Sản xuất sạch hơn
Động thổ dự án Tổ hợp công nghiệp phụ trợ ô tô Thành Công Việt Hưng
Ngày 22/09/2020,Tập đoàn Thành Công đã chính thức động thổ dự án đầu tư xây dựng Tổ hợp công nghiệp phụ trợ ô tô Thành Công Việt Hưng tại TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Tổ hợp được xây dựng trên tổng diện tích 340ha với vị trí chiến lược, nằm ngay bên bờ vịnh Cửa Lục, thuận tiện cho cả giao thương nội địa và quốc tế.

Tổ hợp công nghiệp phụ trợ ô tô Thành Công Việt Hưng là kết quả hợp tác giữa tỉnh Quảng Ninh và Tập đoàn Thành Công, tương lai của Tổ hợp sẽ là nơi thu hút và quy tụ nhiều doanh nghiệp trong ngành phụ trợ ô tô, sản xuất linh kiện và phụ tùng, đặc biệt là những bộ phận có hàm lượng công nghệ cao. Điều này sẽ dễ dàng tạo ra sự hợp tác, liên kết và chuyên môn hóa giữa các doanh nghiệp trong ngành.

0821-thanh-cong-viet-hung-1
Ông Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch UBND phát biểu tại buổi lễ động thổ Dự án

Đồng thời, những sản phẩm của Tổ hợp sẽ không dừng lại là nguồn cung cho các hoạt động sản xuất kinh doanh ô tô cốt lõi hiện tại của Tập đoàn Thành Công, mà còn hướng tới xuất khẩu, mang giá trị của ngành công nghiệp phụ trợ ô tô Việt Nam tiếp cận tới các thị trường khu vực và thế giới. Hướng đi này hoàn toàn phù hợp với định hướng của Chính phủ là gia tăng tỉ lệ nội địa hóa, tăng khả năng tự chủ trong sản xuất ô tô Việt Nam, đưa ngành công nghiệp ô tô trở thành ngành quan trọng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng của đất nước.

0822-thanh-cong-viet-hung-2
Các vị đại biểu nhấn nút phát tín hiệu bắt đầu lễ động thổ Tổ hợp công nghiệp phụ trợ ô tô Thành Công Việt Hưng

Tại buổi lễ, ông Lê Ngọc Đức, Tổng giám đốc Tập đoàn Thành Công cho biết: “Sự kiện hôm nay cũng là nghi thức khởi động triển khai đầu tư đầu tiên của Tập đoàn Thành Công tại Quảng Ninh. Những sản phẩm từ Tổ hợp Công nghiệp phụ trợ ô tô Thành Công Việt Hưng với hàm lượng công nghệ - kỹ thuật cao sẽ là điểm khởi đầu để Quảng Ninh tiếp tục thực hiện mạnh mẽ hơn nữa chủ trương thu hút các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo, sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường và phát triển kinh tế theo hướng bền vững.”.

0824-thanh-cong-viet-hung-3
Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải tham dự buổi lễ động thổ dự án đầu tư xây dựng Tổ hợp công nghiệp phụ trợ ô tô Thành Công Việt Hưng

Trong nhiều năm trở lại đây, Tập đoàn Thành Công thực sự ấn tượng trước những cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh một cách quyết liệt và bền vững của Quảng Ninh. Tỉnh đã tạo được niềm tin và sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư, trở thành một địa phương thu hút mạnh mẽ nhiều Tập đoàn tư nhân và dự án lớn cả trong và ngoài nước theo định hướng chuyển đổi mục tiêu tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh” mà tỉnh đã đề ra. Bên cạnh đó, Quảng Ninh cũng là một trong những cầu nối trực tiếp và quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế; là cửa ngõ giao lưu kinh tế quan trọng giữa các tỉnh, thành phố của Việt Nam và khu vực thương mại tự do ASEAN, rất thuận lợi để phát triển công nghiệp phụ trợ ô tô.

Khởi đầu ở lĩnh vực công nghiệp ô tô vào năm 1999, đến nay sau hơn 20 năm hoạt động, Tập đoàn Thành Công, với đại diện là TC MOTOR, khối ô tô của Tập đoàn đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường. Hiện nay, TC MOTOR được xem là doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất & phân phối ô tô, với hơn 20.000 nhân sự trực thuộc Tập đoàn cũng như hệ thống đại lý. Sự phát triển thể hiện ở tổng doanh số năm 2019 đạt 79.568 xe tăng trưởng 26% so với năm 2018 và con số này sẽ tiếp tục được tăng trưởng.

Tiến Dũng

 

 
Cẩm Phả tập trung di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp

Năm 2020, Cẩm Phả đặt ra mục tiêu di dời 150/435 cơ sở tiểu thủ công nghiệp (TTCN) gây ô nhiễm môi trường, hoặc phải di dời theo quy hoạch đô thị ra khỏi khu dân cư trên địa bàn. Do đó, thành phố đang nỗ lực thực hiện các giải pháp để hoàn thành mục tiêu đề ra.

Công ty CP Xây dựng, sản xuất và thương mại Trường Giang đang thực hiện tháo dỡ, di dời nhà xưởng.
Công ty CP Xây dựng, sản xuất và thương mại Trường Giang đang thực hiện tháo dỡ, di dời nhà xưởng.

Thời gian qua, TP Cẩm Phả đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị đôn đốc thực hiện di dời cơ sở TTCN. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục các cơ sở thực hiện di dời. Đặc biệt, ngay sau HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết 201/2019/NQ-HĐND ngày 30/7/2019, địa phương đã thành lập tổ công tác để tuyên truyền nội dung của chính sách tới các cơ sở. Đồng thời, thành lập Ban chỉ đạo di dời cơ sở TTCN, thành lập tổ giúp việc, xây dựng kế hoạch thực hiện với nội dung, lộ trình có thứ tự ưu tiên cụ thể. Các cơ quan, đơn vị chuyên môn, phường, xã cũng tích cực hướng dẫn các cơ sở hoàn thiện hồ sơ, thủ tục để thẩm định, hỗ trợ theo quy định.

Bên cạnh đó, thành phố cũng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư xây dựng CCN Cẩm Thịnh nhanh chóng đưa vào hoạt động trong năm 2019, cũng như từng bước mở rộng CCN với diện tích 7,28ha. Đến nay, toàn thành phố có 430 cơ sở đăng ký di dời, 5 cơ sở chưa rõ ý kiến. Trong đó có 147 cơ sở đã chuyển đổi nghề, chấm dứt hoạt động hoặc xây dựng nhà xưởng tại CCN Cẩm Thịnh.

Thực tế cho thấy, việc di dời các cơ sở TTCN gặp nhiều khó khăn. Một số cơ sở có nhu cầu thuê đất trong CCN với diện tích nhỏ từ 300-400m2 hiện chưa được bàn giao ô đất do cơ sở hạ tầng tại khu vực mở rộng của CCN chưa được hoàn thành. Nhiều cơ sở có đầy đủ thủ tục pháp lý để hoạt động song theo quy định của tỉnh, các cơ sở này vẫn thuộc đối tượng phải di dời. Do đó, một số đối tượng chây ỳ, chưa đồng thuận với chủ trương, chưa chấp hành di dời. Việc thiết lập hồ sơ, quy trình các bước cưỡng chế đối với cơ sở này gặp nhiều khó khăn do không đủ căn cứ.

