Hoạt động khuyến công
Quảng Ninh hoàn thành kế hoạch khuyến công quốc gia năm 2018

Năm 2018, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn PTCN Quảng Ninh được phê duyệt 02 đề án khuyến công quốc gia với tổng kinh phí hỗ trợ là 400 triệu đồng, bao gồm: Đề án Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất hương nhang xuất khẩu; Đề án Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất các sản phẩm gia dụng từ kim loại.


Ngay sau khi được Bộ Công Thương phê duyệt và ký hợp đồng khuyến công quốc gia với Cục Công Thương địa phương, Trung tâm đã ký hợp đồng với các đơn vị thụ hưởng để kịp thời hỗ trợ cho các đơn vị đầu tư, ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất. Tính đến đầu tháng 8/2018, Trung tâm đã tiến hành nghiệm thu cả 02 đề án khuyến công quốc gia, đạt 100% kế hoạch được phê duyệt.

Nghiem thu KCQG 2018

KCQN năm 2018 hỗ trợ ứng dụng máy làm hương nhang tự động vào sản xuất hương nhang xuất khẩu

Đối với đề án Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất hương nhang xuất khẩu, Trung tâm đã phối hợp với Hợp tác xã sản xuất kinh doanh hương nhang Đức Phú để đầu tư máy làm hương nhang tự động vào sản xuất. Đối với đề án Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị trong sản xuất các sản phẩm gia dụng từ kim loại, Trung tâm đã phối hợp với Công ty CP xây dựng và thương mại Hoàng Gia JSC đầu tư rất nhiều máy móc vào sản xuất đồ kim loại, như: Máy cắt nhôm, máy cắt – hàn inox, máy cắt – hàn sắt, máy phay…

Với việc ứng dụng máy móc, thiết bị này đã giúp doanh nghiệp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm thiểu chi phí sản xuất, an toàn hơn với người công nhân vận hành và gia tăng giá trị cạnh tranh tại địa phương.

Với kết quả thực hiện các đề án khuyến công nêu trên, Quảng Ninh là một trong các địa phương thực hiện và hoàn thành sớm kế hoạch khuyến công quốc gia năm 2018./.

TTKC&TVPTQN Quảng Ninh

 
Hoạt động khuyến công đã góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn

Trong những năm qua, bằng nguồn kinh phí khuyến công, nhiều hoạt động khuyến công đã được triển khai có hiệu quả, quy mô và chất lượng các đề án khuyến công ngày càng được nâng cao và có tác động rõ nét đến phát triển công nghiệp nông thôn (CNNT). Trong đó, công tác hỗ trợ đào tạo nghề, truyền nghề và nâng cao tay nghề cho các cơ sở CNNT cũng đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển KT-XH, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội tại các địa phương.


KC gop phan chuyen dich co cau LD

Đào tạo nguồn lao động là hình thức hỗ trợ rất thiết thực đối với doanh nghiệp

Trong giai đoạn 2008 – 2017, tổng kinh phí từ ngân sách bố trí cho hoạt động khuyến công quốc gia và địa phương là 1.859,665 tỷ đồng, trong đó, kinh phí dành cho công tác hỗ trợ đào tạo nghề, truyền nghề và nâng cao tay nghề cho các doanh nghiệp (DN), cơ sở CNNT là 569,276 tỷ đồng, chiếm 30,6% tổng kinh phí khuyến công thực hiện được.

Chương trình đã hỗ trợ đào tạo nghề, truyền nghề, nâng cao tay nghề và nâng cao năng lực quản lý cho các DN, cơ sở CNNT có nhu cầu đổi mới sản phẩm, mở rộng sản xuất. Cụ thể, đã tổ chức đào tạo nghề cho khoảng 451.000 lao động, với kinh phí thực hiện là 470,439 tỷ đồng; đào tạo về khởi sự và nâng cao năng lực quản lý cho 70.392 lượt cán bộ quản lý, điều hành tại các cơ sở CNNT, với kinh phí thực hiện là 98,837 tỷ đồng.

Hoạt động đào tạo nghề, truyền nghề chủ yếu bằng hình thức đào tạo tại chỗ, ngắn hạn (tối đa 3 tháng) gắn với DN, cơ sở CNNT. Các Sở Công Thương đã hướng dẫn xây dựng kế hoạch đào tạo nghề xuất phát từ nhu cầu của DN, cơ sở CNNT. Đồng thời, thực hiện đa dạng hóa các ngành nghề, chương trình đào tạo, lấy mục tiêu là trang bị cho người lao động (NLĐ) các kỹ năng, kỹ thuật phù hợp với thực tế đầu tư trang thiết bị, công nghệ của DN, đảm bảo NLĐ sau đào tạo có khả năng vào làm việc ngay được trên dây chuyền sản xuất của đơn vị. Do các đề án đào tạo nghề đều gắn với nhu cầu sử dụng lao động của DN, vì vậy, tỷ lệ NLĐ có việc làm sau đào tạo rất cao, đạt tới 95,54%.

Nói về hiệu quả mà hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề mang lại cho DN, bà Ngô Thị Diệu Linh, Giám đốc Công ty TNHH May Phù Yên, tỉnh Sơn La chia sẻ: “Là một DN chuyên may các sản phẩm áo jacket xuất khẩu gián tiếp sang thị trường các nước châu Á, châu Âu và châu Mỹ, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo, nâng cao tay nghề cho NLĐ. Bởi tay nghề của công nhân được nâng cao thì mới tăng năng suất lao động, đồng thời, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe về chất lượng của các đơn hàng xuất khẩu. Năm 2017, việc phối hợp của Trung tâm Khuyến công Sơn La với Công ty trong đào tạo nguồn lao động là hình thức hỗ trợ rất phù hợp và thiết thực, giúp DN chúng tôi có được đội ngũ công nhân có tay nghề cao, giảm tối đa chi phí đào tạo đầu vào và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm”.

Có thể thấy, công tác đào tạo nghề đã mang lại hiệu quả thiết thực, giúp DN, cơ sở CNNT bổ sung lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu sản xuất, chủ động được nguồn lao động. Đồng thời, tạo điều kiện để NLĐ tiếp cận với nghề có thu nhập ổn định, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn theo hướng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp./.

Nguồn: congnghieptieudung.vn

 
Khuyến công khu vực phía Bắc: Gánh nặng dồn về cuối năm

Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch khuyến công nửa đầu năm 2018 của các địa phương khu vực phía Bắc đạt thấp, trước tình hình trên, Cục Công Thương địa phương (Bộ Công Thương) đã đề nghị, các địa phương dồn sức triển khai thực hiện nhiều giải pháp, nhằm bảo đảm hoàn thành kế hoạch đúng tiến độ, mục tiêu đề ra.


