Hoạt động khuyến công
Quảng Ninh: Ban hành Quy chế mới về quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công địa phương

UBND tỉnh Quảng Ninh vừa ban hành Quyết định số 41/2018/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 về Quy chế quản lý kinh phí khuyến công địa phương và quy định mức chi cho các hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.


Theo đó, đối tượng áp dụng bao gồm các tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại huyện, thị xã, thị trấn, xã và các phường thuộc thành phố loại 2, loại 3, các phường thuộc thành phố loại 1 được chuyển đổi từ xã chưa quá 05 năm, bao gồm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn. Tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia công tác quản lý, thực hiện các hoạt động dịch vụ khuyến công...

QĐ 41

Khảo sát xây dựng kế hoạch khuyến công năm 2019

Về nội dung chi hoạt động khuyến công bao gồm chi đào tạo nghề, truyền nghề ngắn hạn. Chi hỗ trợ hoạt động tư vấn, tập huấn, đào tạo, hội thảo, diễn đàn; tham quan, khảo sát học tập kinh nghiệm trong nước, ngoài nước. Chi hỗ trợ thành lập doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nông thôn; chi hỗ trợ mở rộng thị trường tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nông thôn. Chi hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật; chuyển giao công nghệ và ứng dụng máy móc tiên tiến, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; xây dựng các mô hình thí điểm về áp dụng sản xuất sạch hơn. Chi tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu; chi tổ chức hội chợ, triển lãm hàng công nghiệp nông thôn, hàng thủ công mỹ nghệ; chi hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ, triển lãm; chi hỗ trợ xây dựng, đăng ký thương hiệu. Chi nâng cao năng lực quản lý và tổ chức thực hiện hoạt động khuyến công. Chi kiểm tra, giám sát, hướng dẫn triển khai thực hiện các chương trình, đề án và nghiệm thu hoạt động khuyến công tại địa phương….

Mức chi của hoạt động khuyến công địa phương được điều chỉnh và bám sát theo Thông tư số 28/2018/TT-BTC ngày 28/3/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công.

Chi tiết Quyết định số 41/2018/QĐ-UBND: Tại đây

TTKC&TVPTCN

 
Hoạt động khuyến công: Hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông thôn tăng năng suất, chất lượng sản phẩm

Vừa qua, thực hiện nhiệm vụ khuyến công quốc gia 2018, Cục Công Thương địa phương (CTĐP) đã tổ chức các đoàn kiểm tra, đánh giá việc duy trì hiệu quả của các đề án khuyến công quốc gia (KCQG) thực hiện trong năm 2017 tại một số địa phương trên cả nước.


HĐKC

Kết quả đánh giá chung cho thấy, việc thực hiện các đề án hỗ trợ cho các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) như: Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất,…  đã góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất của đơn vị thụ hưởng, năng suất, chất lượng sản phẩm được nâng cao, hạ giá thành, tiết kiệm nguyên vật liệu và năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường…

 

Kiểm tra tình hình thực hiện công tác khuyến công năm 2018 và đánh giá việc duy trì hiệu quả của đề án KCQG năm 2017, tại tỉnh Thái Nguyên, Đoàn công tác đã đến kiểm tra trực tiếp tại Công ty cổ phần Đúc Thái Nguyên. Năm 2017, Công ty được hỗ trợ 200 triệu đồng, thực hiện đầu tư máy móc vào sản xuất đúc kim loại. Theo đó, Công ty đã đầu tư được 01 bộ máy rung cát, công suất 10 tấn/giờ. Thời điểm kiểm tra, máy móc thiết bị được hỗ trợ đang hoạt động tốt, cho ra sản phẩm được thị trường tiêu thụ ổn định. Công ty đang có kế hoạch đầu tư mở rộng sản xuất trong thời gian tới.

 

Tại Bắc Ninh, kiểm tra đánh giá hiệu quả đề án: Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất các sản phẩm cơ khí tại Công ty Đồng Âu Lạc-TNHH cho thấy, với kinh phí KCQG hỗ trợ 200 triệu đồng, Công ty đã đầu tư mua 01 máy khắc laser, tốc độ khắc 7000mm/s. Hiện tại máy móc thiết bị được hỗ trợ đang hoạt động tốt, phát huy hiệu quả, sản phẩm đầu ra có chất lượng ổn định. Đơn vị thụ hưởng cho biết, sản phẩm của Công ty đã xuất khẩu sang thị trường châu Âu và cung cấp cho các nhà sản xuất lớn trong nước. Công ty đang có kế hoạch tiếp tục đầu tư ứng dụng công nghệ hiện đại hơn nữa vào sản xuất.

 

Cũng tại Bắc Ninh, sản phẩm của Công ty TNHH In và Bao bì Châu Thái Sơn sau khi thực hiện đề án: Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất bao bì carton cao cấp với kinh phí KCQG hỗ trợ 500 triệu đồng, đã đáp ứng được yêu cầu của các khách hàng khó tính (như tập đoàn Samsung). Sản phẩm của Công ty hiện chủ yếu cung cấp cho các doanh nghiệp khối FDI.

 

Đánh giá việc duy trì hiệu quả của đề án KCQG năm 2017 tại Đà Nẵng, Đoàn công tác đã kiểm tra tại Công ty TNHH Một thành viên Sản xuất và Thương mại Tiến Hưng. Năm 2017, Công ty được hỗ trợ 200 triệu đồng thực hiện đề án “Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất ống nhựa PVC”.  Công ty đã đầu tư máy sản xuất ống nhựa PVC  76-250mm, công suất 150 - 200 kg/giờ.  Đến nay, máy móc thiết bị được đầu tư mang lại hiệu quả cao: Sản phẩm được tiêu thụ mạnh mẽ trên thị trường, các đơn đặt hàng ngày càng tăng về số lượng, dây chuyền sản xuất luôn phải hoạt động với 100% công suất. Hiện Công ty đang lên phương án tiếp tục mở rộng sản xuất với tổng mức dự kiến đầu tư hơn 5 tỷ đồng.

