chủ trì 10 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Tuy nhiên, chỉ có 2 chỉ số tăng điểm, tăng cao nhất là Chỉ số Doanh nghiệp đã sử dụng nhà cung cấp tư nhân cho dịch vụ xúc tiến thương mại, tăng 5%; 1 chỉ số giữ nguyên vị trí là “Số hội chợ thương mại do tỉnh tổ chức"; 7 chỉ số giảm điểm, giảm sâu nhất là chỉ số Doanh nghiệp có ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ xúc tiến thương mại, giảm 30%.

Theo đánh giá của Sở Công Thương, nguyên nhân chủ yếu của sự tăng, giảm chung của các chỉ số là do: Trên địa bàn tỉnh có tới 98,4% số doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ với năng lực quản lý còn nhiều hạn chế, do đó việc khai thác các thông tin liên quan đến công tác hỗ trợ doanh nghiệp còn chưa đáp ứng được; việc phối hợp giữa các cơ quan thực hiện các thủ tục để doanh nghiệp gia nhập thị trường chưa tốt, dẫn đến việc mất thời gian để chính thức đi vào hoạt động; các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tư nhân còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng dẫn đến việc hoạt động không hiệu quả…

Cũng theo kết quả đánh giá chỉ số cải cách hành chính năm 2018 của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, Sở Công Thương đạt 86,95 điểm, đứng thứ 12/20 và thuộc vào nhóm tốt, tăng 1,42 điểm so với năm 2017, tuy nhiên lại bị giảm mất 2 bậc trên bảng xếp hạng. Cụ thể, năm 2018 chỉ số chỉ đạo điều hành CCHC đạt 12/14 điểm, tăng 1,5 điểm, xếp thứ 10/20 sở, ban, ngành; chỉ số cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước đạt 5/6 điểm, xếp thứ 17/20; chỉ số cải cách tài chính công đạt 4/5,5 điểm, xếp thứ 15/20; chỉ số hiện đại hóa nền hành chính đạt 8,04/9 điểm, xếp thứ 1/20.

So CT giai phap nang cao nang luc1

 Các đại biểu, người dân tham quan một gian hàng tại Tuần Xúc tiến tiêu thụ sản phẩm OCOP Quảng Ninh - SunWorld Hạ Long 2019.

Cùng với đó, trong năm 2018, các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành, địa phương (DDCI); chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (Sipad); đánh giá mức độ Chính quyền điện tử… cũng có sự tăng, giảm trong việc thực hiện đảm bảo các chỉ số thành phần phụ, bởi các nguyên nhân chủ quan và khách quan.

Ông Lê Hồng Giang, Phó Giám đốc Sở Công Thương, cho biết: Thời gian tới, để đảm bảo duy trì, nâng cao điểm số và thứ hạng các chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh, Sở tiếp tục đôn đốc, yêu cầu các phòng ban chuyên môn, đơn vị trực thuộc thực hiện nghiêm chỉnh các nội dung đã được phân công tại các văn bản, chỉ đạo của Sở và của Chính phủ; phối hợp với các sở, ngành phụ trách đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ trọng tâm nhằm cải thiện điểm số ở các chỉ số còn thấp điểm, giảm điểm, thứ hạng. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm soát, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, chính sách chiến lực đã được đưa ra; công tác tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của người dân và doanh nghiệp về các hiện tượng tiêu cực của cán bộ, công chức Sở; thực hiện tốt công tác kỷ luật, kỷ cương hành chính, văn hóa cơ sở, không để xảy ra tình trạng vi phạm văn hóa công sở, kịp thời xử lý ngay những tồn tại, ý kiến phản hổi của nhân dân, doanh nghiệp.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Đông Triều: Lấy công nghiệp làm trọng tâm

Là địa phương trọng điểm nông nghiệp của tỉnh, nhưng những năm gần đây, Đông Triều đang nỗ lực chuyển đổi, đẩy mạnh phát triển công nghiệp - dịch vụ theo hướng hiện đại.

Là địa phương trọng điểm nông nghiệp của tỉnh, nhưng những năm gần đây, Đông Triều đang nỗ lực chuyển đổi, đẩy mạnh phát triển công nghiệp - dịch vụ theo hướng hiện đại.

Dong Trieu lay CN lam trong tam

Sản xuất gạch không nung của Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền. Ảnh: Thu Trang (Trung tâm TT-VH Đông Triều)

Đông Triều là địa phương có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng gồm: Than đá, đất sét, đá vôi... với trữ lượng hàng chục triệu tấn đã tạo đà phát triển mạnh các ngành công nghiệp khai khoáng, vật liệu xây dựng, sản xuất điện; thu hút hàng trăm dự án đầu tư, trong đó có nhiều dự án trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp... Đông Triều còn là địa bàn sản xuất gốm sứ mỹ nghệ, vật liệu xây dựng, đất sét nung với sản lượng lớn nhất trong tỉnh, được phân phối tại các tỉnh, thành phố trong cả nước và xuất khẩu tới 35 quốc gia, vùng lãnh thổ; giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động.

Không chỉ tiếp tục đẩy mạnh khai thác than, nhiệt điện, gốm sứ… mà các trung tâm công nghiệp lớn như cơ khí Mạo Khê, Cụm công nghiệp Kim Sen cũng phát triển mạnh mẽ vài năm gần đây, tạo đổi thay nhanh chóng về tỷ trọng kinh tế của Đông Triều. Việc tăng dần tỷ trọng công nghiệp đang là hướng đi đúng và tất yếu trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi phương thức phát triển từ “nâu” sang “xanh”. Bám sát chỉ đạo của Trung ương, tỉnh, thực hiện Kết luận số 199-KL/TU ngày 2/2/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, thị xã đã triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp trên nguyên tắc tận dụng tối đa tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Điều này được minh chứng bởi kết quả đạt được trong năm 2018: Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 14,7%; cơ cấu kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch tích cực, đúng hướng với tỷ trọng ngành công nghiệp đạt 62,3%; dịch vụ đạt 29,7%; nông, lâm, ngư nghiệp đạt 8%; thu nhập bình quân đầu người ước đạt 4.100 USD/năm; thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 1.465 tỷ đồng, tăng 6% so với năm trước; giá trị gia tăng ngành dịch vụ ước đạt gần 5.000 tỷ đồng. 

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn có tốc độ tăng trưởng cao, bền vững đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển KT-XH trên địa bàn; đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp.

Với tỷ trọng ngành công nghiệp hiện đang chiếm tới trên 60%, thời gian tới, Đông Triều xác định các giải pháp hiệu quả tiếp tục phát triển lĩnh vực này với mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 14,4% trở lên/năm. Trong đó chú trọng đẩy mạnh phát triển sản xuất gốm sứ truyền thống, vật liệu xây dựng áp dụng khoa học công nghệ cao theo hướng tập trung vào các cụm công nghiệp, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường.

Theo ông Phan Hoàng Trung, Phó trưởng Phòng Kinh tế TX Đông Triều: “Sản xuất công nghiệp trên địa bàn thị xã cơ bản ổn định và có bước phát triển. Các sản phẩm công nghiệp trong thời gian qua đạt sản lượng cao tập trung chủ yếu gồm: Than, điện, gạch quy chuẩn, gạch ốp lát… Để thúc đẩy sản xuất công nghiệp, thị xã sẽ tiếp tục đồng hành, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát triển sản xuất, nhất là các ngành chủ lực như: Điện, than, vật liệu xây dựng đất sét nung, cơ khí chế tạo... Đồng thời chú trọng thu hút các dự án đầu tư phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, thân thiện môi trường...”.