 

KC phia Bac 1

Nâng cao năng lực quản lý và khởi sự DN là nội dung khuyến công được các tỉnh phía Bắc chú trọng

Tỷ lệ hoàn thành thấp

Theo số liệu từ Cục Công Thương địa phương, tổng kế hoạch kinh phí khuyến công năm 2018 được duyệt của 28 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc là 130 tỷ đồng. Tính đến hết quý II/2018, kinh phí toàn vùng đã thực hiện 46,022 tỷ đồng, đạt 35,4% kế hoạch năm.

Trong 6 tháng đầu năm, đào tạo nâng cao năng lực quản lý và khởi sự cho doanh nghiệp (DN) là nội dung được các địa phương trong khu vực thực hiện sát sao nhất, tỷ lệ giải ngân của nhóm nội dung này đạt tới 65% kế hoạch năm. Tiếp đến là nội dung hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật và ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất, có tổng kinh phí đạt trên 26,574 tỷ đồng, tuy nhiên chỉ đạt 38% kế hoạch năm.

Tỷ lệ thực hiện của các nội dung khác cũng khá thấp so với kế hoạch năm, như: Đào tạo nghề đạt 20,9%; hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn (CNNT) tiêu biểu, 29%; chương trình tư vấn, trợ giúp các cơ sở CNNT 26,54%; chương trình hỗ trợ liên doanh, liên kết hợp tác kinh tế và phát triển các cụm công nghiệp (CCN) 14,55% …

Như vậy có thể thấy, khối lượng công việc đã thực hiện của công tác khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc trong nửa đầu năm 2018 là khá thấp. Nguyên nhân được đại diện Cục Công Thương địa phương cho rằng, ở một số địa phương công tác khảo sát, xây dựng kế hoạch, đề xuất và chất lượng đề án còn hạn chế, ít các đề án mang tính điển hình và tính lan tỏa; việc đăng ký và triển khai thực hiện đề án chưa thực sự bám sát nhu cầu, tính khả thi chưa cao, do đó còn nhiều đề án phải điều chỉnh trong năm, cá biệt có một số đề án xin ngừng vì không triển khai được. Tổ chức thực hiện và tạm ứng, thanh toán kinh phí khuyến công chậm so với tiến độ và yêu cầu, làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện kế hoạch chung.

Công tác thẩm định cấp cơ sở đối với đề án đăng ký hỗ trợ từ kinh phí khuyến công quốc gia vẫn còn hạn chế; còn có đề án thẩm định mang tính thủ tục, không bám sát nội dung yêu cầu, không đúng nội dung chương trình, sai dự toán, hồ sơ thủ tục còn thiếu so với quy định, không xét giao kế hoạch được hoặc khi triển khai thực hiện còn gặp khó khăn, vướng mắc dẫn đến phải ngừng, điều chỉnh, gia hạn.

Cùng đó, Cục Công Thương địa phương đã có văn bản gửi các địa phương yêu cầu đổi mới hoạt động khuyến công quốc gia theo hướng hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm. Tuy nhiên cho đến nay, mới chỉ ghi nhận sự tham gia tích cực của một số địa phương, đặc biệt, vẫn chưa có nhiều tỉnh, thành phố mạnh dạn xây dựng đề án điểm có quy mô lớn, thời gian thực hiện dài hạn.

KC phia Bac 2

Cần đổi mới công tác khuyến công

Nỗ lực hoàn thành mục tiêu

Báo cáo Tình hình hoạt động khuyến công các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc năm 2017, 6 tháng đầu năm 2018 và nhiệm vụ giải pháp hoàn thành kế hoạch năm 2018, các địa phương trong khu vực đã thống nhất mục tiêu những tháng cuối năm. Theo đó, các địa phương phấn đấu thực hiện hoàn thành 100% các đề án khuyến công đã được giao; xây dựng kế hoạch khuyến công năm 2019 đúng thời hạn, có chất lượng, trong đó có ít nhất 40% địa phương đã xây dựng được đề án điểm; 100% địa phương cử cán bộ chuyên trách về hoạt động khuyến công tham gia các chương trình đào tạo, tập huấn về kiến thức phát triển công nghiệp và chuyên môn nghiệp vụ về công tác khuyến công…

Để hoàn thành mục tiêu này, Cục Công Thương địa phương đề nghị Sở Công Thương các tỉnh, thành phố theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện đề án khuyến công, bảo đảm đúng tiến độ, quy định; tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai đề án khuyến công.

Thực hiện tốt công tác xây dựng kế hoạch khuyến công năm 2019, thực hiện mục tiêu đổi mới cách thức xây dựng kế hoạch các hoạt động khuyến công theo hướng có trọng tâm, trọng điểm; khắc phục và giảm mạnh việc khảo sát, lựa chọn các đề án dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp.

Sở Công Thương các địa phương cần tăng cường thực hiện chức năng tham mưu giúp UBND cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác khuyến công trên địa bàn. Nâng cao năng lực và kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ lãnh đạo Trung tâm khuyến công và các phòng chuyên môn, chi nhánh cấp huyện, hệ thống khuyến công viên cấp huyện, xã đủ mạnh về số lượng và chất lượng. Mở rộng hoạt động thông tin tuyên truyền, phổ biến kịp thời, chính xác các thông tin về cơ chế, chính sách, các hoạt động khuyến công và công nghiệp địa phương tới các cơ sở CNNT.

Ngoài ra, các tỉnh, thành phố cần tăng cường liên kết giữa các địa phương với nhau và liên kết giữa các vùng để trao đổi kinh nghiệm trong phát triển ngành và hoạt động khuyến công, nhằm phát huy thế mạnh của mỗi địa phương, đồng thời khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của cả vùng, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội địa phương nói riêng và cả nước nói chung.

Theo: http://kinhtevn.com.vn



 
Sửa đổi, bổ sung quy định về việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia

Ngày 10/7/2018, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư số17/2018/TT-BCTsửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 36/2013/TT-BCT ngày 27/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định về việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia. 


Theo đó, có một số nội dung sửa đổi, bổ sung đáng chú ý như sau:

Sửa đổi khoản 3 và bổ sung khoản 5, khoản 6 vào Điều 2:

“3. Đề án khuyến công quốc gia điểm (sau đây gọi là đề án điểm) là đề án khuyến công quốc gia (sau đây gọi là đề án) được lập theo ngành nghề sản xuất các sản phẩm có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh của quốc gia, vùng, địa phương; có từ 02 nội dung hoạt động khuyến công và 02 đối tượng thụ hưởng trở lên; thời gian thực hiện từ 02 đến 03 năm; các nội dung hoạt động khuyến công trong đề án có sự liên kết nhằm khuyến khích, hỗ trợ thúc đẩy sự phát triển công nghiệp nông thôn theo hướng có trọng tâm, trọng điểm.”

“5. Đề án khuyến công quốc gia theo nhóm (sau đây gọi là đề án nhóm) là đề án khuyến công quốc gia có từ 02 đối tượng thụ hưởng trở lên thực hiện cùng một nội dung hoạt động khuyến công.”