 

Năm 2017, hoạt động KCQG đã thực hiện 278 đề án, với nguồn kinh phí thực hiện trên 110 tỷ đồng. Từ các kết quả kiểm tra cho thấy, hoạt động khuyến công đã tác động tích cực đến sự phát triển của các cơ sở CNNT. Sau khi có sự hỗ trợ từ các chương trình khuyến công, cơ sở CNNT đã đầu tư mở rộng sản xuất, sản phẩm được nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành, tiết kiệm nguyên vật liệu và năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường... Các ngành nghề được hỗ trợ đều gắn trực tiếp nguồn nguyên liệu tại địa phương, tạo thêm nhiều việc làm, mang lại thu nhập ổn định cho người dân trên địa bàn. Các đơn vị thụ hưởng đều mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ, đồng hành của các chương trình khuyến công để cơ sở CNNT có điểm tựa, sự động viên, đồng hành với cơ sở CNNT trong quá trình đầu tư, phát triển sản xuất./.

Theo http://arid.gov.vn/

 
Quảng Ninh: Gỡ khó công tác khuyến công

Mặc dù đã đầu tư nguồn lực lớn cho công tác khuyến công, tuy nhiên trong quá trình triển khai, Quảng Ninh vẫn gặp nhiều khó khăn và cần sự hỗ trợ hơn nữa để bảo đảm thực hiện hiệu quả chương trình.


Theo đại diện Sở Công Thương Quảng Ninh, để tham gia bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu (CNNTTB) cấp khu vực và quốc gia, các sản phẩm phải được bình chọn theo 4 cấp: Huyện, tỉnh, khu vực và quốc gia. Tuy nhiên, Quảng Ninh có ít sản phẩm CNNT nên rất khó tìm được sản phẩm đủ tiêu chuẩn tham gia bình chọn. Mặt khác, nguồn kinh phí khuyến công địa phương của tỉnh được cấp trong những năm qua thấp so với nhu cầu đăng ký. Do đó, phải xem xét, lựa chọn, phân bổ cho các cơ sở, doanh nghiệp tại địa bàn và ngành nghề cần ưu tiên.

quang-ninh-go-kho-cong-tac-khuyen-cong

Nhiều đề án khuyến công tỉnh Quảng Ninh được hỗ trợ thực hiện hiệu quả

Cùng đó, Quảng Ninh đang thực hiện Đề án “Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; tinh giảm bộ máy, biên chế”. Theo đó, các đơn vị sự nghiệp phải dần tự chủ kinh phí hoạt động và thực hiện cơ chế đặt hàng với UBND tỉnh. Năm 2015 và 2016, Quảng Ninh cấp 50% kinh phí chi thường xuyên cho Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh. Từ năm 2017, tỉnh không cấp kinh phí chi thường xuyên, trung tâm phải tự chủ 100% chi phí. Do vậy, việc đặt hàng với UBND tỉnh để tạo việc làm và thu nhập ổn định cho cán bộ, nhân viên trung tâm thời gian tới rất khó khăn.

Để tháo gỡ những vướng mắc trên, đồng thời giúp trung tâm thực hiện và hoàn thành đầy đủ 9 nội dung của hoạt động khuyến công, đại diện Sở Công Thương Quảng Ninh đề xuất: Bộ Công Thương cho phép tỉnh được lựa chọn các sản phẩm đoạt giải từ Hội thi Sáng tạo khoa học - kỹ thuật để tham gia bình chọn sản phẩm CNNTTB cấp khu vực. Bộ Công Thương, Bộ Tài chính xem xét và ban hành danh mục, định mức kỹ thuật đề án/nhiệm vụ khuyến công nằm trong danh mục dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước phải thực hiện đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo quy định.

Ngoài ra, Sở Công Thương cũng đã chủ động xây dựng nhiều giải pháp khắc phục khó khăn, hoàn thành hiệu quả chương trình khuyến công của tỉnh. Theo đó, tập trung hỗ trợ đào tạo nghề; xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật; các sản phẩm chủ lực. Nắm bắt thông tin về công nghệ, sản phẩm, thị trường, thiết bị sản xuất để cung cấp và tư vấn cho các cơ sở sản xuất CNNT. Tăng cường bám sát cơ sở, tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai đầu tư sản xuất, từ đó có những biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời.

Sở Công Thương Quảng Ninh cũng phối hợp cùng các cơ quan liên quan xây dựng chương trình, đề án khuyến công cụ thể, phù hợp với điều kiện của địa phương và gắn với Chương trình mỗi xã, phường một sản phẩm. Kết nối tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của tỉnh vào hệ thống các siêu thị, trung tâm thương mại và doanh nghiệp sản xuất lớn trên địa bàn tỉnh. Giảm thiểu việc xây dựng chương trình, đề án dàn trải, nhỏ lẻ; tăng cường xây dựng những đề án mang tính liên kết; nhân rộng các đề án khuyến công điển hình, hiệu quả.

Năm 2018, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ninh được giao 16 đề án khuyến công. Hiện, phần lớn các đề án đã hoàn thành với kết quả tốt.

Nguồn: congthuong.vn

 

 
HỘI NGHỊ TẬP HUẤN KHUYẾN CÔNG TẠI TỈNH HÒA BÌNH

Ngày 26/10/2018, Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Hòa Bình tổ chức Hội nghị Tập huấn công tác khuyến công năm 2018.


Hội nghị đã phổ biến những điểm mới, tinh thần mới của các văn bản về khuyến công vừa được Bộ Công Thương và Bộ Tài Chính ban hành, thu hút sự quan tâm của nhiều cán bộ Sở Công Thương, các doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành khu vực phía Bắc.

Trong diễn đàn Hội nghị, cán bộ khuyến công, các doanh nghiệp các tỉnh thành đã được nghe và thảo luận các điểm mới tại một số Thông tư của Bộ Công Thương, Bộ Tài Chính về quy trình xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện các đề án Khuyến công Quốc gia (KCQG); cách thức quản lý kinh phí (tạm ứng, thanh quyết toán) đối với các đề án KCQG; tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, hướng dẫn truy cập, cập nhật cơ sở dữ liệu về công nghiệp địa phương.

Tap huan Hoa Binh

Toàn cảnh hội nghị tập huấn

Phát biểu tại hội nghị ông Ngô Quang Trung - Cục trưởng Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) nhận định: Hoạt động khuyến công là hoạt động hỗ trợ sản xuất, ứng dụng kỹ thuật vào cuộc sống.