Theo: baoquangninh.com.vn

 
Dự thảo sửa đổi bổ sung điều kiện phát triển cụm công nghiệp

Thời gian qua, việc phát triển các dự án cụm công nghiệp đang dần trở thành vấn đề cấp thiết. Nhận thấy sự quan trọng của vấn đề này, mới đây, Bộ Công Thương đã và đang dự thảo sửa đổi, bổ sung Nghị định số 68/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp.


Du thao

Ảnh minh họa

Bản dự thảo sửa đổi bổ sung nêu rõ báo cáo điều chỉnh phát triển cụm công nghiệp bao gồm:  Căn cứ, sự cần thiết điều chỉnh phương án phát triển cụm công nghiệp; Đánh giá tiến độ, hiệu quả đầu tư hạ tầng kỹ thuật và tình hình thu hút đầu tư, tỷ lệ lấp đầy các cụm công nghiệp trên địa bàn; Tình hình sản xuất kinh doanh, công tác bảo vệ, biện pháp xử lý môi trường, hiệu quả kinh tế - xã hội của cụm công nghiệp; Những mặt đạt được, tồn tại và nguyên nhân; Giải trình đáp ứng các điều kiện, quy định về điều chỉnh phương án phát triển cụm công nghiệp; Dự kiến nhu cầu mặt bằng sản xuất để thu hút đầu tư, di dời vào cụm công nghiệp, hiện trạng sử dụng đất, nguồn vốn đầu tư, tiến độ đầu tư hạ tầng…

Về vấn đề bổ sung cụm công nghiệp vào phương án phát triển cụm công nghiệp, bản dự thảo đã đưa ra các điều kiện như: Phù hợp với Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, chiến lược phát triển các ngành, lĩnh vực công nghiệp ưu tiên trên địa bàn; Các quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành khác trên địa bàn; Có quỹ đất công nghiệp đủ để thành lập cụm công nghiệp mới; Các cụm công nghiệp trên địa bàn cấp huyện không đáp ứng nhu cầu thuê đất để đầu tư sản xuất, kinh doanh của các tổ chức, cá nhân; Xác định rõ chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp.

Việc điều chỉnh cụm công nghiệp ra khỏi phương án phát triển cụm công nghiệp cũng được thay đổi để phù hợp với thực trạng hiện nay. Nếu cụm công nghiệp đáp ứng một trong hai điều kiện sau thì xem xét điều chỉnh rút khỏi phương án phát triển cụm công nghiệp: Thứ nhất, cụm công nghiệp không còn phù hợp Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam, chiến lược phát triển các ngành, lĩnh vực công nghiệp ưu tiên, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch khác trên địa bàn; Thứ hai, có nhu cầu chuyển đổi cụm công nghiệp có hiệu quả đầu tư hạ tầng kỹ thuật thấp sang mục đích phát triển lĩnh vực, ngành nghề khác theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng, đô thị trên địa bàn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đặc biệt, trong bản dự thảo sửa đổi này, Bộ Công Thương đã đề xuất bổ sung nội dung thứ ba là “Điều kiện điều chỉnh diện tích cụm công nghiệp đã có trong phương án phát triển cụm công nghiệp”. Đối với phần diện tích tăng của cụm công nghiệp thực hiện như điều kiện bổ sung cụm công nghiệp vào phương án phát triển cụm công nghiệp. Đối với phần diện tích giảm của cụm công nghiệp thực hiện như điều kiện điều chỉnh cụm công nghiệp ra khỏi phương án phát triển cụm công nghiệp.

Hiện tại, Bộ Công Thương đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân đối với dự thảonày tại Cổng Thông tin điện tử của Bộ.

Theo: http://www.congnghieptieudung.vn/

 
Khuyến công giúp doanh nghiệp tạo ra tư duy mới, cách làm mới

 

Những năm gần đây, hoạt động khuyến công không chỉ đơn thuần là sử dụng kinh phí của Nhà nước, của địa phương để hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ sản xuất siêu nhỏ để phát triển mạnh công nghiệp nông thôn, mà còn chuyển hướng, mở rộng sang hoạt động tư vấn, đào tạo, tập huấn xây dựng văn hóa doanh nghiệp, ứng dụng chuyển giao công nghệ, tổ chức các hội chợ, triển lãm…

 


Phối hợp tổ chức một số Hội chợ khu vực các tỉnh phía Bắc

Phối hợp tổ chức một số Hội chợ khu vực các tỉnh phía Bắc

Tạp chí Công nghiệp & Tiêu dùng đã có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Toàn Thắng – Giám đốc Trung tâm Khuyến công & Tư vấn Phát triển công nghiệp 1 xung quanh vấn đề này.

PV:Được biết thời gian qua, hoạt động khuyến công không chỉ đơn thuần là dùng kinh phí hỗ trợ cho các địa phương, các cơ sở công nghiệp nông thôn, mà nhiều Trung tâm Khuyến công (TTKC) còn mở rộng lĩnh vực tư vấn, hội thảo, hội chợ, triển lãm, xúc tiến thương mại…, vậy theo ông, phải chăng các TTKC đã chuyển hướng để hoạt động sát thực và hiệu quả hơn?

Giám đốc Nguyễn Toàn Thắng:Tùy từng địa phương, đơn vị và từng giai đoạn cụ thể, mỗi TTKC định hướng cho mình những nội dung hoạt động phù hợp. Ngoài công tác hỗ trợ cho các chương trình đề án, thì các TTKC cũng đã thường xuyên tiếp cận cơ sở để tìm kiếm nhu cầu, qua đó mở rộng quy mô, lĩnh vực một cách đa dạng, sát với thực tế hơn. Cụ thể là, phối hợp tổ chức hội thảo về năng suất chất lượng, giúp cho doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn; Hội thảo chuyên về lĩnh vực cơ khí; tổ chức tọa đàm về năng suất chất lượng của ngành Cơ khí, chế tạo; tập huấn về chương trình 5S đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; mở các lớp tập huấn, hội thảo về tiết kiệm năng lượng… Qua đó, chia sẻ, tư vấn cho các doanh nghiệp, giúp cho họ nhận ra điểm mạnh, yếu của mình để phát huy và khắc phục.

Bên cạnh đó, Khuyến công còn giúp DN tìm mặt bằng; tư vấn làm thủ tục, hồ sơ nhanh nhất; cầu nối cho DN tiếp cận với các ngân hàng…, tạo mối liên hệ chặt chẽ, tương tác thường xuyên.

 PV: Theo ông, đội ngũ cán bộ, nhân viên các Trung tâm Khuyến công đã đủ sức để hoàn thành nhiệm vụ và đáp ứng được nhu cầu thị trường chưa, hay còn phải phối hợp, liên kết với các tổ chức, cá nhân khác để giúp cho các doanh nghiệp trụ vững và phát triển?

Giám đốc Nguyễn Toàn Thắng: Thời gian qua, ngoài phát huy và khai thác triệt để năng lực của cán bộ, nhân viên, cũng đã có nhiều Trung tâm tổ chức lựa chọn, quy tụ được các chuyên gia tư vấn, chuyên gia độc lập, chuyên gia ở các nhóm và làm cầu nối giúp cho doanh nghiệp tiếp cận với các nhà khoa học, nhà thực tiễn học. Các chuyên gia sẽ đánh giá xem doanh nghiệp có những khoảng trống gì, còn những khiếm khuyết gì, sau đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị với doanh nghiệp, hoặc cũng có thể giúp họ tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn về chương trình 5S, về tăng năng suất lao động…

Hiện nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang rất cần vốn, lao động, thị trường… để nâng cao sức cạnh tranh, thì Trung tâm Khuyến công sẽ tư vấn cho họ, ví dụ: Kế hoạch của doanh nghiệp A cần mua máy móc cho thiết bị dệt len, đang thiếu dây chuyền công nghệ dệt thì tư vấn mua máy loại gì để không bị lạc hậu trong một thời gian ngắn hạn, phù hợp với nguồn lực tài chính, khả năng vận hành máy. Các chuyên gia cũng vào cuộc, “cầm tay chỉ việc” cho từng giám đốc, phó giám đốc, quản đốc phân xưởng để tổ chức điều hành, sản xuất, giúp họ thấy được mình còn thiếu gì để bổ sung, hoàn thiện. Từ đó tăng năng suất lao động, tối ưu hóa sản xuất và sản phẩm làm ra không bị lỗi. Nhìn chung, hoạt động khuyến công ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả hơn.