TP Cẩm Phả tiếp tục đôn đốc Công ty CP Công nghiệp Cẩm Thịnh - chủ đầu tư CCN Cẩm Thịnh hoàn thiện việc đầu tư hạ tầng khu vực mở rộng trước ngày 31/8/2020.
TP Cẩm Phả tiếp tục đôn đốc Công ty CP Công nghiệp Cẩm Thịnh - chủ đầu tư CCN Cẩm Thịnh hoàn thiện việc đầu tư hạ tầng khu vực mở rộng trước ngày 31/8/2020.

Theo ý kiến của một số cơ sở TTCN, hiện đang là quý II, thời điểm này các cơ sở đang cần ổn định để tăng cường sản xuất cho dịp cuối năm, nên việc bố trí tiền để thuê đất gặp khó khăn, khiến chủ đầu tư CCN chưa ký hợp đồng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bàn giao mặt bằng. Điều này khiến công tác di chuyển cơ sở TTCN ra khỏi khu dân cư tại TP Cẩm Phả gặp nhiều khó khăn. Thêm vào đó, dịch Covid-19 đã tác động rất lớn từ việc tuyên truyền, vận động, rà soát của phòng, ban và địa phương cho đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở.

Ông Hoàng Văn Cường, Phó Trưởng phòng Kinh tế, TP Cẩm Phả, cho biết: Việc di dời cơ sở TTCN ra khỏi khu dân cư không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH địa phương, mà còn tạo điều kiện cải thiện môi trường khu dân cư, bảo vệ môi trường, văn minh đô thị. Để hoàn thành kế hoạch năm 2020, thành phố đang tiếp tục đôn đốc Công ty CP Công nghiệp Cẩm Thịnh - chủ đầu tư CCN Cẩm Thịnh hoàn thiện việc đầu tư hạ tầng khu vực mở rộng trước ngày 31/8/2020. Thành phố sẽ tăng cường kiểm tra các cơ sở chưa di dời để phát hiện, xử lý vi phạm theo quy định. Bên cạnh đó, thành phố sẽ tăng cường tuyên truyền, vận động, thuyết phục các cơ sở đã đăng ký thuê đất giai đoạn 1 khẩn trương đi vào hoạt động, tổ chức cho cơ sở bốc thăm ô đất đăng ký giai đoạn mở rộng khi được phê duyệt quy hoạch, hoàn thiện hạ tầng, đẩy nhanh tiến độ giải ngân hỗ trợ, qua đó, giúp các cơ sở nhanh chóng ổn định sản xuất kinh doanh, giảm thiểu ô nhiễm trong khu dân cư, bảo vệ môi trường.

Hạ An

http://www.baoquangninh.com.vn/kinh-te/202008/cam-pha-tap-trung-di-doi-cac-co-so-tieu-thu-cong-nghiep-2494920/

 
Sản xuất sạch ở Nhiệt điện Mông Dương

Chuyển đổi nhiên liệu sử dụng trong đốt lò, xử lý khí thải và tro, xỉ đảm bảo hoạt động của nhiệt điện than nhằm giảm phát thải khí nhà kính ra môi trường, hướng đến sản xuất sạch hơn là những biện pháp mà Công ty Nhiệt điện Mông Dương đã và đang triển khai.  

Là doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty Phát điện 3, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, chính thức đi vào vận hành và phát điện thương mại từ năm 2015, Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương được đánh giá là nhà máy hiện đại, công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường. Đặc biệt nhà máy là công trình nhiệt điện đầu tiên của EVN sử dụng công nghệ lò hơi tầng sôi tuần hoàn (CFB), đây là công nghệ tiên tiến nhất thế giới hiện nay có ưu điểm sử dụng than xấu có nhiệt trị thấp, giúp cháy kiệt nhiên liệu, giảm khí thải và lượng tro xỉ ra môi trường.
Đối với việc xử lý khí thải, công ty đã đầu tư gần 10 tỷ đồng cải tiến thiết bị, công nghệ để đưa hệ thống ESP vào vận hành ngay khi bắt đầu khởi động lò, cũng như hoàn thành chuyển đổi sử dụng nhiên liệu đốt lò từ dầu FO sang dầu DO dùng cho quá trình lên xuống lò hơi cũng như quá trình xử lý sự cố trong vận hành hoặc đốt kèm để giảm tải để ngừng lò và đưa lọc bụi tĩnh điện vào hoạt động ngay từ khi bắt đầu đốt các vòi dầu của lò hơi. Việc chuyển đổi thành công dùng dầu DO thay thế dầu FO đã giải quyết tuyệt đối vấn đề môi trường do ngay từ khi khởi động đã được công ty đưa ngay lọc bụi vào làm việc nên tình trạng khói đen không còn ra khỏi ống khói như trước đây. Đồng thời, trong quá trình vận hành xảy ra tình trạng sự cố giúp công ty khôi phục lại rất nhanh vì hiện tượng tắc vòi dầu không còn.

Phòng điều khiển trung tâm của Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương
Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 1 có tổng công suất thiết kế là 1.080MW, gồm 02 tổ máy, công suất mỗi tổ máy là 540MW. Nhà máy sử dụng nhiên liệu chính là than cám 6a.1 theo tiêu chuẩn TCVN 8910:2015 hàm lượng tro, xỉ trung bình khoảng 37,5%, mỗi năm tiêu thụ khoảng 3,5 triệu tấn than, thải ra khoảng 1,3 triệu tấn tro, xỉ, trong đó khối lượng xỉ đáy lò khoảng 525.000 tấn (chiếm 40%) và tro bay khoảng 787.500 tấn (chiếm 60%). Tùy theo nhu cầu sử dụng tro xỉ được xả từ các silo xuống các phương tiện vận chuyển đi tiêu thụ hoặc đưa lên bãi xỉ 1.
Để xử lý vấn đề này, đối với xỉ đáy đến thời điểm hiện tại, Nhà máy tiêu thụ và xuất bán được khoảng 50% lượng xỉ đáy thải ra. Lượng còn lại 50% công ty đã tổ chức thuê vận chuyển đi san lấp tại một số khu vực tại Cẩm Phả theo nhu cầu của Chủ đầu tư. Còn đối với tro bay, khoảng 20% -30% thải ra hàng tháng được vận chuyển đi tiêu thụ làm vật liệu xây dựng, cung cấp cho các nhà máy xi măng như: Nhà máy xi măng Bút Sơn, Nhà máy xi măng Long Sơn…và một số nhà máy tại khu vực Hải Dương, Bắc Ninh.
Lượng tro bay còn lại (chiếm 70-80%) sử dụng để san lấp, Công ty ký hợp đồng với Công ty CP đầu tư Minh Phong vận chuyển đi san lấp tại một số khu vực có nhu cầu san lấp đã được UBND tỉnh Quảng Ninh chấp thuận cho san lấp như: Cụm công nghiệp Cẩm Thịnh-Cẩm Phả-Quảng Ninh, khu đô thị Quảng Hồng-Cẩm Phả-Quảng Ninh.
Ngoài ra, Công ty cũng xây dựng hệ thống xử lý tro xỉ, khí thải, nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại…với công nghệ đồng bộ, có liên kết chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau. Toàn bộ lượng tro xỉ của Nhà máy được chuyển qua hệ thống trạm bơm và đường ống thải xỉ bằng phương pháp thải xỉ ướt giúp không phát tán bụi ra môi trường, lượng xỉ ướt nàu được chuyển ra điểm tập kết tại bãi thải xỉ số 1 (cách xa Nhà máy cũng như khu dân cư).