Các thông tư sửa đổi là những văn bản pháp lý quan trọng trên cơ sở tiếp tục và kế thừa những nội dung tích cực đã đạt được và khắc phục những bất cập, tồn tại của các văn bản trước đó; đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong hoạt động khuyến công với các điểm mới và nội dung được mở rộng.

Ông Trung cũng cho rằng: “Để công tác khuyến công được triển khai hiệu quả, các doanh nghiệp cần chủ động trong việc tiếp thu nguồn thông tin và đề xuất các chính sách phù hợp”.

Thông qua buổi tập huấn các địa phương, các đơn vị sẽ nắm bắt rõ hơn về cách thức xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, lập, sử dụng và quản lý kinh phí khuyến công; tăng cường năng lực trong việc khảo sát, xây dựng, thẩm định, nghiệm thu, thanh quyết toán các đề án, tổ chức bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu; nâng cao nhận thức về ý nghĩa vai trò của hoạt động khuyến công. Qua đó, công tác khuyến công sẽ được chuẩn hóa đi vào nề nếp; quy trình triển khai các hoạt động khuyến công được tuân thủ tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương, đơn vị thực hiện nhiệm vụ để hỗ trợ khuyến khích các cơ sở công nghiêp nông thôn đầu tư, phát triển sản xuất có hiệu quả; góp phần đưa chính sách khuyến công tiến thêm những bước dài, đi vào cuộc sống./.

Lê Sỹ Trình

 
Đẩy mạnh đổi mới công tác khuyến công để hội nhập kinh tế quốc tế

Để các hoạt động khuyến công được thực hiện phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa, các cơ sở công nghiệp nông thôn bắt kịp với sự chuyển dịch của nền kinh tế, ngày 25/10, tại Hòa Bình, Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) phối hợp với Sở Công Thương tỉnh Hòa Bình tổ chức Hội thảo Công tác Khuyến công và các vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế.


Tại hội thảo, các đại biểu đã thảo luận những nội dung về công tác khuyến công tại địa phương, công tác chủ động phòng vệ thương mại của cơ sở công nghiệp nông thôn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, những cơ hội và thách thức với các cơ sở công nghiệp nông thôn trong Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Cơ hội và thách thức đối với cơ sở công nghiệp nông thôn

Trong bối cảnh hiện nay, hội nhập quốc tế toàn cầu diễn ra rất sâu rộng trên toàn thế giới, mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài cho các các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng. Thị trường nước ngoài rất tiềm năng, mang lại nguồn lợi nhuận lớn hơn rất nhiều so với thị trường trong nước. Tuy nhiên điều này dễ khiến cho một số doanh nghiệp Việt chỉ nhằm vào lợi ích kinh tế mà quên đi lợi ích tổng thể.

Hoi thao Hoa Binh

Thực tế cho thấy, đa phần các doanh nghiệp nhỏ và vừa có năng lực tài chính, hoạt động kinh doanh và trình độ khoa học kỹ thuật cũng như khả năng tiếp cận công nghệ còn hạn chế, vì vậy chưa xoay chuyển được mô hình sản xuất kinh doanh để bắt kịp xu thế.

Theo ông Phùng Gia Đức, Điều tra viên thuộc Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), nếu các doanh nghiệp Việt xuất khẩu mà không có chiến lược rõ ràng, xuất khẩu với số lượng quá lớn, xuất khẩu giá quá thấp so với giá thị trường thế giới… sẽ dẫn đến mâu thuẫn về lợi ích đối với các ngành sản xuất trong nước và nước ngoài, khiến chính phủ các nước điều tra và áp dụng thuế phòng vệ thương mại đối với doanh nghiệp Việt Nam.

“Việc này hoàn toàn có thể tránh nếu doanh nghiệp có chiến lược rõ ràng, hiểu về thị trường, có chính sách phù hợp về giá. Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà sản xuất trong nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp cần có sự phối hợp thông tin với cơ quan Chính phủ của Việt Nam, cơ quan đại diện và đối tác nước ngoài” – ông Phùng Gia Đức nhấn mạnh.

Thay đổi để hội nhập

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 được kỳ vọng trở thành động lực cho sự phát triển vượt bậc của các doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, công tác khuyến công cần tập trung khai thác các tiềm năng, phát triển công nghiệp khu vực nông thôn nhằm hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn phát triển sản phẩm mới có giá trị kinh tế, thân thiện với môi trường, đồng thời cung cấp các kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế cho các cán bộ làm công tác khuyến công, các doanh nghiệp và cơ sở công nghiệp nông thôn.

Ông Vũ Xuân Khải, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Hòa Bình khẳng định: “Để hội nhập toàn cầu, doanh nghiệp cần nỗ lực thay đổi trình độ quản trị doanh nghiệp, sẵn sàng đón làn sóng công nghệ mới, biến thành động lực phát triển, đem lại lợi ích cho chính doanh nghiệp mình. Bên cạnh đó, đối với người lao động, cần phải nhanh chóng tiếp cận khoa học công nghệ, làm chủ được thiết bị, máy móc, nâng cao năng suất lao động”.

Đặc biệt, doanh nghiệp cần chú trọng đổi mới, cải tiến công nghệ, gia tăng giá trị sản phẩm. Từ đó, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn và các tổ chức cá nhân tham gia quản lý, thực hiện các công tác khuyến công tại các tỉnh, thành phố thuộc khu vực phía Bắc nhanh chóng tiếp cận các kiến thức, chính sách, bắt kịp Cách mạng công nghiệp 4.0.

Bổ sung ý kiến của ông Vũ Xuân Khải, ông Phùng Gia Đức, cho biết: “Các cơ quan quản lý nhà nước đã thường xuyên cập nhật thông tin từ thị trường trong và ngoài nước để cung cấp đến các doanh nghiệp Việt thông qua website của Bộ Công Thương. Bên cạnh đó, nguồn thông tin hữu ích cũng được cung cấp thông qua các buổi tập huấn, hội thảo của Bộ Công Thương, Cục Phòng vệ thương mại, Cục Công Thương địa phương và Sở Công Thương các tỉnh thành... Chính vì vậy, để tiếp cận với nguồn kiến thức, các doanh nghiệp cần chủ động tham khảo các nguồn thông tin chính thống đã được chắt lọc”.