6. Đề án khuyến công quốc gia theo đối tượng cụ thể là đề án có một đối tượng thụ hưởng xác định cho một nội dung hoạt động khuyến công trên một địa bàn cụ thể.”.

Bổ sung Điều 3a vào sau Điều 3:

Điều 3a. Cách thức triển khai thực hiện đề án nhóm, đề án điểm

1. Đề án nhóm

a) Đề án nhóm gồm: Đề án đào tạo nghề, truyền nghề; nâng cao năng lực quản lý, khởi sự thành lập doanh nghiệp; tư vấn, trợ giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn; hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ, triển lãm; hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; hỗ trợ xây dựng, đăng ký nhãn hiệu;

b) Đề án nhóm không yêu cầu phải xác định địa điểm, đơn vị thụ hưởng, đơn vị phối hợp khi thẩm định cấp Bộ. Riêng đề án nhóm hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phải lập theo từng lĩnh vực, sản phẩm có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh của vùng, địa phương trên cơ sở danh mục ngành nghề được hưởng chính sách khuyến công quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 45/2012/NĐ-CP; phải xác định địa điểm, đơn vị thụ hưởng, chủng loại máy móc thiết bị khi thẩm định cấp Bộ và xác định đơn vị phối hợp, thông số kỹ thuật của máy móc thiết bị khi lập kế hoạch triển khai để làm cơ sở ký kết hợp đồng khuyến công quốc gia.

2. Đề án điểm

a) Khi thẩm định cấp Bộ, các nội dung hoạt động khuyến công trong năm đầu kế hoạch phải xác định cụ thể địa điểm, đơn vị thụ hưởng, đơn vị phối hợp (trừ các nội dung theo nhóm thực hiện như quy định tại điểm b khoản 1 Điều này);

b) Đối với việc xây dựng kế hoạch các năm tiếp theo: Các địa phương, đơn vị, Trung tâm Khuyến công quốc gia ở các vùng chịu trách nhiệm rà soát, điều chỉnh nội dung hoạt động khuyến công phù hợp với tình hình thực tế, lập thành kế hoạch khuyến công quốc gia cho năm dự toán ngân sách trên cơ sở đã xác định cụ thể các nội dung yêu cầu như đối với năm đầu kế hoạch để thẩm định theo quy định;

c) Đề án điểm sau khi được Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt kế hoạch kinh phí khuyến công quốc gia trong năm đầu kế hoạch, sẽ được ưu tiên bố trí kinh phí các năm tiếp theo để thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.”.

Sửa đổi, bổ sung Điều 7:

Điều 7. Tiêu chí chung và tiêu chí ưu tiên lựa chọn đề án, nhiệm vụ

1. Tiêu chí chung

a) Phù hợp với nguyên tắc lập đề án theo quy định tại Điều 4 Thông tư này;

b) Nội dung hoạt động khuyến công có tác động khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên phạm vi quốc gia, vùng, địa phương;

c) Phù hợp với mức hỗ trợ kinh phí khuyến công quốc gia theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công Thương;

 d) Đơn vị thực hiện đề án không vi phạm hợp đồng khuyến công quốc gia trong 02 năm gần nhất.

2. Tiêu chí ưu tiên

a) Ưu tiên lựa chọn các đề án điểm; đề án có ngành nghề, địa bàn ưu tiên theo quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn về khuyến công;

b) Trường hợp các đề án triển khai trên địa bàn có điều kiện như nhau, ngành nghề như nhau thì ưu tiên lựa chọn đề án của đơn vị có kinh nghiệm, năng lực tổ chức thực hiện tốt hơn.”.

Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 2 Điều 11:

“a) Cục Công Thương địa phương trình Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt đối với các đề nghị điều chỉnh: Tăng tổng mức kinh phí hỗ trợ; thay đổi nội dung hoạt động khuyến công; gia hạn thời gian thực hiện đề án sang năm tiếp theo; bổ sung hoặc ngừng thực hiện đề án để điều chỉnh kinh phí hỗ trợ giữa các đơn vị thực hiện trong năm ngân sách;”.

Sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 11:

“4. Đối với các đề án nhóm do Sở Công Thương thẩm định, đăng ký (trừ đề án nhóm hỗ trợ ứng dụng máy móc tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp), khi điều chỉnh thay đổi địa điểm, đơn vị phối hợp, đơn vị thụ hưởng, Sở Công Thương chịu trách nhiệm kiểm tra, thẩm định và điều chỉnh kế hoạch thực hiện, đồng thời gửi văn bản điều chỉnh về Cục Công Thương địa phương để theo dõi, tạm ứng, thanh quyết toán.”.

Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 6 Điều 12:

“1. Việc tạm ứng, thanh toán và quyết toán kinh phí khuyến công quốc gia áp dụng đối với các đơn vị thực hiện đề án, nhiệm vụ của một số nội dung hoạt động khuyến công quốc gia (bên B) thông qua hợp đồng ký với Cục Công Thương địa phương theo kế hoạch khuyến công quốc gia được Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt. Đối với các đề án, nhiệm vụ giao cho các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ Công Thương, Vụ Tài chính và Đổi mới doanh nghiệp thực hiện thẩm định dự toán, xét duyệt quyết toán theo quy định hiện hành.”

“6. Đơn vị thực hiện đề án phải hoàn trả Cục Công Thương địa phương để nộp ngân sách nhà nước đối với phần kinh phí đã nhận nhưng không có khối lượng thanh toán, những khoản kinh phí đã sử dụng nhưng không được quyết toán theo chế độ quy định.”.

Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 và điểm b, điểm c, điểm d khoản 2 Điều 13:

“1. Tạm ứng 30% kinh phí hỗ trợ của đề án

a) Đối với các đề án hỗ trợ: Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp; sửa chữa, nâng cấp hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường tại cụm công nghiệp;”

“2. Tạm ứng 70% kinh phí hỗ trợ của đề án

b) Đối với các đề án hỗ trợ hoạt động: Tư vấn, đào tạo, tập huấn, hội nghị, hội thảo, diễn đàn; tham quan khảo sát; xây dựng, đăng ký nhãn hiệu; hỗ trợ các phòng trưng bày giới thiệu quảng bá sản phẩm tại các cơ sở công nghiệp nông thôn; thành lập các hiệp hội, hội ngành nghề; xây dựng các cụm liên kết doanh nghiệp công nghiệp; đánh giá sản xuất sạch hơn.

Hồ sơ tạm ứng: Hợp đồng thực hiện đề án; kế hoạch tổ chức thực hiện đề án của đơn vị thực hiện (đối với các hoạt động đào tạo, hội nghị, hội thảo, tham quan khảo sát; xây dựng, đăng ký nhãn hiệu);

c) Đối với các đề án hỗ trợ: Tổ chức hội chợ, triển lãm; hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ triển lãm; xây dựng các chương trình truyền hình, truyền thanh; xây dựng cơ sở dữ liệu, trang thông tin điện tử; in tờ rơi, tờ gấp; các hình thức thông tin đại chúng khác; lập quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp.