Bãi tro xỉ của Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương
Nhằm kiểm soát các chất thải và khí thải ra môi trường, Công ty đã lắp đặt hệ thống thiết bị tự động quan trắc tự động, giám sát liên tục các thông số khói thải, nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, hệ thống camera, khí thải, hệ thống lấy mẫu nước thải tự động; hệ thống công tơ đo đếm điện năng lọc bụi tĩnh điện. Tất cả được kết nối online truyền số liệu thông số môi trường về Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Quảng Ninh nhằm công khai, minh bạch các thông số phát thải của nhà máy. Đồng thời công ty cũng hoàn thành công tác cấu hình hệ số ô xy tham chiếu cho các thiết bị giám sát khí thải lò hơi và cấu hình trạng thái thiết bị giám sát môi trường theo quy định tại Thông tư số 24/2017/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Chỉ tính riêng quý 3/2019, Công ty đã nộp vào ngân sách của địa phương gần 110 triệu đồng gồm phí bảo vệ môi trường và thuế tài nguyên nước. Do làm tốt công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường cũng như công tác tuyên truyền nên từ đầu năm 2019 đến công ty đã không để xảy ra trường hợp nào vi phạm về môi trường.
Không chỉ làm tốt công tác môi trường, trong những năm qua Công ty Nhiệt điện Mông Dương luôn coi công tác an sinh xã hội, các chương trình hỗ trợ cộng đồng là nhiệm vụ chính trị xã hội quan trọng để góp phần xây dựng hình ảnh thân thiện và có trách nhiệm với cộng đồng của Công ty và với ngành điện. Để xây dựng hình ảnh và đẩy mạnh quảng bá thương hiệu, Công ty đã thực hiện công tác ASXH, ủng hộ cho địa phương với giá trị gần 600 triệu đồng như tặng 100 bộ bàn ghế cho Trường Tiểu học và THCS xã Cẩm Hải; trao tặng 10 điều hòa cho Trường Mầm non Cẩm Hải; tặng quà ủng hộ cho các hoàn cảnh khó khăn tại địa phương, xây nhà tình nghĩa, ủng hộ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đóng góp cho các quỹ hộ trợ với tổng giá trị đến hết quý III/2019 là hơn 240 triệu đồng, và đang tiếp tục triển khai các chương trình hành động nhằm giúp đỡ, tương trợ những hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn nơi Công ty đóng chân và CBCNV trong ngành điện nhằm góp phần lan tỏa nghĩa tình ngành điện đến cộng đồng xã hội và những địa phương còn nhiều khó khăn.
Trong thời gian tới, Công ty Nhiệt điện Mông Dương tiếp tục chú trọng, chuẩn bị các nguồn lực để hoàn thành nhiệm vụ SXKD, đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của quốc gia. Song song với đó là đảm bảo công tác môi trường, và thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, hỗ trợ cộng đồng.
Công ty Nhiệt điện Mông Dương được Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)/ Tổng công ty Phát điện 3 (EVNGENCO3) giao quản lý, vận hành Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 1 (công suất 1080MW), mỗi năm, Nhà máy cung cấp cho hệ thống điện quốc gia khoảng 6,5 tỷkWh, góp phần vào đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và phát triển kinh tế xã hội tại vùng kinh tế trọng điểm đông Bắc Bộ.
Theo Báo Công Thương

 

 
 
Sản xuất sạch ở Nhiệt điện Mông Dương

Chuyển đổi nhiên liệu sử dụng trong đốt lò, xử lý khí thải và tro, xỉ đảm bảo hoạt động của nhiệt điện than nhằm giảm phát thải khí nhà kính ra môi trường, hướng đến sản xuất sạch hơn là những biện pháp mà Công ty Nhiệt điện Mông Dương đã và đang triển khai.  

Là doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty Phát điện 3, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, chính thức đi vào vận hành và phát điện thương mại từ năm 2015, Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương được đánh giá là nhà máy hiện đại, công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường. Đặc biệt nhà máy là công trình nhiệt điện đầu tiên của EVN sử dụng công nghệ lò hơi tầng sôi tuần hoàn (CFB), đây là công nghệ tiên tiến nhất thế giới hiện nay có ưu điểm sử dụng than xấu có nhiệt trị thấp, giúp cháy kiệt nhiên liệu, giảm khí thải và lượng tro xỉ ra môi trường.
Đối với việc xử lý khí thải, công ty đã đầu tư gần 10 tỷ đồng cải tiến thiết bị, công nghệ để đưa hệ thống ESP vào vận hành ngay khi bắt đầu khởi động lò, cũng như hoàn thành chuyển đổi sử dụng nhiên liệu đốt lò từ dầu FO sang dầu DO dùng cho quá trình lên xuống lò hơi cũng như quá trình xử lý sự cố trong vận hành hoặc đốt kèm để giảm tải để ngừng lò và đưa lọc bụi tĩnh điện vào hoạt động ngay từ khi bắt đầu đốt các vòi dầu của lò hơi. Việc chuyển đổi thành công dùng dầu DO thay thế dầu FO đã giải quyết tuyệt đối vấn đề môi trường do ngay từ khi khởi động đã được công ty đưa ngay lọc bụi vào làm việc nên tình trạng khói đen không còn ra khỏi ống khói như trước đây. Đồng thời, trong quá trình vận hành xảy ra tình trạng sự cố giúp công ty khôi phục lại rất nhanh vì hiện tượng tắc vòi dầu không còn.

Phòng điều khiển trung tâm của Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương
Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 1 có tổng công suất thiết kế là 1.080MW, gồm 02 tổ máy, công suất mỗi tổ máy là 540MW. Nhà máy sử dụng nhiên liệu chính là than cám 6a.1 theo tiêu chuẩn TCVN 8910:2015 hàm lượng tro, xỉ trung bình khoảng 37,5%, mỗi năm tiêu thụ khoảng 3,5 triệu tấn than, thải ra khoảng 1,3 triệu tấn tro, xỉ, trong đó khối lượng xỉ đáy lò khoảng 525.000 tấn (chiếm 40%) và tro bay khoảng 787.500 tấn (chiếm 60%). Tùy theo nhu cầu sử dụng tro xỉ được xả từ các silo xuống các phương tiện vận chuyển đi tiêu thụ hoặc đưa lên bãi xỉ 1.
Để xử lý vấn đề này, đối với xỉ đáy đến thời điểm hiện tại, Nhà máy tiêu thụ và xuất bán được khoảng 50% lượng xỉ đáy thải ra. Lượng còn lại 50% công ty đã tổ chức thuê vận chuyển đi san lấp tại một số khu vực tại Cẩm Phả theo nhu cầu của Chủ đầu tư. Còn đối với tro bay, khoảng 20% -30% thải ra hàng tháng được vận chuyển đi tiêu thụ làm vật liệu xây dựng, cung cấp cho các nhà máy xi măng như: Nhà máy xi măng Bút Sơn, Nhà máy xi măng Long Sơn…và một số nhà máy tại khu vực Hải Dương, Bắc Ninh.
Lượng tro bay còn lại (chiếm 70-80%) sử dụng để san lấp, Công ty ký hợp đồng với Công ty CP đầu tư Minh Phong vận chuyển đi san lấp tại một số khu vực có nhu cầu san lấp đã được UBND tỉnh Quảng Ninh chấp thuận cho san lấp như: Cụm công nghiệp Cẩm Thịnh-Cẩm Phả-Quảng Ninh, khu đô thị Quảng Hồng-Cẩm Phả-Quảng Ninh.
Ngoài ra, Công ty cũng xây dựng hệ thống xử lý tro xỉ, khí thải, nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại…với công nghệ đồng bộ, có liên kết chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau. Toàn bộ lượng tro xỉ của Nhà máy được chuyển qua hệ thống trạm bơm và đường ống thải xỉ bằng phương pháp thải xỉ ướt giúp không phát tán bụi ra môi trường, lượng xỉ ướt nàu được chuyển ra điểm tập kết tại bãi thải xỉ số 1 (cách xa Nhà máy cũng như khu dân cư).