Hỗ trợ tư vấn Công ty Minh Thành Công khởi nghiệp và sản xuất thành công thiết bị ngành nước

Hỗ trợ tư vấn Công ty Minh Thành Công khởi nghiệp và sản xuất thành công thiết bị ngành nước

PV:Có ý kiến cho rằng, việc DN tiếp cận với nguồn vốn khuyến công giai đoạn gần đây rất khó khăn, vậy cần phải tháo gỡ thế nào để không phụ thuộc nhiều vào nguồn kinh phí Nhà nước?

Giám đốc Nguyễn Toàn Thắng:Ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho công tác khuyến công nhằm tạo cú hích, định hướng thôi, còn với lượng kinh phí không nhiều đó thì chỉ hỗ trợ được một phần trong khoản kinh phí mà DN tự bỏ ra, giúp họ tạo ra tư duy mới, cách làm mới. Nhà nước làm như thế là quá đủ.

Tiếp cận nguồn khuyến công không khó. Vấn đề DN vừa và nhỏ phải tìm hiểu hiệu quả của công tác khuyến công, rồi bản thân những người làm khuyến công cũng cần phải làm tốt việc tuyên truyền, tư vấn, hỗ trợ DN. Bên Khuyến công đã tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo, thì các DN cần lắng nghe, chia sẻ, đồng hành. Bản thân DN cảm thấy cần thiết thì có thể đề xuất, phối hợp làm các triển lãm, hội chợ quy mô vùng, quốc gia để thu hút, quảng bá thương hiệu, sản phẩm…, cái chính bây giờ là định hướng, tạo ra cái mới. Vấn đề là từ hai phía phải bắt tay cùng làm.

PV:Xin cám ơn ông!

Theo: http://www.congnghieptieudung.vn

 
Di dời các cơ sở sản xuất TTCN ra khỏi khu dân cư: Đông Triều gặp khó về địa điểm

TX Đông Triều hiện đang tích cực triển khai những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ di dời các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN) gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp với quy hoạch đô thị trên địa bàn ra khỏi khu dân cư. Tuy nhiên, địa phương vẫn đang gặp không ít khó khăn trong việc tìm địa điểm để thực hiện.


Di dời TTCN Đông Triều

Cơ sở sản xuất cơ khí Văn Quang, phường Đông Triều, TX Đông Triều, nằm trong khu đông dân cư và cạnh QL18A.

Trên cơ sở hướng dẫn của Sở TN&MT về tiêu chí xác định các cơ sở sản xuất TTCN có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp với quy hoạch đô thị, UBND TX Đông Triều đã chỉ đạo các xã, phường trên địa bàn tiến hành rà soát, lập danh sách các cơ sở sản xuất TTCN buộc phải di dời. Căn cứ vào tình hình thực tế và đánh giá một cách khách quan, các xã, phường của Đông Triều đã lập, đề xuất 445 cơ sở sản xuất TTCN gây ô nhiễm môi trường di dời ra khỏi khu dân cư.

Ông Nguyễn Văn Bình, Phó Chủ tịch UBND TX Đông Triều, cho biết: Việc xác định các cơ sở TTCN gây ô nhiễm môi trường theo Hướng dẫn số 3022/TNMT-MT ngày 29/12/2011 của Sở TN&MT tại địa phương hết sức khó khăn. Các cơ sở này phải được đánh giá theo 3 tiêu chí, tuy nhiên, hồ sơ pháp lý và các nội dung liên quan trong quá trình chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất TTCN là không có. Địa phương đã phải chủ động, linh hoạt trong việc xem xét, đánh giá quá trình hoạt động của các cơ sở sản xuất TTCN trong một thời gian dài, qua đó mới đưa ra được đề xuất cụ thể.

Phường Mạo Khê là địa phương có diện tích rộng, với nhiều ngành nghề kinh doanh, phát triển kinh tế hộ gia đình. Qua rà soát theo 3 tiêu chí do Sở TN&MT hướng dẫn, UBND phường Mạo Khê đã rà soát, đề nghị 113 cơ sở TTCN di dời ra khỏi khu đông dân cư. Việc rà soát các cơ sở sản xuất TTCN gây ô nhiễm môi trường trong khu dân cư được phường triển khai nghiêm túc, công khai, minh bạch.

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch UBND phường Mạo Khê, cho biết: Trong quá trình kiểm tra, rà soát, địa phương phát hiện có nhiều cơ sở thu mua phế liệu, dầu nhớt nằm xen lẫn ngay trong các khu đông dân cư, gây ô nhiễm môi trường và tiềm ẩn nguy cơ gây cháy, nổ. Đoàn kiểm tra đã đến từng hộ gia đình, chủ cơ sở để nắm tình hình, quán triệt tinh thần, chủ trương thực hiện di dời đối với các cơ sở sản xuất TTCN này ra khỏi khu đông dân cư.

Ông Nguyễn Xuân Thống, chủ cơ sở sản xuất gốm sứ, phường Mạo Khê, chia sẻ: Gia đình tôi làm nghề sản xuất gốm sứ đã từ rất lâu. Bản thân tôi nhận thấy kinh doanh lĩnh vực này không đảm bảo vệ sinh môi trường trong khu vực đông dân cư, nay Nhà nước có chủ trương di dời các cơ sở sản xuất TTCN gây ô nhiễm môi trường, gia đình rất ủng hộ. Chuyển ra vị trí mới sẽ ổn định hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh vì diện tích rộng, không gây ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật của người dân...

Di dời TTCN Đông Triều1

Cơ sở sản xuất gốm sứ của gia đình ông Nguyễn Xuân Thống, phường Mạo Khê, TX Đông Triều, nằm ngay trong khu đông dân cư.

Để đảm bảo các cơ sở sản xuất TTCN có địa điểm hoạt động ngay sau khi thực hiện công tác di dời, TX Đông Triều đã chỉ đạo các phòng, ban tham mưu địa điểm phù hợp với quy hoạch được duyệt. Trong đó có lưu ý đến cụm công nghiệp (CCN) Kim Sen, bởi hiện tại trên địa bàn thị xã mới chỉ có CCN Kim Sen được thành lập theo Quyết định số 1393/QĐ-UBND ngày 31/5/2013 của UBND tỉnh. 

Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh tại Văn bản số 1394/UBND-XD6 ngày 7/3/2019 về việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật CCN Kim Sen, UBND TX Đông Triều đã tích cực phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan, tổ chức thực hiện công tác xúc tiến, thu hút nhà đầu tư thực hiện đầu tư phần diện tích đất còn lại tại CCN Kim Sen.

Ông Phạm Văn Thành, Chủ tịch UBND TX Đông Triều, cho biết: Địa phương rất tích cực trong việc triển khai các biện pháp di dời các cơ sở sản xuất TTCN gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư. Tuy nhiên, đến nay cái khó là không có địa điểm để di dời các cơ sở sản xuất TTCN, bởi hiện tại, phần diện tích đất còn lại 12,67ha trong CCN Kim Sen chưa có nhà đầu tư thực hiện đầu tư hạ tầng kỹ thuật, mặc dù chúng tôi đã lập danh mục dự án cần mời gọi đầu tư gửi Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư. Trước đây, Công ty CP Tập đoàn Hoàng Hà cũng có ý định tham gia đầu tư, nhưng quỹ đất còn lại trong CCN Kim Sen ít, không đủ đối ứng cho dự án, nên công ty đã xin thôi. Thị xã đã có văn bản báo cáo UBND tỉnh xin chủ trương bổ sung quy hoạch CCN Yên Thọ để có thêm quỹ đất di dời các cơ sở sản xuất TTCN trên địa bàn. Tuy nhiên, đề xuất này chưa được xem xét, vì phải chờ được bổ sung vào quy hoạch tỉnh.  