Theo: congthuong.vn

 

 
Quảng Ninh hoàn thành kế hoạch khuyến công quốc gia năm 2018

Năm 2018, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn PTCN Quảng Ninh được phê duyệt 02 đề án khuyến công quốc gia với tổng kinh phí hỗ trợ là 400 triệu đồng, bao gồm: Đề án Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất hương nhang xuất khẩu; Đề án Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất các sản phẩm gia dụng từ kim loại.


Ngay sau khi được Bộ Công Thương phê duyệt và ký hợp đồng khuyến công quốc gia với Cục Công Thương địa phương, Trung tâm đã ký hợp đồng với các đơn vị thụ hưởng để kịp thời hỗ trợ cho các đơn vị đầu tư, ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất. Tính đến đầu tháng 8/2018, Trung tâm đã tiến hành nghiệm thu cả 02 đề án khuyến công quốc gia, đạt 100% kế hoạch được phê duyệt.

Nghiem thu KCQG 2018

KCQN năm 2018 hỗ trợ ứng dụng máy làm hương nhang tự động vào sản xuất hương nhang xuất khẩu

Đối với đề án Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất hương nhang xuất khẩu, Trung tâm đã phối hợp với Hợp tác xã sản xuất kinh doanh hương nhang Đức Phú để đầu tư máy làm hương nhang tự động vào sản xuất. Đối với đề án Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất các sản phẩm gia dụng từ kim loại, Trung tâm đã phối hợp với Công ty CP xây dựng và thương mại Hoàng Gia JSC đầu tư rất nhiều máy móc vào sản xuất đồ kim loại, như: Máy cắt nhôm, máy cắt – hàn inox, máy cắt – hàn sắt, máy phay…

Với việc ứng dụng máy móc, thiết bị này đã giúp doanh nghiệp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm thiểu chi phí sản xuất, an toàn hơn với người công nhân vận hành và gia tăng giá trị cạnh tranh tại địa phương.

Với kết quả thực hiện các đề án khuyến công nêu trên, Quảng Ninh là một trong các địa phương thực hiện và hoàn thành sớm kế hoạch khuyến công quốc gia năm 2018./.

TTKC&TVPTQN Quảng Ninh

 
Hoạt động khuyến công đã góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn

Trong những năm qua, bằng nguồn kinh phí khuyến công, nhiều hoạt động khuyến công đã được triển khai có hiệu quả, quy mô và chất lượng các đề án khuyến công ngày càng được nâng cao và có tác động rõ nét đến phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT). Trong đó, công tác hỗ trợ đào tạo nghề, truyền nghề và nâng cao tay nghề cho các cơ sở CNNT cũng đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển KT-XH, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội tại các địa phương.


KC gop phan chuyen dich co cau LD

Đào tạo nguồn lao động là hình thức hỗ trợ rất thiết thực đối với doanh nghiệp

Trong giai đoạn 2008 – 2017, tổng kinh phí từ ngân sách bố trí cho hoạt động khuyến công quốc gia và địa phương là 1.859,665 tỷ đồng, trong đó, kinh phí dành cho công tác hỗ trợ đào tạo nghề, truyền nghề và nâng cao tay nghề cho các doanh nghiệp (DN), cơ sở CNNT là 569,276 tỷ đồng, chiếm 30,6% tổng kinh phí khuyến công thực hiện được.

Chương trình đã hỗ trợ đào tạo nghề, truyền nghề, nâng cao tay nghề và nâng cao năng lực quản lý cho các DN, cơ sở CNNT có nhu cầu đổi mới sản phẩm, mở rộng sản xuất. Cụ thể, đã tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 451.000 lao động, với kinh phí thực hiện là 470,439 tỷ đồng; đào tạo về khởi sự và nâng cao năng lực quản lý cho 70.392 lượt cán bộ quản lý, điều hành tại các cơ sở CNNT, với kinh phí thực hiện là 98,837 tỷ đồng.

Hoạt động đào tạo nghề, truyền nghề chủ yếu bằng hình thức đào tạo tại chỗ, ngắn hạn (tối đa 3 tháng) gắn với DN, cơ sở CNNT. Các Sở Công Thương đã hướng dẫn xây dựng kế hoạch đào tạo nghề xuất phát từ nhu cầu của DN, cơ sở CNNT. Đồng thời, thực hiện đa dạng hóa các ngành nghề, chương trình đào tạo, lấy mục tiêu là trang bị cho người lao động (NLĐ) các kỹ năng, kỹ thuật phù hợp với thực tế đầu tư trang thiết bị, công nghệ của DN, đảm bảo NLĐ sau đào tạo có khả năng vào làm việc ngay được trên dây chuyền sản xuất của đơn vị. Do các đề án đào tạo nghề đều gắn với nhu cầu sử dụng lao động của DN, vì vậy, tỷ lệ NLĐ có việc làm sau đào tạo rất cao, đạt tới 95,54%.

Nói về hiệu quả mà hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề mang lại cho DN, bà Ngô Thị Diệu Linh, Giám đốc Công ty TNHH May Phù Yên, tỉnh Sơn La chia sẻ: “Là một DN chuyên may các sản phẩm áo jacket xuất khẩu gián tiếp sang thị trường các nước châu Á, châu Âu và châu Mỹ, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo, nâng cao tay nghề cho NLĐ. Bởi tay nghề của công nhân được nâng cao thì mới tăng năng suất lao động, đồng thời, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về chất lượng của các đơn hàng xuất khẩu. Năm 2017, việc phối hợp của Trung tâm Khuyến công Sơn La với Công ty trong đào tạo nguồn lao động là hình thức hỗ trợ rất phù hợp và thiết thực, giúp DN chúng tôi có được đội ngũ công nhân có tay nghề cao, giảm tối đa chi phí đào tạo đầu vào và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm”.

Có thể thấy, công tác đào tạo nghề đã mang lại hiệu quả thiết thực, giúp DN, cơ sở CNNT bổ sung lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu sản xuất, chủ động được nguồn lao động. Đồng thời, tạo điều kiện để NLĐ tiếp cận với nghề có thu nhập ổn định, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp./.

Nguồn: congnghieptieudung.vn

 
Khuyến công khu vực phía Bắc: Gánh nặng dồn về cuối năm

Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch khuyến công nửa đầu năm 2018 của các địa phương khu vực phía Bắc đạt thấp, trước tình hình trên, Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) đã đề nghị, các địa phương dồn sức triển khai thực hiện nhiều giải pháp, nhằm bảo đảm hoàn thành kế hoạch đúng tiến độ, mục tiêu đề ra.