Bãi tro xỉ của Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương
Nhằm kiểm soát các chất thải và khí thải ra môi trường, Công ty đã lắp đặt hệ thống thiết bị tự động quan trắc tự động, giám sát liên tục các thông số khói thải, nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, hệ thống camera, khí thải, hệ thống lấy mẫu nước thải tự động; hệ thống công tơ đo đếm điện năng lọc bụi tĩnh điện. Tất cả được kết nối online truyền số liệu thông số môi trường về Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Quảng Ninh nhằm công khai, minh bạch các thông số phát thải của nhà máy. Đồng thời công ty cũng hoàn thành công tác cấu hình hệ số ô xy tham chiếu cho các thiết bị giám sát khí thải lò hơi và cấu hình trạng thái thiết bị giám sát môi trường theo quy định tại Thông tư số 24/2017/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Chỉ tính riêng quý 3/2019, Công ty đã nộp vào ngân sách của địa phương gần 110 triệu đồng gồm phí bảo vệ môi trường và thuế tài nguyên nước. Do làm tốt công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường cũng như công tác tuyên truyền nên từ đầu năm 2019 đến công ty đã không để xảy ra trường hợp nào vi phạm về môi trường.
Không chỉ làm tốt công tác môi trường, trong những năm qua Công ty Nhiệt điện Mông Dương luôn coi công tác an sinh xã hội, các chương trình hỗ trợ cộng đồng là nhiệm vụ chính trị xã hội quan trọng để góp phần xây dựng hình ảnh thân thiện và có trách nhiệm với cộng đồng của Công ty và với ngành điện. Để xây dựng hình ảnh và đẩy mạnh quảng bá thương hiệu, Công ty đã thực hiện công tác ASXH, ủng hộ cho địa phương với giá trị gần 600 triệu đồng như tặng 100 bộ bàn ghế cho Trường Tiểu học và THCS xã Cẩm Hải; trao tặng 10 điều hòa cho Trường Mầm non Cẩm Hải; tặng quà ủng hộ cho các hoàn cảnh khó khăn tại địa phương, xây nhà tình nghĩa, ủng hộ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đóng góp cho các quỹ hộ trợ với tổng giá trị đến hết quý III/2019 là hơn 240 triệu đồng, và đang tiếp tục triển khai các chương trình hành động nhằm giúp đỡ, tương trợ những hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn nơi Công ty đóng chân và CBCNV trong ngành điện nhằm góp phần lan tỏa nghĩa tình ngành điện đến cộng đồng xã hội và những địa phương còn nhiều khó khăn.
Trong thời gian tới, Công ty Nhiệt điện Mông Dương tiếp tục chú trọng, chuẩn bị các nguồn lực để hoàn thành nhiệm vụ SXKD, đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của quốc gia. Song song với đó là đảm bảo công tác môi trường, và thực hiện tốt công tác an sinh xã hội, hỗ trợ cộng đồng.
Công ty Nhiệt điện Mông Dương được Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN)/ Tổng công ty Phát điện 3 (EVNGENCO3) giao quản lý, vận hành Nhà máy Nhiệt điện Mông Dương 1 (công suất 1080MW), mỗi năm, Nhà máy cung cấp cho hệ thống điện quốc gia khoảng 6,5 tỷkWh, góp phần vào đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và phát triển kinh tế xã hội tại vùng kinh tế trọng điểm đông Bắc Bộ.
Theo Báo Công Thương

 

 
 
Sản xuất sạch hơn – Cần hiểu thế nào cho đúng?

 

Khái niệm mặc dù “sản xuất sạch hơn” đã được giới thiệu vào nước ta từ năm 1995. Song đến thời điểm hiện nay, không ít doanh nghiệp người vẫn chưa hiểu đúng về khái niệm này.

Sản xuất sạch hơn là gì?

Theo định nghĩa của UNEP (Chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc): Sản xuất sạch hơn là việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường.

       – Đối với quá trình sản xuất: Sản xuất sạch hơn bao gồm bảo toàn nguyên liệu và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và giảm lượng và tính độc hại của tất cả các chất thải ngay tại nguồn thải.

       –  Đối với sản phẩm: Sản xuất sạch hơn bao gồm việc giảm các ảnh hưởng tiêu cực trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm, từ khâu thiết kế đến thải bỏ.

       –  Đối với dịch vụ: Sản xuất sạch hơn đưa các yếu tố về môi trường vào trong thiết kế và phát triển các dịch vụ.

Các khái niệm tương tự với sản xuất sạch hơn là: Giảm thiểu chất thải; Phòng ngừa ô nhiễm; Năng suất xanh… Về cơ bản, các khái niệm này đều giống với sản xuất sạch hơn; đều cùng có ý tưởng cơ sở là làm cho các doanh nghiệp hiệu quả hơn và ít ô nhiễm hơn.

Mục tiêu hướng tới của sản xuất sạch hơn

Mục tiêu của sản xuất sạch hơn là tránh ô nhiễm bằng cách sử dụng tài nguyên, nguyên vật liệu và năng lượng một cách có hiệu quả nhất. Điều này có nghĩa là thay vì bị thải bỏ sẽ có thêm một tỷ lệ nguyên vật liệu nữa được chuyển vào thành phẩm.

Khác với suy nghĩ truyền thống về môi trường là tập trung vào vấn đề phải làm gì với các chất thải và phát thải đã phát sinh. Sản xuất sạch hơn hướng tới việc tránh hay giảm thiểu được các chất thải và ô nhiễm trước khi chúng được sinh ra.

Sự khác nhau cơ bản giữa kiểm soát ô nhiễm và sản xuất sạch hơn là thời điểm thực hiện. Kiểm soát ô nhiễm được thực hiện sau khi đã có các chất thải, hay nói cách khác là tiếp cận “phản ứng và xử lý”. Trong khi đó, sản xuất sạch hơn là tiếp cận chủ động, theo hướng “dự đoán và phòng ngừa” theo phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Bên cạnh việc giảm thiểu các chất thải và ô nhiễm thông qua sản xuất sạch hơn, giảm nguyên liệu và năng lượng tiêu thụ. Sản xuất sạch hơn phấn đấu đạt hiệu suất sử dụng nguyên liệu trong phạm vi khả thi kinh tế cao sao cho càng gần 100% càng tốt.