Hồ sơ tạm ứng: Hợp đồng thực hiện đề án; hợp đồng hỗ trợ giữa đơn vị thực hiện với chủ đầu tư (đối với đề án hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp);

d) Đối với các đề án hỗ trợ: Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, dây chuyền công nghệ vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; mô hình áp dụng sản xuất sạch hơn; sửa chữa, nâng cấp hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường tại các cơ sở công nghiệp nông thôn.

Hồ sơ tạm ứng: Hợp đồng thực hiện đề án, báo cáo tiến độ của đơn vị thực hiện xác định giá trị khối lượng công việc đã thực hiện tương ứng trên 70% tổng vốn đầu tư của dự án.”.

Sửa đổi khoản 13 và bổ sung khoản 16 vào Điều 14:

“13. Đề án hỗ trợ lập quy hoạch chi tiết cụm công nghiệp: Quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết của cơ quan có thẩm quyền; Hợp đồng, biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng tương ứng 100% số kinh phí thực hiện.”

“16. Đối với đề án hỗ trợ thành lập doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nông thôn: Thực hiện thanh toán 01 lần sau khi đề án hoàn thành; hồ sơ thanh toán gồm: Hợp đồng thực hiện đề án; biên bản nghiệm thu cơ sở theo Mẫu số 5b của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này; báo cáo tổng hợp kết quả thực hiện đề án; báo cáo khối lượng hoàn thành và kinh phí thực hiện hợp đồng theo Mẫu số 3b của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này; bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do cơ quan có thẩm quyền cấp.”.

Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 23:

“a) Các đơn vị thực hiện đề án hàng tháng lập báo cáo tiến độ thực hiện các đề án theo Mẫu số 3a của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này gửi Cục Công Thương địa phương, Sở Công Thương trước ngày 25 hàng tháng. Đối với báo cáo tiến độ liên quan đến đề nghị tạm ứng kinh phí khuyến công phải có kiểm tra, xác nhận của Sở Công Thương nơi triển khai thực hiện đề án.”.

Thay thế, bổ sung, bãi bỏ một số mẫu biểu tại các Phụ lục:

a) Thay thế Mẫu số 2, Mẫu số 4a, Mẫu số 4b, Mẫu số 5b, Mẫu số 6, Mẫu số 10 của Phụ lục 1 và Phụ lục 4 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2013/TT-BCT bằng các mẫu và phụ lục tương ứng ban hành kèm theo Thông tư này;

b) Bổ sung Mẫu số 14, Mẫu số 15, Mẫu số 16, Mẫu số 17 vào Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2013/TT-BCT như tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này;

c) Bãi bỏ Mẫu số 9 của Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2013/TT-BCT.

Thông tư số 17/2018/TT-BCT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 23/8/2018./.

TTKC&TVPTCN Quảng Ninh

 
Hoạt động khuyến công khu vực phía Bắc năm 2018: Cần tăng tốc để hoàn thành kế hoạch

Trong những năm gần đây, hoạt động khuyến công của cả nước nói chung và 28 tỉnh thành khu vức phía Bắc nói riêng đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận. Quy mô, chất lượng của các đề án ngày càng được nâng cao, đã có tác động rõ nét đến sự phát triển công nghiệp ở nông thôn.


Tổ chức Hội chợ hàng CNNTTB KV phía Bắc nằm trong chuỗi hoạt động KCQG năm 2018

Tổ chức Hội chợ hàng công nghiệp nông thôn tiêu biểu khu vực phía Bắc nằm trong chuỗi hoạt động Khuyến công quốc gia năm 2018

Cùng với đó, hoạt động khuyến công cũng nhận được sự quan tâm ngày càng nhiều từ phía lãnh đạo các ngành, các cấp tại mỗi địa phương, qua đó, đã góp phần tích cực trong triển khai các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ, giúp DN ổn định SXKD, tháo gỡ phần nào khó khăn về vốn đầu tư.

Kết quả đạt được         

Năm 2018, do Bộ Tài chính yêu cầu giải trình kế hoạch đối với các dạng đề án ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến thực hiện đơn lẻ nên việc giao và triển khai thực hiện các đề án chậm hơn so với năm 2017, do đó ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các chương trình, đề án trong 6 tháng đầu năm.

Theo báo cáo của Cục Công Thương địa phương, tổng kinh phí khuyến công (KC) năm 2018 được duyệt của 28 tỉnh, thành khu vực phía Bắc là 130,005 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 6/2018, kinh phí toàn vùng đã thực hiện đạt 46,022 tỷ đồng, tăng 9,1% so với năm 2017, đạt 35,4% kế hoạch năm. Cụ thể, đối với công tác đào tạo, truyền nghề và nâng cao tay nghề đã thực hiện đào tạo nghề cho 745 lao động, với kinh phí thực hiện là 1,082 tỷ đồng, đạt 17,77% kế hoạch. Công tác nâng cao năng lực quản lý được triển khai nhanh nhất, với kinh phí thực hiện là 3,99 tỷ đồng, đạt 65% kế hoạch. Cũng trong 6 tháng qua, 8 mô hình trình diễn kỹ thuật đã được tổ chức thực hiện; hỗ trợ được 146 cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) ứng dụng máy móc thiết bị hiện đại vào dây chuyền sản xuất, hỗ trợ đánh giá sản xuất sạch hơn cho 2 cơ sở CNNT, với tổng kinh phí thưc hiện là 26,574 tỷ đồng, đạt 38% kế hoạch. Công tác phát triển sản phẩm CNNT tiêu biểu đã thực hiện được 5.896, đạt 29% kế hoạch, trong đó, đã tổ chức 01 hội chợ, hỗ trợ 95 cơ sở CNNT tham gia; hỗ trợ đăng ký và xây dựng thương hiệu cho 3 cơ sở CNNT. Hỗ trợ 13 dự án tư vấn lập dự án đầu tư, marketing, quản lý sản xuất – tài chính – kế toán – nhân lực, giải ngân được 560 triệu đồng, đạt 26,54% kế hoạch. Công tác cung cấp thông tin về các chính sách phát triển công nghiệp khuyến công đã giải ngân được 3,895 tỷ đồng, đạt 50% kế hoạch. Chương trình hỗ trợ liên doanh, liên kết hợp tác kinh tế và phát triển các cụm công nghiệp đã thực hiện được 1,36 tỷ đồng, đạt 14,55% kế hoạch. Cùng với đó, hoạt động tư vấn phát triển công nghiệp trong 6 tháng đầu năm đã tư vấn cho 115 dự án, với doanh thu đạt 4,301 tỷ đồng, tăng 11% so với cùng kỳ và đạt 40% kế hoạch.