 

KC phia Bac 1

Nâng cao năng lực quản lý và khởi sự DN là nội dung khuyến công được các tỉnh phía Bắc chú trọng

Tỷ lệ hoàn thành thấp

Theo số liệu từ Cục Công Thương địa phương, tổng kế hoạch kinh phí khuyến công năm 2018 được duyệt của 28 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc là 130 tỷ đồng. Tính đến hết quý II/2018, kinh phí toàn vùng đã thực hiện 46,022 tỷ đồng, đạt 35,4% kế hoạch năm.

Trong 6 tháng đầu năm, đào tạo nâng cao năng lực quản lý và khởi sự cho doanh nghiệp (DN) là nội dung được các địa phương trong khu vực thực hiện sát sao nhất, tỷ lệ giải ngân của nhóm nội dung này đạt tới 65% kế hoạch năm. Tiếp đến là nội dung hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất, có tổng kinh phí đạt trên 26,574 tỷ đồng, tuy nhiên chỉ đạt 38% kế hoạch năm.

Tỷ lệ thực hiện của các nội dung khác cũng khá thấp so với kế hoạch năm, như: Đào tạo nghề đạt 20,9%; hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn (CNNT) tiêu biểu, 29%; chương trình tư vấn, trợ giúp các cơ sở CNNT 26,54%; chương trình hỗ trợ liên doanh, liên kết hợp tác kinh tế và phát triển các cụm công nghiệp (CCN) 14,55% …

Như vậy có thể thấy, khối lượng công việc đã thực hiện của công tác khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc trong nửa đầu năm 2018 là khá thấp. Nguyên nhân được đại diện Cục Công Thương địa phương cho rằng, ở một số địa phương công tác khảo sát, xây dựng kế hoạch, đề xuất và chất lượng đề án còn hạn chế, ít các đề án mang tính điển hình và tính lan tỏa; việc đăng ký và triển khai thực hiện đề án chưa thực sự bám sát nhu cầu, tính khả thi chưa cao, do đó còn nhiều đề án phải điều chỉnh trong năm, cá biệt có một số đề án xin ngừng vì không triển khai được. Tổ chức thực hiện và tạm ứng, thanh toán kinh phí khuyến công chậm so với tiến độ và yêu cầu, làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện kế hoạch chung.

Công tác thẩm định cấp cơ sở đối với đề án đăng ký hỗ trợ từ kinh phí khuyến công quốc gia vẫn còn hạn chế; còn có đề án thẩm định mang tính thủ tục, không bám sát nội dung yêu cầu, không đúng nội dung chương trình, sai dự toán, hồ sơ thủ tục còn thiếu so với quy định, không xét giao kế hoạch được hoặc khi triển khai thực hiện còn gặp khó khăn, vướng mắc dẫn đến phải ngừng, điều chỉnh, gia hạn.

Cùng đó, Cục Công Thương địa phương đã có văn bản gửi các địa phương yêu cầu đổi mới hoạt động khuyến công quốc gia theo hướng hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm. Tuy nhiên cho đến nay, mới chỉ ghi nhận sự tham gia tích cực của một số địa phương, đặc biệt, vẫn chưa có nhiều tỉnh, thành phố mạnh dạn xây dựng đề án điểm có quy mô lớn, thời gian thực hiện dài hạn.

KC phia Bac 2

Cần đổi mới công tác khuyến công

Nỗ lực hoàn thành mục tiêu

Báo cáo Tình hình hoạt động khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc năm 2017, 6 tháng đầu năm 2018 và nhiệm vụ giải pháp hoàn thành kế hoạch năm 2018, các địa phương trong khu vực đã thống nhất mục tiêu những tháng cuối năm. Theo đó, các địa phương phấn đấu thực hiện hoàn thành 100% các đề án khuyến công đã được giao; xây dựng kế hoạch khuyến công năm 2019 đúng thời hạn, có chất lượng, trong đó có ít nhất 40% địa phương đã xây dựng được đề án điểm; 100% địa phương cử cán bộ chuyên trách về hoạt động khuyến công tham gia các chương trình đào tạo, tập huấn về kiến thức phát triển công nghiệp và chuyên môn nghiệp vụ về công tác khuyến công…

Để hoàn thành mục tiêu này, Cục Công Thương địa phương đề nghị Sở Công Thương các tỉnh, thành phố theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện đề án khuyến công, bảo đảm đúng tiến độ, quy định; tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai đề án khuyến công.

Thực hiện tốt công tác xây dựng kế hoạch khuyến công năm 2019, thực hiện mục tiêu đổi mới cách thức xây dựng kế hoạch các hoạt động khuyến công theo hướng có trọng tâm, trọng điểm; khắc phục và giảm mạnh việc khảo sát, lựa chọn các đề án dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp.

Sở Công Thương các địa phương cần tăng cường thực hiện chức năng tham mưu giúp UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác khuyến công trên địa bàn. Nâng cao năng lực và kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ lãnh đạo Trung tâm khuyến công và các phòng chuyên môn, chi nhánh cấp huyện, hệ thống khuyến công viên cấp huyện, xã đủ mạnh về số lượng và chất lượng. Mở rộng hoạt động thông tin tuyên truyền, phổ biến kịp thời, chính xác các thông tin về cơ chế, chính sách, các hoạt động khuyến công và công nghiệp địa phương tới các cơ sở CNNT.

Ngoài ra, các tỉnh, thành phố cần tăng cường liên kết giữa các địa phương với nhau và liên kết giữa các vùng để trao đổi kinh nghiệm trong phát triển ngành và hoạt động khuyến công, nhằm phát huy thế mạnh của mỗi địa phương, đồng thời khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của cả vùng, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương nói riêng và cả nước nói chung.

Theo: http://kinhtevn.com.vn



 
Sửa đổi, bổ sung quy định về việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia

Ngày 10/7/2018, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư số17/2018/TT-BCTsửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2013/TT-BCT ngày 27/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia. 