Trên thực tế, sản xuất sạch hơn không chỉ là vấn đề thay đổi thiết bị mà còn là thay đổi thái độ, áp dụng bí quyết công nghệ và cải thiện quá trình sản xuất và sản phẩm.

Như vậy, sản xuất sạch hơn mang lại các lợi ích kinh tế song song với giảm tải lượng ô nhiễm. Sản xuất sạch hơn đồng nghĩa với giảm thiểu chất thải và phòng ngừa ô nhiễm. Sản xuất sạch hơn cũng là một bước hữu ích cho hệ thống quản lý môi trường như ISO14000.

VNCPC

 
 
Giới thiệu về sản xuất sạch hơn
       Kể từ khi khái niệm “Sản xuất sạch hơn” (UNEP) lần đầu tiên được giới thiệu vào nước ta năm 1995, đến nay khái niệm này đã được nhiều người biết đến hơn. Việc hiểu và nắm rõ phương pháp luận này là yếu tố then chốt đảm bảo cho công tác triển khai thực hiện SXSH tại địa phương hay tại doanh nghiệp. Yêu cầu quảng bá rộng rãi khái niệm hay phương pháp luận này cũng là một trong những mục tiêu quan trọng trong Chiến lược Sản xuất sạch hơn trong Công nghiệp đến năm 2020.

       I. Sản xuất sạch hơn là gì?
       1. Khái niệm

       UNEP định nghĩa sản xuất sạch hơn là việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường.
       - Đối với quá trình sản xuất: sản xuất sạch hơn bao gồm bảo toàn nguyên liệu và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và giảm lượng và tính độc hại của tất cả các chất thải ngay tại nguồn thải.
       - Đối với sản phẩm: sản xuất sạch hơn bao gồm việc giảm các ảnh hưởng tiêu cực trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm, từ khâu thiết kế đến thải bỏ.
       - Đối với dịch vụ:sản xuất sạch hơn đưa các yếu tố về môi trường vào trong thiết kế và phát triển các dịch vụ.
       2. Mục tiêu
       Mục tiêu của sản xuất sạch hơn là tránh ô nhiễm bằng cách sử dụng tài nguyên, nguyên vật liệu và năng lượng một cách có hiệu quả nhất. Điều này có nghĩa là thay vì bị thải bỏ sẽ có thêm một tỷ lệ nguyên vật liệu nữa được chuyển vào thành phẩm. Để đạt được điều này cần phải phân tích một cách chi tiết và hệ thống trình tự vận hành cũng như thiết bị sản xuất hay yêu cầu một Đánh giá về sản xuất sạch hơn.
       II. Các giải pháp về sản xuất sạch hơn
       Các giải pháp sản xuất sạch hơn không chỉ đơn thuần là thay đổi thiết bị, mà còn là các thay đổi trong vận hành và quản lý của một doanh nghiệp. Các giải pháp sản xuất sạch hơn có thể được chia thành các nhóm sau:
       - Giảm chất thải tại nguồn.
       - Tuần hoàn.
       - Cải tiến sản phẩm.
       1. Giảm chất thải tại nguồn: Về cơ bản, ý tưởng của sản xuất sạch hơn là tìm hiểu tận gốc của ô nhiễm.
       - Quản lý nội vi là một loại giải pháp đơn giản nhất của sản xuất sạch hơn. Quản lý nội vi không đòi hỏi chi phí đầu tư và có thể được thực hiện ngay sau khi xác định được các giải pháp. Các ví dụ của quản lý nội vi có thể là khắc phục các điểm rò rỉ, đóng van nước hay tắt thiết bị khi không sử dụng dể tránh tổn thất. Mặc dù quản lý nội vi là đơn giản nhưng vẫn cần có sự quan tâm của ban lãnh đạo cũng như việc đào tạo nhân viên.
       - Kiểm soát quá trình tốt hơn để đảm bảo các điều kiện sản xuất được tối ưu hoá về mặt tiêu thụ nguyên liệu, sản xuất và phát sinh chất thải. Các thông số của quá trình sản xuất như nhiệt độ, thời gian, áp suất, pH, tốc độ... cần được giám sát và duy trì càng gần với điều kiện tối ưu càng tốt. Cũng như với quản lý nội vi, việc kiểm soát quá trình tốt hơn đòi hỏi các quan tâm của ban lãnh đạo cũng như việc giám sát ngày một hoàn chỉnh hơn.
       - Thay đổi nguyên liệu là việc thay thế các nguyên liệu đang sử dụng bằng các nguyên liệu khác thân thiện với môi trường hơn. Thay đổi nguyên liệu còn có thể là việc mua nguyên liệu có chất lượng tốt hơn để đạt được hiệu suất sử dụng cao hơn. Thông thường lượng nguyên liệu sử dụng, chất lượng của nguyên liệu và sản phẩm có mối quan hệ trực tiếp với nhau.
      - Cải tiến thiết bị là việc thay đổi thiết bị đã có để nguyên liệu tổn thất ít hơn. Việc cải tiến thiết bị có thể là điều chỉnh tốc độ máy, là tối ưu kích thước kho chứa, là việc bảo ôn bề mặt nóng/lạnh, hoặc thiết kế cải thiện các bộ phận cần thiết trong thiết bị. Một ví dụ của mạ điện là lắp đặt cẩu vớt để thu hồi phần rơi vãi từ các chi tiết được mạ.
       - Công nghệ sản xuất mới là việc lắp đặt các thiết bị hiện dại và có hiệu quả hơn, ví dụ như lắp đặt nồi hơi hiệu suất cao hơn hay lắp đặt máy nhuộm Jet sử dụng dung tỷ thấp hơn. Giải pháp này yêu cầu chi phí đầu tư cao hơn các giải pháp sản xuất sạch khác, do đó cần phải được nghiên cứu cẩn thận. Mặc dù vậy, tiềm năng tiết kiệm và cải thiện chất lượng có thể cao hơn so với các giải pháp khác.
       2. Tuần hoàn: Có thể tuần hoàn các loại dòng thải không thể tránh được trong khu vực sản xuất hoặc bán ra như một loại sản phẩm phụ.
       - Tận thu và tái sử dụng tại chỗ là việc thu thập "chất thải" và sử dụng lại cho quá trình sản xuất. Một ví dụ đơn giản của giải pháp này là sử dụng lại nước giặt từ một quá trình cho quá trình giặt khác.
       - Tạo ra các sản phẩm phụ là việc thu thập (và xử lý) "các dòng thải" để có thể trở thành một sản phẩm mới hoặc bán ra cho các cơ sở sản xuất khác. Ví dụ lượng men bia dư thừa có thể được sử dụng làm thức ăn cho lợn, cho cá hay làm các chất độn thực phẩm.
       3. Thay đổi sản phẩm: Cải thiện chất lượng sản phẩm để làm giảm ô nhiễm cũng là một ý tưởng cơ bản của sản xuất sạch hơn.
       - Đổi mới sản phẩm là việc xem xét lại sản phẩm và các yêu cầu đối với sản phẩm đó. Chẳng hạn như trong quá trình sản xuất nếu có thể thay một cái nắp đậy kim loại đã được sơn bằng một cái nắp đậy bằng nhựa cho một số sản phẩm nhất định thì dã tránh được các vấn đề về môi trường cũng như các chi phí để sơn hoàn thiện nắp đậy dó. Cải thiện thiết kế sản phẩm có thể đem lại tiết kiệm về tiêu thụ nguyên liệu và lượng hoá chất độc hại sử dụng.
       - Cải tiến bao gói có thể là quan trọng. Vấn đề cơ bản là giảm thiểu bao bì sử dụng, đồng thời bảo vệ được sản phẩm. Một ví dụ trong nhóm giải pháp này là sử dụng bìa cac-tông cũ thay cho các loại xốp để bảo vệ các vật dễ vỡ.
       III. Lợi ích của sản xuất sạch hơn.
       - Cải thiện hiệu suất sản xuất.
       - Sử dụng nguyên liệu, nước, năng lượng có hiệu quả hơn.
       - Tái sử dụng phần bán thành phẩm có giá trị.
       - Giảm ô nhiễm.
       - Giảm chi phí xử lý và thải bỏ các chất thải rắn, nước thải, khí thải.
       - Tạo nên hình ảnh về mình tốt hơn.
       - Cải thiện sức khoẻ nghề nghiệp và an toàn.