Mặc dù do yếu tố khách quan dẫn đến việc triển khai thực hiện các đề án bị chậm so với kế hoạch. Tuy nhiên, nhờ công tác quản lý nhà nước về KC ngày càng được củng cố; tổ chức hệ thống KC được quan tâm đầu tư, kết nối hoạt động ngày càng hiệu quả; công tác xây dựng, thẩm định, hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện và thanh quyết toán đề án có nhiều chuyển biến tích cực, nên các đề án KC triển khai thực hiện đạt kết quả tốt, đã hỗ trợ khuyến khích các cơ sở CNNT thúc đẩy sản xuất, đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị sản phẩm, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường tiêu thụ. Mặt khác, còn khuyến khích các cơ sở CNNT khai thác tốt tiềm năng nguồn nguyên liệu hiện có trên địa bàn các tỉnh, thành phố, tạo ra giá trị sản xuất chung của ngành, sự chuyển dịch cơ cấu CNNT theo hướng công nghiệp hóa.

Giải pháp để hoàn thành nhiệm vụ

Từ kết quả thực hiện kế hoạch 6 tháng đầu năm, để hoàn thành kế hoạch KC năm 2018, Cục Công Thương địa phương đã đề ra những giải pháp chính cần thực hiện trong những tháng còn lại đó là: Tiếp tục triển khai đồng bộ Chương trình hành động của ngành Công Thương về thực hiện các Nghị quyết số 01 và 19 năm 2018; Nghị quyết 35 năm 2016 của Chính phủ. Sở Công Thương các tỉnh, thành phố cần theo dõi, đôn đốc các đơn vị thực hiện đề án khuyến công đảm bảo đúng tiến độ, quy định; tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và tháo gỡ kịp thời khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai các đề án khuyến công; kịp thời tạm ứng kinh phí thực hiện đề án thanh lý hợp đồng và quyết toán kinh phí theo quy định. Thực hiện tốt công tác xây dựng kế hoạch KC năm 2019 theo hướng xây dựng các hoạt động có trọng tâm, trong điểm; rà soát nhu cầu của đối tượng thụ hưởng, xây dựng đề án điểm, đề án nhóm, đề án hỗ trợ cơ sở CNNT có sản phẩm CNNT tiêu biểu cấp khu vực, cấp quốc gia, đảm bảo có sự liên kiết, tác động lan tỏa, tránh việc dàn trải, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp; chú trọng phát triển các ngành và sản phẩm công nghiệp ưu tiên làm nền tảng cho hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, hướng tới hình thành các cụm công nghiệp hỗ trợ theo cụm liên kết chuỗi, ngành, xây dựng mô hình các cơ sở CNNT đi đầu, dẫn dắt các cơ sở khác tại địa phương. Sở Công Thương các tỉnh, thành phố cần tăng cường thực hiện tốt chức năng tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác KC; nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác KC; đầu tư cơ sở vật chất, phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan, đồng thời quan tâm bố trí kế hoạch vốn cho hoạt động KC. Đẩy mạnh và mở rộng phương thức hoạt động thông tin tuyên truyền nhằm chuyển tải đầy đủ, kịp thời, chính xác những thông tin về cơ chế, chính sách, hoạt động KC và công nghiệp địa phương tới các cơ sở CNNT. Cùng với đó, đẩy mạnh hoạt động tư vấn phát triển công nghiệp, tạo nguồn thu và hỗ trợ thực hiện các hoạt động KC ngày càng hiệu quả hơn. Đặc biêt, cần tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành trong vùng và liên kết giữa các vùng để trao đổi kinh nghiệm, qua đó, vừa phát huy được thế mạnh của mỗi địa phương, vừa liên kết khai thác có hiệu quả nhất tiềm năng, lợi thế của cả vùng…

Có thể thấy, mặc dù hoạt động KC trong 6 tháng đầu năm của các tỉnh, thành khu vực phía Bắc đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn chậm. Để hoàn thành được kế hoạch được giao thì nhiệm vụ trước mắt là khá nặng nề, đòi hỏi Sở Công Thương, Trung tâm KC, cùng chính quyền các cấp ở địa phương và các cơ sở CNNT phải tăng tốc, tập trung triển khai thực hiện các chương trình, đề án thì mới có thể hoàn thành tốt được kế hoạch được giao./.

Nguồn: congnghieptieudung.vn

 
Hội nghị khuyến công khu vực phía Bắc lần thứ XIII tại tỉnh Nghệ An: Tìm hướng đi phù hợp cho công tác khuyến công giai đoạn công nghiệp 4.0

Chiều ngày 1/8, Sở Công Thương tỉnh Nghệ An  phối hợp với Cục Công Thương địa phương (Cục CTĐP - Bộ Công Thương) đã tổ chức chương trình Hội nghị Khuyến công các tỉnh, Thành phố khu vực phía Bắc lần thứ XIII năm 2018. 


1907 Toan cYnh hYi nghi

Toàn cảnh hội nghị Khuyến công 28 tỉnh, thành phía Bắc

Theo báo cáo trình bày tại Hội nghị, năm 2017 tổng kế hoạch kinh phí khuyến công của 20 tỉnh, thành phố phía Bắc là 128.925 triệu đồng, đạt 95,6% so với kế hoạch năm, tăng 4,5% so với tổng kinh phí khuyến công thực hiện năm 2016. Trong năm 2018, nguồn kinh phí khuyến công phía Bắc là 130.005 triệu đồng, trong vòng 6 tháng đầu năm kinh phí toàn vùng đã thực hiện được 46.022 triệu đồng đạt 35,4% kế hoạch năm.

Công tác đào tạo nghề trong năm 2017 đã đào tạo cho 4.020 lao động với kinh phí thực hiện là 7.206 triệu đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2018 đã tào tạo nghề cho 745 lao động, đạt 20,79% kế hoạch, với kinh phí là 1.082 triệu đồng. Cũng trong vòng 6 tháng đã tổ chức trình diễn được 08 mô hình trình diễn kỹ thuật; Chương trình phát triển sản phẩm CNNT tiêu biểu đã tổ chức 01 hội chợ, hỗ trợ 95 cơ sở CNNT tham gia, với kinh phí thực hiện được 5.896 triệu đồng, đạt 29% kế hoạch năm…

Đánh giá về kết quả hoạt động khuyến công của 20 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc ông Nguyễn Hồng Phong- Phó cục Trưởng cục Công Thương Địa phương- cho rằng, công tác triển khai các nội dung hoạt động khuyến công của các tỉnh, thành phố phíaBắcđã ngày càng đa dạng và phong phú hơn; các hoạt động khuyến công đã bám sát mục tiêu, kế hoạch của Chương trình KCQG và KCĐP. Hoạt động khuyến công đã góp phần tích cực vào thực hiện kế hoạch sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở các địa phương và khu vực.