Như vậy, lộ trình di dời các cơ sở TTCN nằm xen trong khu dân cư không đảm bảo vệ sinh môi trường hoặc không phù hợp với quy hoạch đô thị vào CCN Kim Sen trong tháng 7/2019 theo Báo cáo số 161/BC-UBND ngày 26/4/2019 của UBND TX Đông Triều là không thực hiện được. Đây không chỉ là trăn trở của cấp ủy, chính quyền TX Đông Triều mà còn là trăn trở của 445 cơ sở TTCN trên địa bàn. Điều này cũng đồng nghĩa, hằng ngày người dân sống quanh các cơ sở TTCN vẫn phải chịu đựng sự ô nhiễm môi trường do các cơ sở phát thải. Rất mong các sở, ngành tích cực vào cuộc tháo gỡ khó khăn, tham mưu cho UBND tỉnh có giải pháp xử lý kịp thời. 

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Hải Hà: Đột phá từ phát triển công nghiệp

Hải Hà xác định phát triển công nghiệp, dịch vụ là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Vì vậy, huyện khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, nhất là lĩnh vực công nghiệp, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp (KCN).


Hải Hà đột phá từ PTCN1

Sản xuất sợi tại phân xưởng sợi số 3, Công ty TNHH Texhong Ngân Hà, KCN Cảng biển Hải Hà.

Theo đó, huyện ưu tiên thu hút đầu tư phát triển các dự án công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, tiết kiệm tài nguyên, gắn với bảo vệ môi trường, tăng trưởng bền vững, tạo bước đột phá để đưa công nghiệp, dịch vụ trở thành lĩnh vực kinh tế trọng điểm của địa phương.

Huyện Hải Hà xác định hai lĩnh vực đột phá là phát triển KCN Cảng biển Hải Hà, Khu kinh tế Cửa khẩu Bắc Phong Sinh và xây dựng nông thôn mới bền vững. Trong đó, điểm nhấn cho phát triển công nghiệp của Hải Hà chính là Dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN Texhong Hải Hà do Công ty TNHH KCN Texhong Việt Nam làm chủ đầu tư, có tổng diện tích 660ha, tổng mức đầu tư trên 4.520 tỷ đồng. Qua đó đưa công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại KCN Cảng biển Hải Hà tiếp tục phát triển ổn định và đạt mức tăng trưởng cao.

Hiện đã có 12 dự án thứ cấp (vốn FDI) được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 20.742 tỷ đồng. Đến nay có 10/12 dự án đã thực hiện đầu tư 11.523 tỷ đồng (tăng 2 doanh nghiệp và đầu tư thêm 1.457 tỷ đồng so với năm 2018); có 6 doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh và đạt kết quả cao (tăng 1 doanh nghiệp so với năm 2018): Giá trị sản xuất 6 tháng năm 2019 đạt 8.141 tỷ đồng (tăng 78% so với cùng kỳ); thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước 29,71 tỷ đồng. Tổng số lao động làm việc là 9.225 người, trong đó huyện Hải Hà có 3.662 lao động (chiếm 39,7%).

Hải Hà đột phá từ PTCN2

Hiện nay, huyện Hải Hà đang tập trung phát triển vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất chè.

Nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển trong KCN Cảng biển Hải Hà, huyện đang đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng triển khai các dự án, đặc biệt, đối với diện tích 23ha thuộc dự án khu nhà ở công nhân KCN Texhong Hải Hà và dự án Bến cảng đa năng giai đoạn I tại đảo Hòn Miều của Công ty CP Tập đoàn công nghiệp Quang Trung. Trong đó, Dự án khu nhà ở công nhân có diện tích 23ha là một trong những dự án quan trọng đối với sự phát triển của KCN Cảng biển Hải Hà. Việc hoàn thành dự án sẽ góp phần tạo thiết chế văn hóa quan trọng, giúp thu hút người lao động đến làm việc, gắn bó lâu dài tại KCN. Còn Dự án Bến cảng đa năng giai đoạn I tại đảo Hòn Miều, xã Quảng Phong, đến nay, chủ đầu tư đã đúc 8 trụ bê tông móng cảng, 50 hệ kè cảng, 2 dầm bao và đang triển khai đúc 46 dầm chính của mặt cầu cảng…

Đồng thời, huyện cũng tập trung nguồn vốn đầu tư các công trình giao thông trọng điểm, kết nối giao thông các đô thị, khu du lịch, khu kinh tế cửa khẩu, khu công nghiệp bao gồm: Hoàn thiện tuyến đường công vụ từ thị trấn Quảng Hà đi KCN; nâng cấp cải tạo tuyến đường liên xã từ thị trấn Quảng Hà đi Quảng Phong, Quảng Điền; đầu tư 2 tuyến đường kết nối KCN cảng biển với thị trấn Quảng Hà, đầu tư chỉnh trang đô thị...

Hải Hà đột phá từ PTCN3

Sản phẩm chè Ngọc Thúy của Cơ sở sản xuất chè Dũng Nga, xã Quảng Long, huyện Hải Hà.

Song song với phát triển thu hút đầu tư lĩnh vực công nghiệp FDI, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển ổn định và có mức tăng trưởng so với cùng kỳ; các sản phẩm chủ lực của địa phương đều đạt và vượt mức kế hoạch đã đề ra. Trong đó: Gạch chỉ nung: 53 triệu viên, bằng 53% kế hoạch; gạch xi măng: 11,8 triệu viên, bằng 65% kế hoạch; chế biến chè khô: 855 tấn, bằng 61% kế hoạch; đóng mới, sửa chữa tàu thuyền: 781 tấn, bằng 52% kế hoạch; khai thác đá Tấn Mài: 35.700 tấn, bằng 51% kế hoạch; dăm gỗ: 4.600 tấn... Tổng giá trị 6 tháng đầu năm 2019 đạt 544,7 tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ.

Trong thời gian tới, Hải Hà tiếp tục vận dụng linh hoạt hệ thống cơ chế, chính sách, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; tranh thủ sự giúp đỡ của các cấp, ngành và thu hút các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào huyện.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Để Quảng Ninh là cực tăng trưởng phía Bắc

Trong những năm qua, Quảng Ninh đã có những đột phá về cơ sở hạ tầng, tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển theo hướng bền vững; chuyển đổi phương thức phát triển từ nâu sang xanh để phát huy tốt vai trò là cực tăng trưởng phía Bắc, tạo sự kết nối, có sức lan tỏa trong vùng và cả nước.


 

Những thành tựu nổi bật

Là địa phương nằm ở vùng Đông Bắc của tổ quốc, với những tiềm năng, cơ hội nổi trội, lợi thế của mình, Quảng Ninh đã luôn nêu cao tinh thần chủ động, tích cực, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm, bám sát các định hướng của Trung ương để mạnh dạn đề xuất, xây dựng và triển khai các mô hình mới, cách làm mới; phát huy và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực, tạo đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội.