 TT Xúc Tiến & Phát triển công thương

 
Công ty CP Gốm Đất Việt: Chú trọng an toàn vệ sinh lao động

Là doanh nghiệp có lực lượng lao động khá đông (trên 300 cán bộ, công nhân) hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, nên tiềm ẩn lớn những nguy cơ mất an toàn lao động. Xác định rõ nguy cơ đó, Công ty CP Gốm Đất Việt không ngừng đầu tư trang thiết bị làm việc, thực hiện tốt công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) trong sản xuất, ổn định thu nhập, giúp người lao động yên tâm gắn bó với công việc.

Tại những vị trí làm việc trong nhà máy Công ty CP Gốm Đất Việt đều trang bị quạt thông gió đảm bảo điều kiện làm việc cho công nhân.
Tại nhiều vị trí trong nhà máy của Công ty CP Gốm Đất Việt được trang bị quạt thông gió đảm bảo điều kiện làm việc cho công nhân.

Trong môi trường sản xuất thường xuyên tiếp xúc với khói, bụi, tiếng ồn, với nhiều máy móc, thiết bị sản xuất, tai nạn lao động (TNLĐ) rất dễ xảy ra nếu như công tác đảm bảo ATVSLĐ-PCCN không được quan tâm chú trọng. Với phương châm “An toàn để sản xuất, sản xuất phải đảm bảo an toàn” Công ty CP Gốm Đất Việt luôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người lao động về các biện pháp đảm bảo an toàn trong sản xuất, phòng ngừa TNLĐ, tổ chức phát động “Tuần lễ ATVSLĐ-PCCN” và ký cam kết thi đua sản xuất an toàn đối với 100% người lao động trong nhà máy. Đối với đội ngũ lao động mới vào làm việc, đơn vị đều hướng dẫn quy trình vận hành của máy móc thiết bị, các biện pháp đảm bảo an toàn cho người và tài sản.

Cùng với việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, để cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân lao động, Công ty đã đưa các loại máy móc, thiết bị hiện đại vào làm việc, giảm sức lao động cho công nhân như dây chuyền công nghệ nghiền khô, đùn dẻo hiện đại bậc nhất châu Âu cho hai nhà máy sản xuất tại Đông Triều với quy mô và công suất hàng đầu Việt Nam. Nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ khói và khí thải, toàn bộ khí thải và nhiệt đã được thu về qua hệ thống lò sấy, dùng để sấy khô sản phẩm mộc. Đây là một công nghệ đặc biệt hữu ích, tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường, giảm chi phí xây dựng chuỗi nhà kính phơi sản phẩm mộc và ổn định được sản xuất trong mọi điều kiện thời tiết.

Bên cạnh đó, trang phục, quần áo bảo hộ lao động cho công nhân cũng được cấp phát định kỳ, đầy đủ, các khu vực sản xuất đều có biển báo, quy chế vận hành máy móc, các thiết bị PCCN được kiểm tra thường xuyên và đặt ở những vị trí phù hợp, hằng tháng nhà máy đều tổ chức vệ sinh công nghiệp, bảo dưỡng máy móc, thiết bị, nhằm phát hiện các sự cố, khắc phục các yếu tố nguy hiểm có nguy cơ tiềm ẩn TNLĐ. Đặc biệt, Công ty đã lắp đặt hệ thống quạt hút gió; trang bị đồng hồ đo nồng độ khí CO, cảnh báo tự động. Qua đó, phòng chống các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại cho người lao động.

Khử khuẩn Covid-19 cho người lao động trước khi vào ca tại Công ty Cổ phần Gốm Đất Việt.
Khử khuẩn cho người lao động trước khi vào ca tại Công ty CP Gốm Đất Việt. (Ảnh Công ty cung cấp)

Không chỉ tạo công ăn việc làm với mức thu nhập cao cho hàng trăm lao động, Công đoàn Công ty CP Gốm Đất Việt rất chú trọng xây dựng môi trường sản xuất xanh, sạch, đẹp. Với tiêu chí nhà máy vừa là nơi sản xuất, vừa là nơi thư giãn của những người thợ, quanh khuôn viên được trồng nhiều cây xanh, thảm hoa, hồ nước. Cùng với đó, BCH Công đoàn Công ty đã phối hợp với chuyên môn xây dựng phương án tiền lương hợp lý; sắp xếp lao động; rà soát, sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập thể, với nhiều điểm có lợi cho người lao động như: Công nhân lao động được đi tham quan du lịch, được tạo điều kiện hỗ trợ về nhà ở cho những người làm việc xa gia đình; thực hiện ăn ca theo hình thức tự chọn.

Ông Phạm Trọng Tiệp, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Gốm Đất Việt cho biết: Hưởng ứng Tháng hành động về ATVSLĐ lần thứ 4 sẽ diễn ra trong tháng 5 tới trên phạm vi toàn tỉnh với chủ đề “Đẩy mạnh cải thiện điều kiện lao động và kiểm soát các nguy cơ rủi ro về ATVSLĐ tại nơi làm việc”, Công ty sẽ đẩy mạnh các hoạt động như: Đào tạo, huấn luyện định kỳ cho công nhân; thi an toàn viên giỏi; thi đua lao động sản xuất, giữ gìn vệ sinh máy móc để góp phần cải thiện điều kiện tại nơi làm việc và hướng tới xây dựng, phát triển văn hóa an toàn trong lao động.

Hiểu Trân

 
Sản xuất vật liệu xây dựng không nung từ phế thải xây dựng

Tốc độ đô thị hóa nhanh đã dẫn tới phát sinh ra lượng lớn phế thải xây dựng, gây nguy cơ ô nhiễm đất đai, môi trường sống xung quanh. Qua thời gian dài phân tích, nghiên cứu, Công ty CP Liên doanh Hạ Long 135 đã thử nghiệm, sản xuất thành công vật liệu xây dựng (VLXD) không nung từ tận dụng nguồn phế thải xây dựng sẵn có tại địa phương.


Sản xuất vật liệu xây dựng không nung từ phế thải xây dựng1

Công nhân Công ty CP Liên doanh Hạ Long 135 vận hành hệ thống nghiền sàng phế thải xây dựng sau khi thu gom.