Theo đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung đáng chú ý như sau:

Sửa đổi khoản 3 và bổ sung khoản 5, khoản 6 vào Điều 2:

“3. Đề án khuyến công quốc gia điểm (sau đây gọi là đề án điểm) là đề án khuyến công quốc gia (sau đây gọi là đề án) được lập theo ngành nghề sản xuất các sản phẩm có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh của quốc gia, vùng, địa phương; có từ 02 nội dung hoạt động khuyến công và 02 đối tượng thụ hưởng trở lên; thời gian thực hiện từ 02 đến 03 năm; các nội dung hoạt động khuyến công trong đề án có sự liên kết nhằm khuyến khích, hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển công nghiệp nông thôn theo hướng có trọng tâm, trọng điểm.”

“5. Đề án khuyến công quốc gia theo nhóm (sau đây gọi là đề án nhóm) là đề án khuyến công quốc gia có từ 02 đối tượng thụ hưởng trở lên thực hiện cùng một nội dung hoạt động khuyến công.”

6. Đề án khuyến công quốc gia theo đối tượng cụ thể là đề án có một đối tượng thụ hưởng xác định cho một nội dung hoạt động khuyến công trên một địa bàn cụ thể.”.

Bổ sung Điều 3a vào sau Điều 3:

Điều 3a. Cách thức triển khai thực hiện đề án nhóm, đề án điểm

1. Đề án nhóm

a) Đề án nhóm gồm: Đề án đào tạo nghề, truyền nghề; nâng cao năng lực quản lý, khởi sự thành lập doanh nghiệp; tư vấn, trợ giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn; hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ, triển lãm; hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; hỗ trợ xây dựng, đăng ký nhãn hiệu;

b) Đề án nhóm không yêu cầu phải xác định địa điểm, đơn vị thụ hưởng, đơn vị phối hợp khi thẩm định cấp Bộ. Riêng đề án nhóm hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phải lập theo từng lĩnh vực, sản phẩm có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh của vùng, địa phương trên cơ sở danh mục ngành nghề được hưởng chính sách khuyến công quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 45/2012/NĐ-CP; phải xác định địa điểm, đơn vị thụ hưởng, chủng loại máy móc thiết bị khi thẩm định cấp Bộ và xác định đơn vị phối hợp, thông số kỹ thuật của máy móc thiết bị khi lập kế hoạch triển khai để làm cơ sở ký kết hợp đồng khuyến công quốc gia.

2. Đề án điểm

a) Khi thẩm định cấp Bộ, các nội dung hoạt động khuyến công trong năm đầu kế hoạch phải xác định cụ thể địa điểm, đơn vị thụ hưởng, đơn vị phối hợp (trừ các nội dung theo nhóm thực hiện như quy định tại điểm b khoản 1 Điều này);

b) Đối với việc xây dựng kế hoạch các năm tiếp theo: Các địa phương, đơn vị, Trung tâm Khuyến công quốc gia ở các vùng chịu trách nhiệm rà soát, điều chỉnh nội dung hoạt động khuyến công phù hợp với tình hình thực tế, lập thành kế hoạch khuyến công quốc gia cho năm dự toán ngân sách trên cơ sở đã xác định cụ thể các nội dung yêu cầu như đối với năm đầu kế hoạch để thẩm định theo quy định;

c) Đề án điểm sau khi được Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt kế hoạch kinh phí khuyến công quốc gia trong năm đầu kế hoạch, sẽ được ưu tiên bố trí kinh phí các năm tiếp theo để thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.”.

Sửa đổi, bổ sung Điều 7:

Điều 7. Tiêu chí chung và tiêu chí ưu tiên lựa chọn đề án, nhiệm vụ

1. Tiêu chí chung

a) Phù hợp với nguyên tắc lập đề án theo quy định tại Điều 4 Thông tư này;

b) Nội dung hoạt động khuyến công có tác động khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên phạm vi quốc gia, vùng, địa phương;

c) Phù hợp với mức hỗ trợ kinh phí khuyến công quốc gia theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công Thương;

 d) Đơn vị thực hiện đề án không vi phạm hợp đồng khuyến công quốc gia trong 02 năm gần nhất.

2. Tiêu chí ưu tiên

a) Ưu tiên lựa chọn các đề án điểm; đề án có ngành nghề, địa bàn ưu tiên theo quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn về khuyến công;

b) Trường hợp các đề án triển khai trên địa bàn có điều kiện như nhau, ngành nghề như nhau thì ưu tiên lựa chọn đề án của đơn vị có kinh nghiệm, năng lực tổ chức thực hiện tốt hơn.”.

Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 11:

“a) Cục Công Thương địa phương trình Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt đối với các đề nghị điều chỉnh: Tăng tổng mức kinh phí hỗ trợ; thay đổi nội dung hoạt động khuyến công; gia hạn thời gian thực hiện đề án sang năm tiếp theo; bổ sung hoặc ngừng thực hiện đề án để điều chỉnh kinh phí hỗ trợ giữa các đơn vị thực hiện trong năm ngân sách;”.

Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 11:

“4. Đối với các đề án nhóm do Sở Công Thương thẩm định, đăng ký (trừ đề án nhóm hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp), khi điều chỉnh thay đổi địa điểm, đơn vị phối hợp, đơn vị thụ hưởng, Sở Công Thương chịu trách nhiệm kiểm tra, thẩm định và điều chỉnh kế hoạch thực hiện, đồng thời gửi văn bản điều chỉnh về Cục Công Thương địa phương để theo dõi, tạm ứng, thanh quyết toán.”.

Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 6 Điều 12:

“1. Việc tạm ứng, thanh toán và quyết toán kinh phí khuyến công quốc gia áp dụng đối với các đơn vị thực hiện đề án, nhiệm vụ của một số nội dung hoạt động khuyến công quốc gia (bên B) thông qua hợp đồng ký với Cục Công Thương địa phương theo kế hoạch khuyến công quốc gia được Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt. Đối với các đề án, nhiệm vụ giao cho các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Công Thương, Vụ Tài chính và Đổi mới doanh nghiệp thực hiện thẩm định dự toán, xét duyệt quyết toán theo quy định hiện hành.”

“6. Đơn vị thực hiện đề án phải hoàn trả Cục Công Thương địa phương để nộp ngân sách nhà nước đối với phần kinh phí đã nhận nhưng không có khối lượng thanh toán, những khoản kinh phí đã sử dụng nhưng không được quyết toán theo chế độ quy định.”.

Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 và điểm b, điểm c, điểm d khoản 2 Điều 13:

“1. Tạm ứng 30% kinh phí hỗ trợ của đề án

a) Đối với các đề án hỗ trợ: Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp; sửa chữa, nâng cấp hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường tại cụm công nghiệp;”

“2. Tạm ứng 70% kinh phí hỗ trợ của đề án

b) Đối với các đề án hỗ trợ hoạt động: Tư vấn, đào tạo, tập huấn, hội nghị, hội thảo, diễn đàn; tham quan khảo sát; xây dựng, đăng ký nhãn hiệu; hỗ trợ các phòng trưng bày giới thiệu quảng bá sản phẩm tại các cơ sở công nghiệp nông thôn; thành lập các hiệp hội, hội ngành nghề; xây dựng các cụm liên kết doanh nghiệp công nghiệp; đánh giá sản xuất sạch hơn.

Hồ sơ tạm ứng: Hợp đồng thực hiện đề án; kế hoạch tổ chức thực hiện đề án của đơn vị thực hiện (đối với các hoạt động đào tạo, hội nghị, hội thảo, tham quan khảo sát; xây dựng, đăng ký nhãn hiệu);

c) Đối với các đề án hỗ trợ: Tổ chức hội chợ, triển lãm; hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ triển lãm; xây dựng các chương trình truyền hình, truyền thanh; xây dựng cơ sở dữ liệu, trang thông tin điện tử; in tờ rơi, tờ gấp; các hình thức thông tin đại chúng khác; lập quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp.

Hồ sơ tạm ứng: Hợp đồng thực hiện đề án; hợp đồng hỗ trợ giữa đơn vị thực hiện với chủ đầu tư (đối với đề án hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp);

d) Đối với các đề án hỗ trợ: Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, dây chuyền công nghệ vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; mô hình áp dụng sản xuất sạch hơn; sửa chữa, nâng cấp hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường tại các cơ sở công nghiệp nông thôn.

Hồ sơ tạm ứng: Hợp đồng thực hiện đề án, báo cáo tiến độ của đơn vị thực hiện xác định giá trị khối lượng công việc đã thực hiện tương ứng trên 70% tổng vốn đầu tư của dự án.”.

Sửa đổi khoản 13 và bổ sung khoản 16 vào Điều 14:

“13. Đề án hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp: Quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết của cơ quan có thẩm quyền; Hợp đồng, biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng tương ứng 100% số kinh phí thực hiện.”

“16. Đối với đề án hỗ trợ thành lập doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nông thôn: Thực hiện thanh toán 01 lần sau khi đề án hoàn thành; hồ sơ thanh toán gồm: Hợp đồng thực hiện đề án; biên bản nghiệm thu cơ sở theo Mẫu số 5b của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này; báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện đề án; báo cáo khối lượng hoàn thành và kinh phí thực hiện hợp đồng theo Mẫu số 3b của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này; bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do cơ quan có thẩm quyền cấp.”.

Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 23:

“a) Các đơn vị thực hiện đề án hàng tháng lập báo cáo tiến độ thực hiện các đề án theo Mẫu số 3a của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này gửi Cục Công Thương địa phương, Sở Công Thương trước ngày 25 hàng tháng. Đối với báo cáo tiến độ liên quan đến đề nghị tạm ứng kinh phí khuyến công phải có kiểm tra, xác nhận của Sở Công Thương nơi triển khai thực hiện đề án.”.

Thay thế, bổ sung, bãi bỏ một số mẫu biểu tại các Phụ lục:

a) Thay thế Mẫu số 2, Mẫu số 4a, Mẫu số 4b, Mẫu số 5b, Mẫu số 6, Mẫu số 10 của Phụ lục 1 và Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2013/TT-BCT bằng các mẫu và phụ lục tương ứng ban hành kèm theo Thông tư này;

b) Bổ sung Mẫu số 14, Mẫu số 15, Mẫu số 16, Mẫu số 17 vào Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2013/TT-BCT như tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này;

c) Bãi bỏ Mẫu số 9 của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2013/TT-BCT.

Thông tư số 17/2018/TT-BCT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 23/8/2018./.

TTKC&TVPTCN Quảng Ninh

 
Hoạt động khuyến công khu vực phía Bắc năm 2018: Cần tăng tốc để hoàn thành kế hoạch

Trong những năm gần đây, hoạt động khuyến công của cả nước nói chung và 28 tỉnh thành khu vức phía Bắc nói riêng đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận. Quy mô, chất lượng của các đề án ngày càng được nâng cao, đã có tác động rõ nét đến sự phát triển công nghiệp ở nông thôn.


Tổ chức Hội chợ hàng CNNTTB KV phía Bắc nằm trong chuỗi hoạt động KCQG năm 2018

Tổ chức Hội chợ hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực phía Bắc nằm trong chuỗi hoạt động Khuyến công quốc gia năm 2018

Cùng với đó, hoạt động khuyến công cũng nhận được sự quan tâm ngày càng nhiều từ phía lãnh đạo các ngành, các cấp tại mỗi địa phương, qua đó, đã góp phần tích cực trong triển khai các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ, giúp DN ổn định SXKD, tháo gỡ phần nào khó khăn về vốn đầu tư.

Kết quả đạt được         

Năm 2018, do Bộ Tài chính yêu cầu giải trình kế hoạch đối với các dạng đề án ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến thực hiện đơn lẻ nên việc giao và triển khai thực hiện các đề án chậm hơn so với năm 2017, do đó ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các chương trình, đề án trong 6 tháng đầu năm.