Sau hơn 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, tăng trưởng kinh tế Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 ước đạt 11,1%, hoàn thành mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của tỉnh đề ra. Tổng sản phẩm bình quân đầu người (GRDP) năm 2018 đạt 5.110 USD, gấp 1,3 lần so với 2015; dự kiến năm 2020 đạt 6.535 USD, gấp 1,68 lần so với năm 2015. Thu ngân sách Nhà nước (NSNN) trên địa bàn giai đoạn 2016-2018 đạt 117.162 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 ước đạt 201.000 tỷ đồng, trong đó, thu nội địa tăng bình quân 12,6%/năm. Đặc biệt, năm 2018, tổng thu NSNN đạt trên 40.548 tỷ đồng, gấp 1,2 lần so với năm 2015, tốc độ tăng trưởng năm 2018 đạt 11,1%, cao nhất trong 6 năm gần đây.

De Qn la cuc tang truong phia Bac

Cảng hảng không quốc tế Vân Đồn là một trong những đột phá về cơ sở hạ tầng của Quảng Ninh

Cơ cấu kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ, từ 43,4% (năm 2015) lên 44,8% (năm 2018) và dự kiến tăng 48% vào năm 2020. Công nghiệp giảm từ 53,4% (năm 2010) xuống còn 50,2% (năm 2015) và 49,2% (năm 2018); dự kiến còn 47% vào năm 2020. Nông nghiệp giảm từ 8,7% (năm 2010), xuống còn 7,3% (năm 2015) và 6% (năm 2018); dự kiến còn 5% vào năm 2020.

Để có được những kết quả như vậy, Quảng Ninh đã thực hiện ba đột phá chiến lược, tiên phong trong việc đầu tư ngân sách của tỉnh tập trung vào các dự án, công trình động lực có tính lan toả cao; quyết liệt đi đầu thực hiện các dự án lớn theo hình thức đối tác công - tư (PPP). Từ năm 2013 đến nay, tỉnh đã triển khai đầu tư theo hình thức PPP với 44 dự án, tổng số vốn 47.000 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2016-2018 đạt 183.654 tỷ đồng, dự kiến giai đoạn 2016-2020 đạt 340.850 tỷ đồng, tăng hơn 1,5 lần so giai đoạn 2011-2015.

Công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị đã mạnh dạn đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thí điểm áp dụng những mô hình mới; triển khai hợp nhất các cơ quan tham mưu giúp việc của cấp ủy với cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp có chức năng, nhiệm vụ tương đồng theo nguyên tắc thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo; đổi mới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng; đồng bộ công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra; chủ động các giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí…

Để tiếp tục là đầu tàu kinh tế phía bắc

Tại buổi làm việc với tỉnh Quảng Ninh chiều ngày 12/07 về kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, nhiệm kỳ 2015-2020; định hướng phát triển KT-XH của tỉnh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 và 2045, đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương đã đánh giá cao 5 điểm sáng có tính đột phá của tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua, đó là: Đánh giá, xác định đúng được các lợi thế phát triển của tỉnh, có triết lý phát triển và quyết liệt trong triển khai; Làm tốt công quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Là địa phương tiên phong triển khai nhiều mô hình mới, cách làm hay, năng động, sáng tạo luôn đổi mới, đi đầu trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển kinh tế tư nhân, hội nhập kinh tế quốc tế, sắp xếp và tinh gọn và nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị, quản lí nhà nước; Có đột phá về cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; Xác định đúng và phát triển mạnh mẽ những cực phát triển để tạo lan tỏa dẫn dắt.

De Qn la cuc tang truong phia Bac1

Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương phát biểu tại buổi làm việc với tỉnh Quảng Ninh

Thời gian tới, để Quảng Ninh tiếp tục là cực tăng trưởng của phía Bắc, đồng chí Nguyễn Văn Bình đề nghị  Quảng Ninh thường xuyên theo dõi, đánh giá, giám sát triển khai các mô hình mới đã được áp dụng triển khai trên địa bàn, trên tinh thần bám sát nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, thông suốt của Đảng kết hợp hệ thống hành chính phải thống nhất.

Cùng với đó là đặt trong tổng thể liên kết vùng, trong sự phát triển của vùng và cả nước để thấy được lợi thế so sánh và phát huy được các lợi thế của mình. Bên cạnh việc phát triển du lịch, với tiềm năng lợi thế về hạ tầng giao thông, cảng biển, khả năng kết nối với các tỉnh vùng Tây Bắc và phía Nam Trung Quốc…, đồng chí Nguyễn Văn Bình mong muốn tỉnh nghiên cứu phát triển dịch vụ logistic nhằm khai thác hết tiềm năng thế mạnh của tỉnh.

Ngoài ra, tỉnh cũng cần thu hút đầu tư có chọn lọc, lựa chọn những gì tốt nhất để phục vụ mục tiêu phát triển bền vững, đổi mới công tác quản lý du lịch để tăng thu cho NSNN; duy trì, phát triển các sản phẩm nông nghiệp gắn với Chương trình xây dựng NTM...

Tại cuộc làm việc, đồng chí Nguyễn Văn Bình cũng đã trao đổi, phân tích, làm rõ những đề xuất, kiến nghị của tỉnh, liên quan đến việc áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù tại KKT Vân Đồn; chủ trương bổ sung quy hoạch và thành lập KKT Quảng Yên; phương án tổng thể chung xây dựng các khu hợp tác kinh tế qua biên giới Việt - Trung; chủ trương đầu tư các dự án trọng điểm trong KCN, KKT của tỉnh...

Theo: congthuong.vn

 

 
1.500 công trình dùng gạch không nung

Thị phần gạch không nung ở Việt Nam hiện đã chiếm tỷ trọng 28% trên tổng số vật liệu xây dựng (VLXD) cả nước, góp phần giảm phát thải khí nhà kính gần 2 triệu tấn CO2 với hơn 1.500 công trình xây dựng sử dụng gạch không nung. 


5852 Yt.Day chuyen SX gach khong nung - Thanh Tuyen

Dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng không nung tại Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền

Bắt kịp xu hướng trên, từ tháng 9/2016, Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền (Đông Triều, Quảng Ninh) đã xây dựng Nhà máy sản xuất gạch không nung với tổng mức đầu tư trên 250 tỷ đồng; cho ra đời những sản phẩm ngói không nung đạt tiêu chuẩn bền - đẹp - chất lượng, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường.

Ông Vũ Thanh Tuyền - Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền - cho biết: Nhận thấy việc tận thu tro, xỉ thải của các nhà máy nhiệt điện làm nguyên liệu sản xuất VLXD không những tiết kiệm được nhiên liệu, không gây ô nhiễm môi trường, mà còn có cường độ chịu lực cao, khả năng cách âm, cách nhiệt, chống thấm tốt, công ty đã quyết định đầu tư dây chuyền sản xuất gạch không nung từ nguồn nguyên liệu này và tiến hành ký hợp đồng mua tro, xỉ của Nhà máy Nhiệt điện Đông Triều để sản xuất VLXD không nung. Với sản lượng trên 90 triệu viên gạch, ngói tiêu chuẩn/năm, việc áp dụng dây chuyền sản xuất từ vật liệu không nung của Nhà máy này đã tiết kiệm trên 200.000m3 đất sét và hàng vạn tấn than phục vụ cho hoạt động sản xuất.

Để đáp ứng nhu cầu của thị trường hướng đến sản xuất sạch hơn, ngay từ khi xây dựng dự án, công ty đã quyết định đầu tư dây chuyền thiết bị, máy móc hiện đại của Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Đài Loan. Sau 6 tháng đầu tư xây dựng, tháng 3/2017, nhà máy đã chính thức đi vào hoạt động với 10 sản phẩm không nung các loại; đến nay, công ty đã cho ra thị trường hơn 40 mặt hàng. Từ cuối năm 2017, những lô hàng đã được xuất sang các nước trong khu vực như: Lào, Campuchia, Malaysia. Sản phẩm gạch, ngói không nung của Thanh Tuyền với nguồn nguyên liệu đầu vào an toàn cho người sử dụng, thân thiện với môi trường, được sản xuất trên dây chuyên công nghệ hiện đại, nhập khẩu từ Nhật Bản và châu Âu, đạt tiêu chuẩn chất lượng JIS A 5402:2002 và hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001:2015, đem đến cho người tiêu dùng những sản phẩm chất lượng cao, thân thiện với môi trường.