Các hoạt động quản lý Nhà nước về khuyến công cũng ngày càng được củng cố. Đa phần các tỉnh, thành phố đã đẩy mạnh các hoạt động khuyến công nhằm hỗ trợ các hoạt động phát triển công nghiệp tại các địa phương. Hoạt động khuyến công đã bám sát mục tiêu, kế hoạch của chương trình khuyến công quốc gia cụ thể hóa bằng các dự án, đề án. Qua đó, góp phần tích cực trong triển khai thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết 19/NQ-CP hay Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên, CTĐP cho rằng, các hoạt động khuyến công tại phía Bắc vẫn còn nhiều hạn chế như: công tác khảo sát xây dựng kế hoạch, đề xuất các đề án khuyến công và chất lượng đề án của một số địa phương còn hạn chế, chưa đa dạng, ít các đề án mang tính điển hình và tính lan tỏa chưa cao; Việc đăng kí và triển khai thực hiện các đề án chưa thực sự bám sát nhu cầu cơ sở CNNT, một số đề án tính khả thi chưa cao, tổ chức thực hiện và tạm ứng còn chậm so với tiến độ; Công tác thẩm định cấp cơ sở còn chưa tốt, mang tính thủ tục, không bám sát nội dung yêu cầu.

Một số tỉnh chưa xây dựng Quy chế về quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với hoạt động khuyến công tại địa phương; cơ sở vật chất làm việc và phương tiện ở một số Trung tâm còn thiếu; Hoạt động tư vấn phát triển công nghiệp của một số địa phương còn chưa được đẩy mạnh, nguồn thu thấp, số lượng dự án và doanh thu từ hoạt động tư vấn chưa xứng với tiềm năng và thế mạnh của các Trung tâm khuyến công…

Cục CTĐP cũng đề ra 08 giải pháp chính để hoàn thành kế hoạch năm 2018, trong đó cần tập trung thực hiện: Triểnkhai đồng bộ Chương trình hành động của ngành Công Thương với việc thựchiệnNghị quyết 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ; Chương trình hành động của Bộ Công Thương triển khai thực hiện Nghị quyết 01/NQ-CP tại Quyết định số 19- 2018/NQCP;Nghị quyết số 35/NQ-CP…

Chủ động trong công tác tham mưu, đề xuất nhanh việc xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về hoạt động khuyên công đáp ứng kịp thời với yêu cầu thực tiễn; Tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai đề án khuyến công, đảm bảo hoàn thành các đề án khuyến công được giao đúng tiến độ, sử dụng kinh phí đúng mục đích; Tăng cường công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, phổ biến văn bản, quy định mới về công tác khuyến công để nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến công; Đổi mới đa dạng các hình thức thông tin tuyên truyển, cung cấp thông tin về công nghiệp, khuyến công…

Tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành phố trong vùng và liên kết giữa các vùng; Nâng cao năng lực và kiện toàn tổ chức của Trung tâm; Đẩy mạnh hoạt động tư vấn tạo nguồn thu và hỗ trợ thực hiện các hoạt động khuyến công; Việc xây dựng các chương trình, đề án khuyến công cần được tổ chức khảo sát, đánh giá nhu cầu thực tế, quan tâm theo hướng hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm…

Tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng phương thức hoạt động, chủ động tuyên truyền thông tin, đầy đủ kịp thời các cơ chế chính sách đến các cơ sở; tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành phố để trao đổi kinh nghiệm trong phát triển ngành và hoạt động khuyến công, phát huy lợi thế của cả vùng.

2752 cY

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An trao Bằng khen của Bộ Công Thương cho các cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác khuyến công.

Thông qua báo cáo, tại hội nghị, các đại biểu đã nghe ý kiến và thảo luận của các tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thái Bình…đề ra các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tác khuyến công những tháng cuối năm 2018 và những năm tiếp theo, nhấn mạnh những giải pháp trong triển khai thực hiện tốt các Nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; chủ động tham mưu, đề xuất nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách về hoạt động khuyến công phù hợp với mỗi địa phương; thực hiện có hiệu quả các kế hoạch, đề án khuyến công quốc gia và khuyến công địa phương, từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển.

Phát biểu kết luận tại Hội nghị, Thứ trưởng Đặng Hoàng An đã chỉ ra một số vấn đề vừa là tồn tại và cũng là khó khăn, hạn chế trong hoạt động khuyến công của khu vực, cụ thể: "khu vực phía Bắc, địa bàn nông thôn nhất là vùng có điều kiện khó khăn chưa hấp dẫn với các nhà đầu tư để tham gia đầu tư vào sản xuất CNNT và phát triển các dịch vụ khuyến công. Bên cạnh đó, cán bộ làm công tác khuyến công, nhất là cán bộ chủ chốt thường xuyên biến động, luân chuyển, vì vậy việc bám sát địa bàn để xây dựng đề án chưa hiệu quả; công tác thông tin tuyên truyền về chính sách khuyến công và các hoạt động khuyến công còn hạn chế, chưa được quan tâm.

Vai trò của khuyến công trong giai đoạn mới phải làm cái gì? trước thời đại 4.0 Trung tâm Khuyến công của các tỉnh đã chuẩn bị gì để đón đầu. Hình hài của Khuyến công thay đổi trong tương lai như thế nào? Toàn bộ tư duy, tập trung từ nguồn ngân sách, mới tìm cách để tiêu tiền, còn kiếm tiền chưa thấy đâu?

Khuyến công cũng tồn tại nhiều vấn đề, các sở ban ngành quan tâm, liên quan đến cụm công nghiệp, môi trường, tránh hệ luỵ lâu dài về tác hại của môi trường. Nhiệm vụ của các sở ở đâu trong vân đề môi trường? Vai trò của các sở Công Thương ở đâu? Hiện các doanh nghiệp đang rất thiếu thông tin trong khi công nghiệp nông thôn ở các tỉnh còn nhiều tiềm năng chưa khai phá. Cần phải lắng nghe ý kiến của các doanh nghiệp, phải có nhiều cách làm phù hợp với xu thế hiện nay..."- Thứ trưởng Đặng Hoàng An nhấn mạnh.

Nhân dịp này, Thứ trưởng Đặng Hoàng An đã thay mặt lãnh đạo Bộ Công Thương trao tặng bằng khen Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Công Thương cho 13 cánhân và tập thể đã có thành tích xuất sắc trong công tác khuyến công. Đồng thời, Ban tổ chức trao Cờ đơn vị đăng cai tổ chức hội nghị khuyến công các tỉnh, Thành phố khu vực phía Bắc năm 2019 cho Sở Công Thương tỉnh Hải phòng.

Theo congthuong.vn

 
Tìm hướng đi cho ngành công nghiệp hỗ trợ

Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc phát triển ngành công nghiệp nói chung và công nghiệp hỗ trợ nói riêng. Tuy nhiên, đến nay các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào lĩnh vực này còn rất thấp, thậm chí còn thấp hơn so với một số nước trong khối ASEAN.