Theo báo cáo của Cục Công Thương địa phương, tổng kinh phí khuyến công (KC) năm 2018 được duyệt của 28 tỉnh, thành khu vực phía Bắc là 130,005 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 6/2018, kinh phí toàn vùng đã thực hiện đạt 46,022 tỷ đồng, tăng 9,1% so với năm 2017, đạt 35,4% kế hoạch năm. Cụ thể, đối với công tác đào tạo, truyền nghề và nâng cao tay nghề đã thực hiện đào tạo nghề cho 745 lao động, với kinh phí thực hiện là 1,082 tỷ đồng, đạt 17,77% kế hoạch. Công tác nâng cao năng lực quản lý được triển khai nhanh nhất, với kinh phí thực hiện là 3,99 tỷ đồng, đạt 65% kế hoạch. Cũng trong 6 tháng qua, 8 mô hình trình diễn kỹ thuật đã được tổ chức thực hiện; hỗ trợ được 146 cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) ứng dụng máy móc thiết bị hiện đại vào dây chuyền sản xuất, hỗ trợ đánh giá sản xuất sạch hơn cho 2 cơ sở CNNT, với tổng kinh phí thưc hiện là 26,574 tỷ đồng, đạt 38% kế hoạch. Công tác phát triển sản phẩm CNNT tiêu biểu đã thực hiện được 5.896, đạt 29% kế hoạch, trong đó, đã tổ chức 01 hội chợ, hỗ trợ 95 cơ sở CNNT tham gia; hỗ trợ đăng ký và xây dựng thương hiệu cho 3 cơ sở CNNT. Hỗ trợ 13 dự án tư vấn lập dự án đầu tư, marketing, quản lý sản xuất – tài chính – kế toán – nhân lực, giải ngân được 560 triệu đồng, đạt 26,54% kế hoạch. Công tác cung cấp thông tin về các chính sách phát triển công nghiệp khuyến công đã giải ngân được 3,895 tỷ đồng, đạt 50% kế hoạch. Chương trình hỗ trợ liên doanh, liên kết hợp tác kinh tế và phát triển các cụm công nghiệp đã thực hiện được 1,36 tỷ đồng, đạt 14,55% kế hoạch. Cùng với đó, hoạt động tư vấn phát triển công nghiệp trong 6 tháng đầu năm đã tư vấn cho 115 dự án, với doanh thu đạt 4,301 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ và đạt 40% kế hoạch.

Mặc dù do yếu tố khách quan dẫn đến việc triển khai thực hiện các đề án bị chậm so với kế hoạch. Tuy nhiên, nhờ công tác quản lý nhà nước về KC ngày càng được củng cố; tổ chức hệ thống KC được quan tâm đầu tư, kết nối hoạt động ngày càng hiệu quả; công tác xây dựng, thẩm định, hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện và thanh quyết toán đề án có nhiều chuyển biến tích cực, nên các đề án KC triển khai thực hiện đạt kết quả tốt, đã hỗ trợ khuyến khích các cơ sở CNNT thúc đẩy sản xuất, đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị sản phẩm, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ. Mặt khác, còn khuyến khích các cơ sở CNNT khai thác tốt tiềm năng nguồn nguyên liệu hiện có trên địa bàn các tỉnh, thành phố, tạo ra giá trị sản xuất chung của ngành, sự chuyển dịch cơ cấu CNNT theo hướng công nghiệp hóa.

Giải pháp để hoàn thành nhiệm vụ

Từ kết quả thực hiện kế hoạch 6 tháng đầu năm, để hoàn thành kế hoạch KC năm 2018, Cục Công Thương địa phương đã đề ra những giải pháp chính cần thực hiện trong những tháng còn lại đó là: Tiếp tục triển khai đồng bộ Chương trình hành động của ngành Công Thương về thực hiện các Nghị quyết số 01 và 19 năm 2018; Nghị quyết 35 năm 2016 của Chính phủ. Sở Công Thương các tỉnh, thành phố cần theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện đề án khuyến công đảm bảo đúng tiến độ, quy định; tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và tháo gỡ kịp thời khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai các đề án khuyến công; kịp thời tạm ứng kinh phí thực hiện đề án thanh lý hợp đồng và quyết toán kinh phí theo quy định. Thực hiện tốt công tác xây dựng kế hoạch KC năm 2019 theo hướng xây dựng các hoạt động có trọng tâm, trong điểm; rà soát nhu cầu của đối tượng thụ hưởng, xây dựng đề án điểm, đề án nhóm, đề án hỗ trợ cơ sở CNNT có sản phẩm CNNT tiêu biểu cấp khu vực, cấp quốc gia, đảm bảo có sự liên kiết, tác động lan tỏa, tránh việc dàn trải, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp; chú trọng phát triển các ngành và sản phẩm công nghiệp ưu tiên làm nền tảng cho hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, hướng tới hình thành các cụm công nghiệp hỗ trợ theo cụm liên kết chuỗi, ngành, xây dựng mô hình các cơ sở CNNT đi đầu, dẫn dắt các cơ sở khác tại địa phương. Sở Công Thương các tỉnh, thành phố cần tăng cường thực hiện tốt chức năng tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác KC; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác KC; đầu tư cơ sở vật chất, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan, đồng thời quan tâm bố trí kế hoạch vốn cho hoạt động KC. Đẩy mạnh và mở rộng phương thức hoạt động thông tin tuyên truyền nhằm chuyển tải đầy đủ, kịp thời, chính xác những thông tin về cơ chế, chính sách, hoạt động KC và công nghiệp địa phương tới các cơ sở CNNT. Cùng với đó, đẩy mạnh hoạt động tư vấn phát triển công nghiệp, tạo nguồn thu và hỗ trợ thực hiện các hoạt động KC ngày càng hiệu quả hơn. Đặc biêt, cần tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành trong vùng và liên kết giữa các vùng để trao đổi kinh nghiệm, qua đó, vừa phát huy được thế mạnh của mỗi địa phương, vừa liên kết khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng, lợi thế của cả vùng…

Có thể thấy, mặc dù hoạt động KC trong 6 tháng đầu năm của các tỉnh, thành khu vực phía Bắc đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn chậm. Để hoàn thành được kế hoạch được giao thì nhiệm vụ trước mắt là khá nặng nề, đòi hỏi Sở Công Thương, Trung tâm KC, cùng chính quyền các cấp ở địa phương và các cơ sở CNNT phải tăng tốc, tập trung triển khai thực hiện các chương trình, đề án thì mới có thể hoàn thành tốt được kế hoạch được giao./.

Nguồn: congnghieptieudung.vn

 
« Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối »

Trang 1 trong tổng số 18

Hình ảnh hoạt động

  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Dành cho quảng cáo



Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay10
mod_vvisit_counterHôm qua211
mod_vvisit_counterTrong tuần10
mod_vvisit_counterTuần trước1765
mod_vvisit_counterTrong tháng5104
mod_vvisit_counterTháng trước618
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ370321

Khách trực tuyến: 4
IP của bạn: 172.69.62.87
Hôm nay 21 tháng 01 năm 2019