Hiện nay, sản xuất gạch không nung của Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền đã và đang đem lại nhiều kết quả tích cực như: Giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tận dụng được nhiều nguồn nguyên liệu có tại địa phương, tạo ra nhiều loại vật liệu xây dựng có giá thành hợp lý và bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng. Dự án cũng giúp cho Nhà máy Nhiệt điện Đông Triều không phải tốn kém chi phí để bốc xúc, vận chuyển; tiết kiệm mặt bằng, diện tích đất để chôn lấp tro, xỉ… góp phần giảm thiểu lượng chất thải, bảo vệ môi trường và sức khỏe nhân dân vì mục tiêu phát triển bền vững.

Không chỉ khả quan về mặt xã hội trong lĩnh vực môi trường, dự án còn rất khả thi về kinh tế qua các thông số tài chính như: Doanh thu hàng năm đạt 391,5 tỷ đồng; suất sinh lời trên doanh thu 15% ; thời gian hòa vốn 5 năm sau khi đi vào hoạt động và có doanh thu. Điều này cho thấy, dự án mang lại lợi nhuận cao cho nhà đầu tư, niềm tin lớn khi khả năng thanh toán nợ vay cao và thu hồi vốn đầu tư nhanh. Thêm vào đó, dự án còn đóng góp rất lớn cho ngân sách nhà nước và giải quyết một lượng lớn lực lượng lao động.

Việc sản xuất gạch, ngói không nung từ xỉ và tro bay của Công ty TNHH Xây dựng Thanh Tuyền rất cần thiết, mang lại lợi ích kinh tế, đảm bảo vấn đề môi trường trên địa bàn thị xã Đông Triều nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung.

Theo: congthuong.vn

 

 
Di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp ra khỏi khu dân cư: Uông Bí vẫn đang gặp khó

Theo thống kê, TP Uông Bí hiện có 71 cơ sở tiểu thủ công nghiệp đang nằm xen kẽ ở các khu dân cư. Mặc dù có những đóng góp quan trọng cho phát triển KT-XH của địa phương, song thực tế hoạt động của các cơ sở này đang gây ô nhiễm tiếng ồn, môi trường hoặc không phù hợp với quy hoạch đô thị. Tuy nhiên, do chưa có các cụm công nghiệp tập trung, nên việc di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp của Uông Bí ra khỏi các khu dân cư theo chỉ đạo của UBND tỉnh vẫn chưa được thực hiện.


Di dời TTCN Uông Bí2

Nhiều cơ sở tiểu thủ công nghiệp của TP Uông Bí nằm xen kẽ khu dân cư gây ô nhiễm môi trường hoặc không theo quy hoạch.

Công ty CP Tư vấn, xây dựng và Thương mại An Bình, tại tổ 8, khu 8, phường Thanh Sơn, chuyên về ngành nghề cơ khí, gia công các mặt hàng nhôm kính, vật liệu kết cấu thép phục vụ các công trình xây dựng. Mặc dù thực hiện những biện pháp che chắn, tuy nhiên do diện tích nhà xưởng nhỏ hẹp, lại nằm xen kẽ trong khu dân cư, nên hoạt động của cơ sở này không tránh khỏi việc phát tán mùi sơn, tiếng ồn ra môi trường, ảnh hưởng đến các hộ dân xung quanh.

Ông Nguyễn Mạnh Hà, Phó Giám đốc Công ty CP Tư vấn xây dựng và Thương mại An Bình cho biết: Cơ sở sản xuất của đơn vị chật chội, gây tiếng ồn, phát tán mùi, nên bị người dân ở xung quanh phản ánh. Mặc dù công ty cũng có nhiều giải pháp khắc phục, nhưng chưa thể triệt để. Được biết tỉnh và thành phố đã có chủ trương di dời những cơ sở tiểu thủ công nghiệp, do vậy, chúng tôi rất mong muốn sớm được đến khu quy hoạch sản xuất riêng biệt, rộng rãi để thuận lợi làm việc, phát triển.

Di dời TTCN Uông Bí1

Công ty TNHH Vũ Duy mong muốn được di chuyển vào Cụm công nghiệp để ổn định sản xuất.

Ông Vũ Duy Hưng, Giám đốc Công ty TNHH Vũ Duy (tổ 1, khu 9, phường Thanh Sơn) cho biết: Từ sản xuất nhỏ lẻ, đến nay tôi đã thành lập công ty và mở rộng sản xuất chuyên về cơ khí, inox, nhôm kính, cửa nhựa, cửa cuốn... Công ty phát triển sản xuất cũng ảnh hưởng tới môi trường xung quanh, nên khi được tuyên truyền về chủ trương di chuyển các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp thì tôi hoàn toàn đồng tình. Việc di dời các xưởng sản xuất vào các cụm công nghiệp tập trung cũng là mong muốn của nhiều chủ cơ sở tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn TP Uông Bí.

Được biết, lộ trình đến hết năm 2020, TP Uông Bí phải hoàn thành việc di dời toàn bộ các cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp với quy hoạch đô thị ra khỏi các khu dân cư. Hiện TP Uông Bí đã có quy hoạch Cụm công nghiệp Bắc Sơn với diện tích 35ha và Cụm công nghiệp liên phường Phương Đông - Phương Nam có diện tích 75ha để phục vụ việc di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp. Trong đó, Cụm công nghiệp liên phường Phương Đông - Phương Nam đã phê duyệt Quy hoạch xây dựng tỷ lệ 1/500.

Hiện dự án Cụm công nghiệp liên phường Phương Đông - Phương Nam đã có nhà đầu tư là Công ty TNHH C&N VINA quan tâm nghiên cứu đầu tư. Theo khẳng định của ông Bùi Đức Anh, Trưởng phòng Quản lý đô thị TP Uông Bí, địa phương sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất về thủ tục, giải phóng mặt bằng để nhà đầu tư triển khai được dự án, phục vụ di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp.

Di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư hoặc phải di dời theo quy hoạch xây dựng đô thị trên địa bàn TP Uông Bí là cần thiết và cấp bách. Do đó, thành phố cần tích cực hơn nữa trong việc thu hút nhà đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp, nhằm phục vụ cho việc di dời được triển khai, góp phần đảm bảo môi trường, cảnh quan đô thị, đồng thời đảm bảo ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở tiểu thủ công nghiệp.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 

 
TP Cẩm Phả hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới

Tối 15/6, tại Quảng trường 12/11, TP Cẩm Phả đã long trọng tổ chức Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Bằng công nhận thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.


 

Tham dự buổi lễ có ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ NN và PTNT; ông Nguyễn Văn Đọc, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ninh; cùng lãnh đạo các sở, ngành địa phương và đông đảo nhân dân.

Theo báo cáo, Thành phố Cẩm Phả là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Quảng Ninh, nằm trong vùng động lực phát triển kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là đầu mối giao thông quan trọng của Quảng Ninh. Cẩm Phả có 16 đơn vị hành chính, trong đó có 3 xã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới là Cộng Hòa, Cẩm Hải và Dương Huy.

Năm 2011, khi bước vào triển khai xây dựng nông thôn mới (NTM), 3 xã Dương Huy, Cộng Hòa và Cẩm Hải của TP Cẩm Phả có xuất phát điểm thấp, đạt bình quân 8/19 tiêu chí và 22/39 chỉ tiêu. Bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, TP Cẩm Phả đã triển khai, cụ thể hóa, huy động cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, tập trung tuyên truyền, vận động nguồn lực để hỗ trợ cho các xã với tinh thần quyết tâm cao, tạo sự đồng thuận trong nhân dân.