Sản xuất khay nhựa, hộp nhựa đựng linh kiện điện tử tại Khu công nghiệp Đình Trám (Bắc Giang). Ảnh: Danh Lam/TTXVN
Sản xuất khay nhựa, hộp nhựa đựng linh kiện điện tử tại Khu công nghiệp Đình Trám (Bắc Giang). Ảnh: Danh Lam/TTXVN

Theo các chuyên gia kinh tế nhận định, nguyên nhân ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển là do cơ chế, chính sách, mục tiêu phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ chưa rõ ràng, chưa có trọng tâm, trọng điểm… nên đã kìm hãm sự tăng trưởng của ngành này ở Hà Nội nói riêng, cả nước nói chung. Để ngành công nghiệp hỗ trợ Hà Nội đủ sức tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, Hà Nội cần tập trung triển khai nhiều giải pháp theo hướng sát thực tế hơn. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư... 

Mặc dù, UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2017-2020, định hướng 2025. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2020, sẽ có 900 doanh nghiệp chuyên sâu trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ; trong đó, 40% doanh nghiệp có hệ thống sản xuất và sản phẩm đạt chuẩn quốc tế, đủ năng lực cung ứng tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia.

UBND thành phố Hà Nội sẽ tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp, kết nối doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nước ngoài. Đồng thời, thu hút, kêu gọi doanh nghiệp quốc tế đầu tư vào công nghiệp hỗ trợ, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trong việc quản lý, quản trị, phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ. Đồng thời, Hà Nội tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư để tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. UBND thành phố Hà Nội cũng sẽ kiến nghị với Chính phủ cho phép ban hành những chính sách đặc thù phù hợp, tận dụng được tiềm năng phát triển của Thủ đô.

Trong thời gian qua, đã có hàng trăm doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Hà Nội được thụ hưởng các dịch vụ trợ giúp khi tham gia Chương trình về phát triển công nghiệp hỗ trợ. Nhưng số doanh nghiệp được nhận sự trợ giúp vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn. Các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Hà Nội chưa nhận được các trợ giúp trực tiếp từ thành phố còn rất lớn. Các hoạt động trợ giúp chuyên sâu, mang lại hiệu quả cao và thiết thực chưa nhiều. Sự chuyển biến mạnh mẽ, mang tính đột phá, thay đổi về chất trong các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước còn rất ít.... 

Khi nhận định về sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ Hà Nội, ông Nguyễn Thành Minh, Giám đốc Công ty cổ phần xuất nhập khẩu dệt may Minh Thanh (quận Thanh Xuân- Hà Nội) cho biết, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng điện tử, máy móc, thiết bị, phụ tùng, phụ kiện, hàng dệt may... hàng năm đem về cả trăm tỷ USD, nhưng giá trị gia tăng rất thấp do công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển. Có thể thấy, nguyên nhân quan trọng nhất là chính sách, mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng để cung cấp cho sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh chưa rõ ràng, chưa có trọng tâm, trọng điểm.

Đồng quan điểm này, chị Lê Minh Ánh, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại da giày Minh Ánh chia sẻ, hiện nay Nhà nước đã có nhiều chính sách cởi mở tháo gỡ khó khăn trong việc hỗ trợ tiền thuê đất, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn... Nhưng những quy định tạo sự gắn kết giữa doanh nghiệp và cơ quan nhà nước vẫn còn thiếu.

Ông Nguyễn Hoàng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ Hà Nội cho rằng, để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp trong nước cần chú trọng đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, tìm hướng tiếp cận các doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia để tìm hiểu yêu cầu của đối tác và “đầu ra” cho sản phẩm. Để làm được việc này, rất cần có các chương trình xúc tiến, trong đó chính quyền vừa là cầu nối, vừa là cơ quan giám sát việc thực hiện quá trình kết nối...

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ Hà Nội, Việt Nam hiện chỉ có khoảng 0,3% trong tổng số gần 500.000 doanh nghiệp tham gia vào sản xuất chế tạo cho ngành công nghiệp hỗ trợ và cũng chỉ dừng ở gia công chế tạo các sản phẩm đơn giản, giá trị gia tăng thấp... Đến nay, tỷ lệ nội địa hóa của ngành chế tạo ô tô chỉ đạt 5-20%; ngành điện tử 5-10%; ngành da giày khoảng 30%... 

Trong khi đó, phát triển sản phẩm công nghiệp hỗ trợ được xem là chìa khóa để phát triển sản xuất công nghiệp cho nên Hà Nội cần đưa ra các cơ chế chính sách sát với thực tiễn, có trọng tâm, trọng điểm và cụ thể rõ ràng hơn trong thời gian tới để trợ giúp nhiều hơn cho các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nói riêng và ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung phát triển. Bên cạnh đó, để có thể nâng tầm doanh nghiệp cũng như ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, thì việc hỗ trợ tài chính trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ là yếu tố vô cùng quan trọng.

Về phía các doanh nghiệp phụ trợ muốn trở thành nhà cung ứng cho các doanh nghiệp nước ngoài thì các doanh nghiệp Việt Nam phải bảo đảm sự đầu tư về công nghệ, cũng như chất lượng nguồn nhân lực. Để đáp ứng được yêu cầu của phía đối tác nước ngoài, Nhà nước, các hiệp hội và bản thân doanh nghiệp cần chú ý nhiều hơn nữa đến vấn đề này. Doanh nghiệp “nội” cần chú trọng đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh, tìm hướng tiếp cận các doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia để tìm hiểu yêu cầu của đối tác và “đầu ra” cho sản phẩm...

Nguồn: Báo Quảng Ninh

 

 
Sở Công Thương Quảng Ninh thẩm định chương trình, đề án khuyến công địa phương năm 2018

Sáng ngày 30/5/2018, Hội đồng thẩm định đề án khuyến công - Sở Công Thươngđã phối hợp với TT Khuyến công và Tư vấn PTCN tổ chức họp thẩm định các đề án khuyến công địa phương năm 2018. Cuộc họp do ông Phạm Quang Thái – Phó Giám đốc Sở Công thương, Chủ tịch HĐTĐ chủ trì. Tham gia cuộc họp có đại diện Sở Tài chính, các thành viên trong HĐTĐ và chủ các đề án đăng ký hỗ trợ khuyến công năm 2018.


Tại buổi làm việc, Hội đồng đã tiến hành thẩm định 18 đề án đề nghị được hỗ trợ kinh phí từ nguồn kinh phí khuyến công địa phương năm 2018. Sau khi nghe chủ đề án báo cáo nội dung đề án cùng ý kiến của đại diện các phòng Kinh tế, Kinh tế và Hạ tầng, Hội đồng thẩm định đã có ý kiến tham gia trực tiếp với từng đề án và nhất trí đề xuất hỗ trợ kinh phí khuyến công cho 16 đề án . Trong đó, tập trung vào các nội dung: Nhóm 10 đề án do cơ sở công nghiệp nông thôn thực hiện, với mức đề xuất hỗ trợ là 880 triệu đồng và nhóm các đề án do Trung tâm Khuyến công và Tư vấn PTCN thực hiện,với mức đề xuất hỗ trợ là 557 triệu đồng.