Đưa chúng tôi đi tham quan quy trình sản xuất VLXD không nung từ phế thải xây dựng, ông Nguyễn Thế Cường, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Liên doanh Hạ Long 135 cho biết: Theo kết quả khảo sát tại tất cả các đơn vị sản xuất VLXD trên địa bàn huyện Hoành Bồ và TP Hạ Long cho thấy, mỗi năm có hàng triệu tấn phế thải xây dựng: Cát, sỏi sạn, đá dăm, xỉ vôi, xỉ than, gạch vỡ, vụn bê tông... thải ra môi trường và bị bỏ phí. Tuy nhiên, từ kết quả nghiên cứu của Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng), cốt liệu từ phế thải xây dựng hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu chế tạo các loại gạch Block xây, các cấu kiện bê tông thông thường. Bởi vậy, phế thải xây dựng có thể được xem là nguồn lực tài nguyên để sản xuất VLXD nhẹ, không nung, vừa tránh lãng phí tài nguyên mà còn khả năng tái sử dụng, vừa giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đồng thời góp phần dần thay thế gạch nung từ đất sét truyền thống.

Nắm rõ vấn đề cốt lõi này, Công ty CP Liên doanh Hạ Long 135 đã mạnh dạn triển khai thực hiện dự án đầu tư thu gom, tái chế phế thải xây dựng và sản xuất VLXD không nung tại mặt bằng có sẵn của đơn vị ở thôn Đồng Tâm, xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ. Khởi động dự án, Công ty đã đầu tư dây chuyền tái chế phế thải xây dựng thành nguyên liệu để sản xuất các loại cốt liệu phục vụ cho xây dựng công trình, đường giao thông với công suất 244.000 tấn/năm; dây chuyền đồng bộ sản xuất gạch Block xây bê tông, công suất 30 triệu viên tiêu chuẩn/năm; trạm trộn bê tông nhẹ, công suất 20.000m3/2 ca từ nguyên liệu tái chế. 

Để đảm bảo nguồn phế thải cung ứng cho hoạt động sản xuất, Công ty thu gom tất cả các phế thải xây dựng, phế thải tháo dỡ công trình của các hộ dân, đơn vị thi công công trình xây dựng cơ bản; của các nhà máy nhiệt điện, cơ sở sản xuất gạch nung, vôi, đá, VLXD trên địa bàn huyện. Phế thải xây dựng sau khi thu gom được vận chuyển về bãi tập kết để phân loại, gia công sơ bộ rồi được nạp vào phễu nạp của hệ thống nghiền sàng liên hợp. Sản phẩm cuối cùng của dây chuyền này là cốt liệu có các kích thước khác nhau làm nguyên liệu sử dụng cho công đoạn sản xuất block xây bê tông thường, bê tông nhẹ và cấu kiện bê tông đúc sẵn.

Theo tính toán, với dây chuyền sản xuất hiện có, đơn vị này có thể làm ra 244.000 tấn cốt liệu tái chế; từ đó, sản xuất trên 3,7 triệu viên block xây bê tông/năm, trên 12.000m3 block xây bê tông nhẹ/năm, 24.000m3 cấu kiện bê tông đúc sẵn/năm. Tổng doanh thu sản phẩm đạt khoảng gần 35 tỷ đồng. Không chỉ mang lại lợi nhuận lớn, dự án đầu tư thu gom, tái chế phế thải xây dựng sản xuất vật liệu không nung sẽ giúp xử lý một lượng lớn phế thải xây dựng phát sinh ngày càng nhiều trên địa bàn huyện nói riêng, toàn tỉnh nói chung. Đồng thời, tạo thêm việc làm mới cho hơn 50 lao động địa phương, góp phần tăng thu ngân sách cho huyện.

Sản xuất vật liệu xây dựng không nung từ phế thải xây dựng2

Sản phẩm gạch không nung từ phế thải xây dựng của Công ty CP Liên doanh Hạ Long 135.

Ông Cường chia sẻ: “Sản phẩm vật liệu không nung là những vật liệu mới, nhẹ và bền, chịu nước; góp phần giảm tải trọng của công trình xuống nền móng, tăng cách nhiệt và cách âm. Đây là những ưu điểm nổi trội mà sản phẩm gạch nung không có được. Bởi vậy, những năm qua, Chính phủ ban hành nhiều chính sách khuyến khích tái chế, sử dụng các loại vật liệu phế thải rắn nói chung, phế thải xây dựng nói riêng. Hiện chúng tôi đang tiến hành sản xuất thử trong 3 tháng để hoàn thiện dây chuyền, điều chỉnh lại các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rồi mới xây dựng kế hoạch sản xuất chính thức để tiến hành sản xuất trong 12 tháng tiếp theo”.

Theo dự báo của các chuyên gia VLXD, đến năm 2030, VLXD không nung sẽ chiếm tỷ trọng trên 70% thị trường VLXD nói chung. Bởi vậy, việc tái chế phế thải xây dựng, sản xuất VLXD không nung không chỉ bảo vệ môi trường, tài nguyên đất đai và làm đa dạng sản phẩm cho ngành VLXD, mà còn đáp ứng nhu cầu tất yếu của thị trường VLXD trong thời gian tiếp theo.

Nguồn: Ngô Dịu - http://baoquangninh.com.vn

Link tài bài gốc: http://www.baoquangninh.com.vn/kinh-te/201912/san-xuat-vat-lieu-xay-dung-khong-nung-tu-phe-thai-xay-dung-2463762/

 
Hải Hà: Phát triển công nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh

Với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ, huyện Hải Hà đang có những bước tăng trưởng mạnh trong các hoạt động sản xuất công nghiệp. Điều này cũng đặt ra những yêu cầu về giải pháp bảo vệ môi trường (BVMT) phải được chú trọng hơn bao giờ hết.


Hải Hà phat trien xanh

Công nhân làm việc tại Công ty TNHH May mặc Hoa Lợi Đạt (KCN Cảng biển Hải Hà).

Hiện nay, trên địa bàn Hải Hà có 250 cơ sở sản xuất, khai thác hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; trong đó có 11 cơ sở công nghiệp khai thác, 238 cơ sở công nghiệp chế biến và 1 cơ sở điện, nước. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cơ bản đều sản xuất kinh doanh ổn định góp phần quan trọng vào sự phát triển của ngành công nghiệp địa phương. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này cũng tiềm ẩn những nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tự nhiên. Đây cũng chính là mối quan tâm hàng đầu của cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương hiện nay.

Đối với Khu công nghiệp (KCN) Cảng biển Hải Hà, để kiểm soát các nguồn thải phát sinh, huyện đã yêu cầu các doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về môi trường trong hoạt động dự án: Có các công trình xử lý nước thải, khí thải, chất thải đáp ứng các quy chuẩn môi trường hiện hành; được nghiệm thu hoàn thành và được cấp có thẩm quyền cấp phép hoạt động xả thải mới được đi vào hoạt động chính thức...

Hải Hà phat trien xanh1

Trạm xử lý nước thải tập trung của toàn bộ KCN Cảng biển Hải Hà được đặt tại xã Quảng Điền (huyện Hải Hà).