Cam Pha hoan thanh NTM

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thứ trưởng Bộ NN và PTNT Phùng Đức Tiến đã trao Bằng công nhận thành phố hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới cho TP. Cầm Phả.

Đến năm 2018, toàn bộ các tiêu chí và chỉ tiêu của chương trình xây dựng NTM đã được cả 3 địa phương này cơ bản hoàn thành, góp phần thay đổi cơ bản diện mạo 3 xã. Trong đó, hạ tầng thiết yếu được xây dựng khang trang, hiện đại, đường giao thông, hệ thống điện, viễn thông đáp ứng yêu cầu phục vụ sinh hoạt và phát triển sản xuất của người dân.

Cùng với đầu tư hạ tầng, việc hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, trong sản xuất nông nghiệp, TP Cẩm Phả cũng tập trung triển khai các giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng cường hoạt động liên kết 4 nhà và đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật. Đồng thời, quan tâm đầu tư phát triển các vùng trồng cây ăn quả và mô hình chăn nuôi gia trại theo hướng công nghiệp...

Nhờ đó, nhiều hộ dân từ thu nhập thấp vươn lên trở thành hộ khá, hộ giàu. Thu nhập bình quân đầu người đạt trung bình trên 41 triệu đồng/năm; phong trào giúp đỡ hộ nghèo được quan tâm, năm 2018 cả 3 xã chỉ còn 10 hộ nghèo, trong đó xã Dương Huy không còn hộ nghèo.

Bên cạnh đó, tỷ lệ người có việc làm trong độ tuổi lao động đạt trên 95%, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 92,44%, tăng 17,54% so với năm 2010.

Cẩm Phả cũng đã đang đặt mục tiêu, đến năm 2020, tiêu chí thu nhập của người dân khu vực nông thôn sẽ đạt trên 60 triệu đồng, thành phố phát triển theo hướng công nghiệp – cảng biển – dịch vụ đồng bộ gắn với bảo vệ môi trường.

Cam Pha hoan thanh NTM1

Đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh trao thưởng số tiền 3 tỷ đồng cho 3 địa phương của TP Cẩm Phả hoàn thành xây dựng NTM

Từ những kết quả trên, ngày 11/4/2019, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đã ký Quyết định số 407/QĐ-TTg công nhận TP Cẩm Phả hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2018.

Tại buổi lễ công bố, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến đã trao Quyết định và Bằng Công nhận cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Cẩm Phả, ghi nhận những nỗ lực, phấn đấu của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Cẩm Phả trong phong trào xây dựng nông thôn mới.

Đánh giá cao những nỗ lực của tỉnh Quảng Ninh nói chung, TP Cẩm Phả nói riêng, ông Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, đây mới chỉ là thành quả cơ bản, ban đầu của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững của Chính phủ. Mục tiêu tiếp tục không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn luôn là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt được đặt ra.

Cam Pha hoan thanh NTM2

Đồng chí Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ NN và PTNT phát biểu tại lễ công bố. Ảnh: Đỗ Phương

Vì vậy, trong thời gian tới, đồng chí mong muốn TP Cẩm Phả tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức nhân dân, gắn xây dựng NTM với quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương; tiếp tục chỉ đạo các địa phương chú trọng nâng chất các tiêu chí sau đạt chuẩn; đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị các nông sản chủ lực; hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển sản xuất và sinh hoạt của người dân trên địa bàn nông thôn.

Phát biểu tại lễ công bố, ông Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Ninh khẳng định: Bộ mặt nông thôn của địa phương có nhiều khởi sắc, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện, đã xác định được sản phẩm chủ lực địa phương, cấp tỉnh, sản phẩm định hướng quốc gia..., góp phần cải thiện tinh thần đời sống nhân dân khu vực nông thôn, thu hẹp khoảng cách thành thị - nông thôn... tất cả đó là thành quả chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NMT đem lại.

Cam Pha hoan thanh NTM3

Đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh tặng Bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng NTM tại TP Cẩm Phả.

Nhân dịp này, tỉnh Quảng Ninh cũng đã trao thưởng số tiền 3 tỷ đồng cho 3 địa phương của TP Cẩm Phả hoàn thành xây dựng NTM, tặng bằng khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng NTM tại TP Cẩm Phả.

Theo: congthuong.vn

 

 

 
Bộ Công Thương tập trung ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển công nghiệp 4.0

Trước tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0), trong thời gian tới, bên cạnh việc nhanh chóng hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách một cách đồng bộ cho việc tiếp cận và khai thác thành quả của CMCN 4.0, Bộ Công Thương sẽ thúc đẩy, nâng cao hiệu quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp 4.0.


Tác động lớn tới tăng trưởng

Theo nhận định của Bộ Công Thương, CMCN 4.0 sẽ tác động mạnh mẽ tới mô hình tăng trưởng và mô hình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Việt Nam, đặt ra yêu cầu ngày càng lớn hơn đối với quá trình tái cơ cấu các ngành và tái cơ cấu đầu tư. Đặc biệt, sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong cơ cấu của các ngành công nghiệp, cơ cấu xuất nhập khẩu cũng như đóng góp của mỗi ngành trong tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế của nước ta thời gian tới.

Bên cạnh đó, CMCN 4.0 làm thay đổi phương thức giao dịch, từ đó xuất hiện nhiều các phương thức kinh doanh thương mại mới. CMCN 4.0 cũng sẽ tác động lớn tới lao động và việc làm, từ đó làm thay đổi bản chất của lao động, cách thức các yếu tố nguồn lực con người tham gia và gia tăng giá trị trong chuỗi giá trị công nghiệp.

Bo Cong Thuong

Ngành Công Thương đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình thí điểm về nhà máy thông minh

Trong sản xuất, việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến từ cuộc CMCN 4.0 vào quá trình sản xuất sẽ làm thay đổi bản chất cũng như vai trò của các yếu tố đầu vào truyền thống trong hoạt động sản xuất: vốn, lao động. Khoa học và công nghệ trở thành nguồn lực trực tiếp, tham gia vào các quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo ra các giá trị mới, sản phẩm mới, thậm chí là những ngành/lĩnh vực mới.

Tuy nhiên, cuộc CMCN lần thứ tư là xu thế tất yếu. Theo đó, chủ động tham gia CMCN 4.0 vừa là yêu cầu, vừa là thách thức mà Việt Nam cần phải nhanh chóng vượt qua để tận dụng tốt nhất những cơ hội mà cuộc cách mạng này mang lại. CMCN 4.0 phải được tiếp cận cả về chiều rộng lẫn chiều sâu để một mặt tạo môi trường bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế trong xã hội có thể tiếp cận, tận dụng các cơ hội từ cuộc CMCN 4.0, đồng thời, đảm bảo được sự tập trung nguồn lực vào khai thác các ngành, lĩnh vực có thế mạnh cạnh tranh của nền kinh tế và các ngành được ưu tiên phát triển.

Các chính sách được thiết lập cần tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, thúc đẩy phát triển cho mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội. Đồng thời, tập trung giải quyết những nguyên nhân và vấn đề có tính chất căn cơ để nâng cao năng lực và khả năng tiếp cận của cuộc cuộc CMCN lần thứ tư, trong đó đẩy mạnh nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp, từng bước nâng cao trình độ, khả năng hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp và phát triển nguồn nhân lực là động lực quan trọng nhất đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang nền sản xuất hiện đại, tiên tiến trong tương lai.