Hội đồng thẩm định cũng yêu cầu các chủ đề án nhanh chóng hoàn chỉnh đề án trước khi Sở Công Thương trình Sở Tài chính xem xét, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phân khai chi tiết kinh phí thực hiện.

TTKC&TVPTCN

 
Hoạt động khuyến công: Hướng tới hỗ trợ trọng tâm, trọng điểm

Chương trình khuyến công quốc gia sẽ tăng cường hỗ trợ có trọng tâm trọng điểm, tập trung vào các lĩnh vực, ngành nghề có lợi thế ở địa phương nhằm phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt động, đồng thời góp sức cùng các địa phương hoàn thành kế hoạch kinh tế-xã hội giai đoạn đến năm 2020.


Hoạt động khuyến công trên cả nước luôn bám sát mục tiêu, kế hoạch của chương trình khuyến công từng giai đoạn. Việc triển khai các chương trình, đề án tại các địa phương đã hỗ trợ cho các cơ sở công nghiệp nông thôn (CNNT) đầu tư máy móc thiết bị tiên tiến để mở rộng sản xuất, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu và năng lượng, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

HĐKC huong den trong tam

Ngành nghề được hỗ trợ đều gắn trực tiếp với nguồn nguyên liệu, lao động tại địa phương, nên góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng cao được năng lực cạnh tranh của sản phẩm; hoạt động đào tạo nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp không những giúp cho cơ sở CNNT chủ động về nguồn lao động có chất lượng mà còn tạo việc làm, thu nhập cho nhiều lao động nông thôn… Việc triển khai thực hiện hiệu quả các đề án khuyến công được đánh giá đã tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế - lao động ở nông thôn, phù hợp với hướng chuyển dịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất đối với việc triển khai các hoạt động khuyến công hiện nay là các đối tượng thụ hưởng hỗ trợ đa phần là cơ sở sản xuất và doanh nghiệp siêu nhỏ, hoạt động manh mún, tiềm lực tài chính hạn chế nên rất khó khăn trong việc đổi mới, ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến, hiện đại, công nghệ cao vào sản xuất. Có nhiều sản phẩm của các cơ sở CNNT làm ra chưa theo kịp với nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng; thị trường tiêu thụ chưa chủ động, nhất là xuất khẩu. Số lượng cơ sở CNNT nhiều, nguồn kinh phí hỗ trợ còn hạn chế nên cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác khuyến công. Bên cạnh đó, các văn bản chính sách trong lĩnh vực khuyến công mặc dù đã được bổ sung, sửa đổi vẫn chưa theo kịp với yêu cầu thực tế. Công tác khảo sát nhu cầu cũng như tiếp cận các cơ sở CNNT còn hạn chế do đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến công thiếu.

Thực hiện Nghị quyết số 35/2016/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, trong đó Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động khuyến công để tạo điều kiện, hỗ trợ cho các cơ sở CNNT mở rộng, phát triển sản xuất, kinh doanh hiệu quả. Theo đó, trên cơ sở các ngành nghề được hưởng hỗ trợ quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP về khuyến công, các địa phương xây dựng, đăng ký đề án khuyến công theo hướng hỗ trợ có trọng tâm trọng điểm nhằm tạo bước chuyển rõ rệt cho sự phát triển. Tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành phố và liên kết giữa các khu vực để trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động khuyến công nhằm phát huy được thế mạnh của mỗi địa phương và khai thác hiệu quả tiềm năng lợi thế của cả vùng.

Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động khuyến công, Cục Công Thương địa phương cùng với các địa phương đã, đang triển khai xây dựng và tổ chức thí điểm một số đề án khuyến công quốc gia mang tính trọng tâm, trọng điểm, có sự lan tỏa lớn. Cùng với tăng cường liên kết giữa các tỉnh, thành phố và liên kết giữa các khu vực, tận dụng tiềm năng, lợi thế của địa phương, vùng, nhằm tạo ra những phát triển đột phá mới, đóng góp hiệu quả vào việc hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Chính phủ đã đề ra.

Nguồn: http://arid.gov.vn/

 
Hướng dẫn mới về lập, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công

Ngày 28/3/2018, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hànhThông tư số 28/2018/TT-BTC hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công theo quy định tại Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21/5/2012 của Chính phủ về khuyến công. 

 


Theo đó, đối tượng áp dụng của Thông tư bao gồm các tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư, sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại huyện, thị xã, thị trấn, xã và các phường thuộc thành phố loại 2, loại 3, các phường thuộc thành phố loại 1 được chuyển đổi từ xã chưa quá 05 năm, bao gồm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn. Tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia công tác quản lý, thực hiện các hoạt động dịch vụ khuyến công...

Nội dung chi hoạt động khuyến công bao gồm: Chi cho đào tạo nghề, truyền nghề ngắn hạn, gắn lý thuyết với thực hành theo nhu cầu của các cơ sở công nghiệp nông thôn; đào tạo thợ giỏi, nghệ nhân tiểu thủ công nghiệp; hỗ trợ hoạt động tư vấn, tập huấn, đào tạo, hội thảo, diễn đàn; đào tạo khởi sự doanh nghiệp; thành lập doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nông thôn; mở rộng thị trường tiêu thụ, xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nông thôn; chuyển giao công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp…

Mức chi chung của hoạt động biên soạn chương trình, giáo trình, tài liệu đào tạo về khuyến công và giới thiệu, hướng dẫn kỹ thuật, phổ biến kiến thức, nâng cao năng lực áp dụng sản xuất sạch hơn áp dụng theo Thông tư số 123/2009/TT-BTC ngày 17/6/2009 của Bộ Tài chính; Chi tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề áp dụng theo Thông tư số 152/2016/TT-BTC ngày 17/10/2016 của Bộ Tài chính; Chi tổ chức hội nghị, hội thảo, tập huấn và diễn đàn áp dụng theo Thông tư số 40/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 của Bộ Tài chính…

Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 11/5/2018 và thay thế Thông tư Liên tịch số 26/2014/TTLT-BTC-BCT ngày 18/02/2014 của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương hướng dẫn trình tự lập, quản lý, sử dụng kinh phí khuyến công quốc gia và kinh phí khuyến công địa phương.

TTKC&TVPTCN Quảng Ninh

 
« Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối »

Trang 1 trong tổng số 17

Hình ảnh hoạt động

  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow
  • An Image Slideshow

Dành cho quảng cáo



Thống kê Website

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay38
mod_vvisit_counterHôm qua341
mod_vvisit_counterTrong tuần2102
mod_vvisit_counterTuần trước423
mod_vvisit_counterTrong tháng3838
mod_vvisit_counterTháng trước419
mod_vvisit_counterLượt truy cập thứ343975

Khách trực tuyến: 10
IP của bạn: 173.245.54.54
Hôm nay 21 tháng 10 năm 2018