Đối với các loại chất thải rắn phát sinh từ KCN, các dự án đều có khu lưu trữ tách biệt 2 loại: Thông thường và độc hại, từ đó tiến hành xử lý theo từng loại theo đúng quy định. Huyện còn tăng cường phối hợp với Ban Quản lý khu kinh tế, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng và lực lượng chức năng của tỉnh trong kiểm tra, giám sát chặt chẽ công tác bảo vệ môi trường tại KCN; xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường của chủ đầu tư và nhà đầu tư thứ cấp tại đây. Đặc biệt là thường xuyên đôn đốc, hướng dẫn lập, thẩm định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; liên tục ghi nhận ý kiến phản ánh từ cộng đồng dân cư tại 4 xã Quảng Phong, Quảng Điền, Quảng Trung, Phú Hải có nguy cơ bị ảnh hưởng và nằm trong phạm vi ảnh hưởng của công trình xả nước thải vào nguồn nước tại KCN.

Đối với các hoạt động khai thác khoáng sản, huyện chủ trương chú trọng quản lý chặt chẽ trong mọi hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng... Trong đó, yêu cầu trước tiên là thực hiện trình tự thủ tục phê duyệt dự án khai thác khoáng sản theo đúng quy định của Luật BVMT. Các cơ sở, doanh nghiệp xin cấp phép đều phải thực hiện nghiêm việc lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và phương án cải tạo phục hồi môi trường trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định. Đồng thời tiến hành thực hiện ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường.

Cùng với các giải pháp nêu trên, Hải Hà cũng đang làm tốt việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về môi trường để giúp các doanh nghiệp ý thức rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ tăng trưởng xanh bền vững. Đồng thời tăng cường sự tham gia của cộng đồng, chung tay cùng với cấp ủy, chính quyền trong công tác BVMT.

Nguồn: baoquangninh.com.vn

 
Quảng Ninh: Hỗ trợ 365 tỷ đồng di dời 980 cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư

Quảng Ninh tiến hành di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư, với tổng kinh phí dự kiến lên đến hơn 365 tỉ đồng.

Tại Kỳ họp thứ 13 HĐND tỉnh Quảng Ninh khoá 13, bà Nguyễn Thị Hiền - Giám đốc Sở Công thương đã trình bày tờ trình về chính sách hỗ trợ di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường, cơ sở có hoạt động không phù hợp quy hoạch trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025. Nguồn kinh phí này sẽ được lấy từ ngân sách tỉnh Quảng Ninh và các huyện. 


QN ho tro 365 ty dong

Cơ sở sản xuất cơ khí nằm trong khu dân cư.

Theo bà Hiền:"Để đạt được mục tiêu đề ra, đến năm 2020 sẽ di dời 100% các cơ gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp quy hoạch ra khỏi các khu dân cư, Quảng Ninh cần thiết phải ban hành chính sách hỗ trợ di dời các cơ sở này".

Nội dung hỗ trợ bao gồm chi phí di dời, thuê mặt bằng và thực hiện chế độ cho người lao động. Cụ thể, cơ sở di chuyển đến địa điểm mới được hỗ trợ một lần kinh phí tháo dỡ, vận chuyển 300.000 đồng/m2 và 60% chi phí thực tế đầu tư xây dựng nhà xưởng ở nơi mới. Cơ sở tự chuyển đổi ngành nghề hoặc chấm dứt hoạt động được hỗ trợ kinh phí phá dỡ 500.000 đồng/m2. Tuy nhiên, tổng mức hỗ trợ di dời sẽ khống chế ở mức tối đa là 300 triệu đồng/cơ sở.

Tại cơ sở mới, chủ cơ sở di dời được hỗ trợ tiền thuê mặt bằng trong 2 năm, cơ sở không quá 1.000 m2 được hỗ trợ 100% giá thuê, cơ sở trên 1.000 m2 được hỗ trợ 70% giá thuê nhưng nghiêm cấm cho thuê lại với phần diện tích được hỗ trợ. Tỉnh Quảng Ninh cũng dự kiến hỗ trợ các cơ sở giải quyết chế độ cho người lao động khi phải di dời.

Theo thống kê của tỉnh Quảng Ninh, hiện tỉnh có khoảng hơn 1.500 cơ sở với hơn 4.500 lao động, sử dụng hơn 560.000 m2 đất thuộc diện phải di dời ra khỏi khu dân cư do ô nhiễm hoặc không phù hợp quy hoạch. Trong đó, đứng đầu là thị xã Đông Triều với 471 cơ sở, TP Cẩm Phả đứng thứ hai với 378 cơ sở, tiếp đến là huyện Hoành Bồ, Đầm Hà.

Tỉnh Quảng Ninh dự định sẽ sắp xếp, di dời hơn 980 cơ sở vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tại các địa phương, hơn 100 cơ sở tự chuyển đổi ngành nghề, số còn lại có thể phải ngừng sản xuất.

Ông Nguyễn Xuân Thống, chủ cơ sở sản xuất gốm sứ (phường Mạo Khê, TX Đông Triều) chia sẻ:"Gia đình tôi làm nghề sản xuất gốm sứ đã từ rất lâu, bản thân cũng nhận thấy kinh doanh lĩnh vực này không đảm bảo vệ sinh môi trường, lại chật chội do phải tận dụng đất của gia đình để sản xuất nên muốn mở rộng quy mô cũng rất khó".

"Cho nên với chủ trương di dời các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường, gia đình rất ủng hộ. Chuyển ra vị trí mới chúng tôi sẽ ổn định hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh vì diện tích rộng, không gây ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật của người dân", ông Thống nói.

Được biết, tháng 4/2018, tỉnh Quảng Ninh đã ban hành chương trình hành động về bảo vệ môi trường giai đoạn 2018-2022, đề ra mục tiêu tới năm 2020 sẽ di dời 100% các cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp quy hoạch ra khỏi các khu dân cư. 

Trước đó, tháng 2/2012, UBND tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết định số 255/2012/QĐ-UBND ban hành quy định chính sách hỗ trợ di dời các cơ sở tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường hoặc phải di dời theo quy hoạch xây dựng đô thị trên địa bàn tỉnh. TP Hạ Long là địa phương duy nhất thực hiện việc di dời và di dời được 169 cơ sở ra khỏi khu dân cư. Tuy nhiên, hết 2016, do Quyết định 255 hết hiệu lực hỗ trợ nên việc di dời tạm dừng.

Đến ngày 10/8/2017, UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành Chỉ thị số 10/CT-UBND về việc thực hiện di dời các cơ sở TTCN gây ô nhiễm môi trường hoặc phải di dời theo quy hoạch xây dựng đô thị trên địa bàn tỉnh ra khỏi khu dân cư.

Ông Bùi Xuân Tờ - Tổng Giám đốc Công ty CP Công nghiệp Cẩm Thịnh (Chủ đầu tư CCN Cẩm Thịnh - TP Cẩm Phả) cho biết, nếu được hỗ trợ sẽ tác động rất lớn, tạo động lực cho các doanh nghiệp di dời vào trong các khu công nghiệp và cụm công nghiệp. Đồng thời, cải thiện môi trường trong các khu dân cư.

Nguồn: https://enternews.vn

 

 

 
« Bắt đầuLùi123Tiếp theoCuối »

Trang 1 trong tổng số 3

Hình ảnh hoạt động

  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Dành cho quảng cáo



Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay209
mod_vvisit_counterHôm qua352
mod_vvisit_counterTrong tuần2030
mod_vvisit_counterTuần trước2864
mod_vvisit_counterTrong tháng7689
mod_vvisit_counterTháng trước0
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ602464

Khách trực tuyến: 13
IP của bạn: 35.170.78.142
Hôm nay 30 tháng 10 năm 2020