Do cuộc CMCN4.0 có khả năng thay đổi cục diện về phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, trong đó có Việt Nam, vì vậy, việc chúng ta có thể tham gia được vào cuộc cách mạng này hoặc định vị lại vị thế của Việt Nam trên bản đồ của nền sản xuất toàn cầu hay không hay tiếp tục tụt lại phía sau và không thể thoát ra khỏi “bẫy thu nhập trung bình” phụ thuộc vào việc lựa chọn chính sách phát triển kinh tế xã hội cũng như chính sách về phát triển khoa học và công nghệ thời điểm này.

Với một xuất phát điểm thấp, phần lớn các doanh nghiệp vẫn chưa sẵn sàng, Việt Nam cần lựa chọn một chiến lược tiếp cận phù hợp đối với cuộc CMCN 4.0. Chúng ta không thể có một mục tiêu và định hướng quá kỳ vọng, thiếu khả thi. Thay vào đó, chiến lược tiếp cận của Việt Nam nói chung và ngành Công Thương nói riêng trước mắt cần tập trung vào đổi mới, nâng cấp nền sản xuất hiện tại, đẩy nhanh quá trình này bằng việc tận dụng những cơ hội và hấp thu nhanh chóng các công nghệ hiện đại từ cuộc CMCN 4.0.

Chủ động nắm bắt thời cơ

Triển khai thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 4/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận CMCN lần thứ 4, Bộ Công Thương đã ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg tại Quyết định số 4246/QĐ-BCT ngày 10/11/2017.

Theo đó, đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo hiểu biết và nhận thức đúng, đầy đủ về bản chất, đặc trưng, cơ hội và thách thức của CMCN 4.0 đối với ngành Công Thương; triển khai công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về công nghiệp 4.0, đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình thí điểm về nhà máy thông minh trong ngành Công Thương; phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp 4.0; đánh giá tác động và tính sẵn sàng của doanh nghiệp tham gia vào cuộc CMCN 4.0

Trong thời gian tới, để chủ động tham gia vào cuộc CMCN4.0, công tác triển khai của Bộ Công Thương sẽ tập trung vào các vấn đề sau: Tiếp tục đẩy mạnh tổ chức triển khai Kế hoạch hành động của Bộ Công Thương thực hiện Chỉ thị 16/CT-TTg; nhanh chóng triển khai việc xây dựng Chiến lược phát triển ngành giai đoạn đến 2030, tầm nhìn đến 2035 trên quan điểm và cách thức tiếp cận với CMCN4.0; thực hiện rà soát, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách một cách đồng bộ cho việc tiếp cận và khai thác thành quả của CMCN4.0.

Bên cạnh đó, nhanh chóng hoàn thiện và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ triển khai các chương trình, đề án của Bộ về phát triển nguồn nhân lực công nghiệp kỹ thuật cao, phát triển các mô hình đào tạo phù hợp, thích ứng với yêu cầu của cuộc CMCN4.0; thúc đẩy, nâng cao hiệu quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển công nghiệp 4.0.

Tuy nhiên, để tận dụng tốt các cơ hội và có giải pháp nhanh chóng vượt qua các thách thức của cuộc CMCN 4.0, Bộ Công Thương kiến nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành xây dựng các chính sách nhằm cụ thể hóa các chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước, tập trung vào các vấn đề về phát triển khoa học và công nghệ, thiết lập hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng công nghệ số phục vụ quá trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển nguồn nhân lực..

Bộ Khoa học và Công nghệ cần sớm tổ chức và triển khai có hiệu quả Chương trình khoa học và công nghệ quốc gia về 4.0, trong đó, cần có cơ chế hiệu quả để tăng cường sự tham gia của các bộ chuyên ngành trong việc triển khai các nhiệm vụ về ứng dụng công nghệ 4.0 trong các ngành/lĩnh vực; có cơ chế hiệu quả để huy động nguồn lực, bao gồm cả nguồn lực của xã hội, doanh nghiệp tham gia vào hoạt đông nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ gắn với cuộc CMCN 4.0.

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động và Thương binh xã hội cần sớm ban hành và triển khai Chiến lược quốc gia về giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực cho cuộc CMCN 4.0. Đây cũng là căn cứ quan trọng các bộ chuyên ngành trong đó có Bộ Công Thương định hướng hoạt động đào tạo nguồn nhân lực của ngành; đồng thời là đầu vào quan trọng phục vụ quá trình tái cơ cấu, phát triển ngành trước yêu cầu của cuộc CMCN4.0.

Nguồn: https://congthuong.vn

 
Bộ Công Thương: Hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn qua chính sách khuyến công

Nhằm hỗ trợ các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, các làng nghề, thời gian qua, Bộ Công Thương đã tích cực triển khai các hoạt động theo quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến công. Trong đó tập trung các hoạt động khuyến công như: Hỗ trợ đào tạo, xây dựng thương hiệu sản phẩm, hỗ trợ phát triển thị trường,…


 

Một trong những vấn đề của ngành Công Thương được các đại biểu cử chi cả nước quan tâm trong Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XIV là chính sách quan tâm thúc đẩy công nghiệp làng nghề ở nông thôn vì đây là lĩnh vực có vị trí rất quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho một lượng lớn lao động nông nghiệp và tăng thu nhập cho nhân dân sinh sống ở các khu vực nông thôn.

BCT hotro sxcn

Nhiều chính sách phát triển công nghiệp nông thôn

Liên quan đến vấn đề này, Bộ Công Thương cho hay, phát triển công nghiệp làng nghề trên địa bàn nông thôn đã và đang được Đảng, Nhà nước và các địa phương quan tâm, là hướng đi tích cực để đẩy mạnh công nghiệp hóa nông thôn và góp phần hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 về phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó quy định Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan quản lý nhà nước về làng nghề, ngành nghề nông thôn tại Trung ương. Tại Nghị định đã quy định các cơ chế, chính sách để phát triển làng nghề và ngành nghề nông thôn.

Cơ sở công nghiệp nông thôn tại các làng nghề cũng là đối tượng thụ hưởng của Chương trình khuyến công, được hưởng đầy đủ các nội dung hỗ trợ của hoạt động khuyến công theo Nghị định số 45/2012/NĐ-CP. Do đó, Bộ Công Thương sẽ hỗ trợ phát triển công nghiệp làng nghề ở nông thôn từ hoạt động khuyến công theo các quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến công. Việc thực hiện chính sách khuyến công đối với các làng nghề hướng tới các nội dung của hoạt động khuyến công như: Hỗ trợ đào tạo, xây dựng thương hiệu sản phẩm, hỗ trợ phát triển thị trường, hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất, hỗ trợ xử lý môi trường.

Các địa phương cần chủ động xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách, bố trí nguồn lực, trong đó, đặc biệt quan tâm đến các chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm làng nghề (khoa học, công nghệ; xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu sản phẩm, sở hữu trí tuệ; đào tạo nguồn nhân lực; tiếp cận vốn tín dụng, đầu tư cơ sở hạ tầng đối với làng nghề, cụm công nghiệp làng nghề); quan tâm có các chính sách đối với nghệ nhân, thợ giỏi nghề thủ công mỹ nghệ, để hỗ trợ, thúc đẩy làng nghề, cụm công nghiệp làng nghề phát triển bền vững.

Theo: congthuong.vn/

 
« Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối »

Trang 1 trong tổng số 20

Hình ảnh hoạt động

  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Dành cho quảng cáo



Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay238
mod_vvisit_counterHôm qua433
mod_vvisit_counterTrong tuần3238
mod_vvisit_counterTuần trước2274
mod_vvisit_counterTrong tháng7099
mod_vvisit_counterTháng trước0
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ421716

Khách trực tuyến: 22
IP của bạn: 172.69.63.34
Hôm nay 25 tháng 08 năm 2019